Chương 1: Cơ sở lí luận về huy động các NLCĐ trong phát triển hoạt động Đoàn cấp huyện. Chương 2: Thực trạng biện pháp huy động các NLCĐ trong phát triển hoạt động Đoàn ở huyện Đầm Hà, tỉnh Quảng Ninh. Chương 3: Biện pháp huy động các NLCĐ trong phát triển hoạt động Đoàn ở huyện Đầm Hà, tỉnh Quảng Ninh. 6 Chƣơng 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VỀ HUY ĐỘNG CÁC NGUỒN LỰC CỘNG ĐỒNG TRONG PHÁT TRIỂN HOẠT ĐỘNG ĐOÀN 1.
Sơ lƣợc lịch sử nghiên cứu vấn đề 1. Trên thế giới Nghiên cứu về thế hệ thanh niên và phát triển thanh niên là vấn đề quan tâm của tất cả các Nhà nước trên thế giới. Đâycũng là vấn đề được các nhà hoạt động xã hội, các nhà khoa học quan tâmnghiên cứu. Khi bàn về thanh niên, Mác viết: “Những công nhân tiên tiến ý thức một cách đầy đủ rằng, tương lai của giai cấp họ, qua đó cũng là tương lai của cả loài người phụ thuộc hoàn toàn vào nhiệm vụ giáo dục thế hệ công nhân trẻ”[2,tr.
Ăngghen đã chỉ ra rằng thanh niên không thể đứng ngoài chính trị, điều đó đòi hỏi phải tổ chức họ lại, “Họ là đạo quân xung kích của giai cấp vô sản quốc tế và đội hậu bị của Đảng”[2,tr. Và tổ chức thanh niên cộng sản chính là tổ chức giúp Đảng tập hợp, giáo dục thanh niên, là trường học cộng sản chủ nghĩa của thanh niên, là tổ chức đại diện bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của thanh niên thông qua việc tham gia vào quá trình quản lý nhà nước khi chính quyền thuộc về những người cộng sản. Phát triển tư tưởng của Mác và Ăngghen về vai trò của thanh niên và vị trí, vai trò của tổ chức Đoàn, V.Lênin (1870 - 1924) cho rằng thanh niên là sinh lực chiến đấu của Đảng. Người viết: “Người ta quan sát thấy thanh niên công nhân một khát vọng nồng cháy không gì kìm hãm được sự vươn lên lý tưởng dân chủ và chủ nghĩa xã hội.
Sớm muộn thanh niên sẽ đến với chủ nghĩa xã hội nhưng bằng con đường khác với cha anh họ”[21, tr.Tại Đại hội lần thứ III của Đoàn TNCS Nga, Lênin đã chỉ rõ: “Các đồng chí phải tự tiến hành giáo dục thành những người cộng sản…Đoàn thanh niên cộng sản 7 phải là một đội xung kích, một đội ngũ mà ở đó mọi đoàn viên đều có tinh thần chủ động và quyết tâm cao”[21, tr. Cần xây dựng tổ chức Đoàn thực sự vững mạnh để hoàn thành những nhiệm vụ đó.K Cơrúpxkaia (1869 - 1939) - là nhà hoạt động chính trị xuất sắc của Đảng và Nhà nước Xô Viết vừa là một nhà tâm lí học, giáo dục học có những đóng góp kiệt xuất cả về lý luận lẫn thực tiễn, bà đã phân tích rất sâu sắc ý nghĩa của lao động, đặc biệt quan tâm tới vai trò của giáo dục của tổ chức thanh niên, Đội thiếu niên. Bà là người xây dựng nền móng lý luận giáo dục tập thể, là một trong những người sáng lập tổ chức Đoàn, Đội trong nhà trường Xô Viết., bà coi trọng “giáo dục qua các hình thức hoạt động tập thể như tham quan du lịch, cắm trại, lao động hè ở các nông lâm trường kết hợp với sinh hoạt văn hoá nghệ thuật” [32]. Ở Việt Nam Vấn đề xây dựng Đoàn vững mạnh để thực hiện tốt chức năng, nhiệm vụ của mình luôn được Đảng quan tâm và đã được xác định trong nhiều văn kiện của Đảng.
Nghị quyết số 26-NQ/TƯ ngày 1 tháng 7 năm 1985 của Bộ Chính trị Ban chấp hành Trung ương Đảng (Khóa V) về “Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác thanh niên” đã xác định: “Các cấp ủy Đảng trực tiếp chăm lo xây dựng Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh vững mạnh về chính trị, tư tưởng và tổ chức để Đoàn thực sự là đội quân xung kích cách mạng, là đội dự bị chiến đấu của Đảng, là trường học cộng sản chủ nghĩa của thanh niên. Nghị quyết Hội nghị lần thứ tư Ban chấp hành Trung ương Đảng (Khóa VII) nhấn mạnh: “Xây dựng Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh vững mạnh về chính trị, tư tưởng và tổ chức, thực sự là đội dự bị tin cậy của Đảng, là hạt nhân chính trị của phong trào thanh niên”[9, tr. Vấn đề xây dựng Đoàn TNCS Hồ Chí Minh thực sự vững mạnh không chỉ xuất phát từ lý luận, nhận thức về vai trò, vị trí của thanh niên, của tổ chức cách mạng 8 của thanh niên, mà còn xuất phát từ đòi hỏi của thực tiễn đấu tranh cách mạng. Chỉ có một tổ chức cách mạng của thanh niên thực sự vững mạnh cả về chính trị, tư tưởng và tổ chức mới có thể hoàn thành nhiệm vụ xung kích cách mạng, đội dự bị bổ sung lực lượng cho Đảng.
Tại Đại hội Đoàn toàn quốc lần thứ IX, đồng chí Tổng Bí thư Nông Đức Mạnh đã chỉ rõ: xây dựng Đoàn là xây dựng Đảng đi trước một bước. Cùng với việc coi trọng xây dựng Đoàn vững mạnh, Đảng cũng coi trọng việc xây dựng, củng cố và mở rộng mặt trận đoàn kết, tập hợp thanh niên. Văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ X đã khẳng định: "Thu hút rộng rãi thanh niên, thiếu niên và nhi đồng vào các tổ chức do Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh làm nòng cốt và phụ trách". Nghị quyết Hội nghị lần thứ 4 Ban chấp hành trung ương Đảng (Khóa VII) về công tác thanh niên cũng khẳng định: "… mở rộng và củng cố mặt trận đoàn kết, tập hợp thanh niên"[9, tr.
Xây dựng và củng cố mặt trận tập hợp, đoàn kết thanh niên do Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí minh làm nòng cốt là một quan điểm sáng tạo, độc đáo của Đảng Cộng sản Việt Nam về công tác thanh niên, phù hợp với đặc điểm, điều kiện của cách mạng nước ta; có ý nghĩa to lớn củng cố tính bền vững của khối Đại đoàn kết toàn dân tộc. Có thể nói rằng Hồ Chí Minh luôn coi trọng việc xây dựng tổ chức Đoàn thanh niên cộng sản vững mạnh làm tròn nhiệm vụ là cánh tay, đội hậu bị của Đảng và việc xây dựng mặt trận đoàn kết, tập hợp thanh niên. Một nội dung quan trọng trong tư tưởng Hồ Chí Minh về thanh niên và công tác thanh niên là phải tổ chức thanh niên thành lực lượng chính trị hùng hậu xung quanh Đảng. Tổ chức, tập hợp thanh niên là tạo điều kiện, môi trường để giáo dục và ngược lại, phải tiến hành đào tạo, giáo dục thanh niên thông qua tổ chức.
Năm 1951, Người giải thích về ý nghĩa của huy hiệu Đoàn: “Huy hiệu của thanh niên là tay cầm cờ đỏ 9 sao vàng tiến lên”, “Ý nghĩa của nó là phải xung phong, gương mẫu trong công tác, trong học hỏi, trong tiến bộ, trong đạo đức cách mạng”[20]. Như vậy, tính chất của tổ chức Đoàn được Người khẳng định rất rõ: xung phong, gương mẫu. Hồ Chí Minh rất quan tâm đến việc phát triển Đoàn và xây dựng tổ chức Đoàn vững mạnh. Trong việc phát triển Đoàn, Người chú trọng cả số lượng và đặc biệt là chất lượng đoàn viên.
Tháng 2-1961, Người nói: “Tổ chức Đoàn phải rộng hơn Đảng… cố nhiên khi kết nạp đoàn viên cần phải lựa chọn cẩn thận những thanh niên tốt”[20, tr. Tư tưởng về đoàn kết dân tộc là một tư tưởng lớn của Hồ Chí Minh. Trong các bài viết và bài nói chuyện của Người đã nhiều lần nhấn mạnh về vấn đề đoàn kết trong đảng, đoàn kết dân tộc, đoàn kết tôn giáo, đoàn kết mọi tầng lớp nhân dân Việt Nam, đoàn kết với nhân dân lao động và các lực lượng tiến bộ trên thế giới. Hầu như ai cũng nhớ câu nói của Người: "Đoàn kết, đoàn kết, đại đoàn kết, thành công, thành công, đại thành công".
Trong khối đại đoàn kết dân tộc, đoàn kết, tập hợp thanh niên là một nhiệm vụ quan trọng mà Hồ Chí Minh luôn căn dặn phải thực hiện cho tốt. Ngay đầu năm 1946, theo chỉ thị của Người, mặt trận đoàn kết, tập hợp thanh niên do Đoàn Thanh niên Cứu quốc làm nòng cốt đã được thành lập, lấy tên là Tổng Liên đoàn thanh niên Việt Nam (sau đổi tên là Liên đoàn thanh niên Việt Nam, tiền thân của Hội Liên hiệp Thanh niên Việt Nam ngày nay). Tại Đại hội Đoàn toàn quốc lần thứ II (1956), Người dạy: “Phải củng cố tổ chức Đoàn, phải đoàn kết nội bộ thất chặt chẽ và phải đoàn kết rộng rãi với các tàng lớp thanh niên””[20, tr. Hồ Chí Minh coi việc củng cố tổ chức Đoàn là điều kiện hàng đầu để mở rộng mặt trận đoàn kết các tầng lớp thanh niên.
Người nói: “muốn đoàn kết thì tất cả cán bộ, đoàn viên phải giữ vững đạo đức cách mạng, phải khiêm tốn, cần cù, hăng hái, dũng cảm…, phải xung phong trong mọi công tác chứ không xa rời quần chúng”[20, tr. 10 Quan nghiên cứu tổng quan của đề tài, chúng tôi thấy rằng: Phát triển hoạt động đoàn là vấn đề có ý nghĩa quan trọng đối với sự phát triển của các thế hệ thanh niên nói riêng và sự phát triển kinh tế - văn hóa - xã hội nói chung. Vấn đề này đã nhận được nhiều sự quan tâm của Nhà nước và các nhà nghiên cứu. Tuy nhiên, cho đến nay, theo hiểu biết của tác giả luận văn, chưa có một công trình nghiên cứu nào về “Huy động các NLCĐ trong phát triển hoạt động Đoàn ở huyện Đầm Hà, tỉnh Quảng Ninh”.
Một số khái niệm cơ bản của đề tài 1. Nguồn lực, cộng đồng, nguồn lực cộng đồng * Nguồn lực Nguồn lực: Nơi bắt đầu, nơi phát sinh và cung cấp vật chất và tinh thần, nguồn gốc của sức mạnh để có thể tạo nên một tác động nhất định. Nguồn lực là tổng thể vị trí địa lý, tài nguyên thiên nhiên, hệ thống tài sản quốc gia, hệ thống chính trị, nguồn nhân lực, vốn và thị trường ở cả trong và ngoài nước có thể được khai thác nhằm phục vụ cho việc phát triển kinh tế của một vùng lãnh thổ nhất định. Căn cứ vào tính chất, hình thức biểu hiện có thể phân biệt hai loại nguồn lực sau đây: Nguồn lực vật chất: như quỹ đất, vị thế địa lý, cơ sở hạ tầng, các nguồn vốn tài chính, các nguyên vật liệu và các tiềm năng kinh tế … Nguồn lực phi vật chất: bao gồm có con người, sự vững mạnh và ổn định của hệ thống chính trị, những thành quả về kinh tế, chính trị văn hóa xã hội và giáo dục, những chủ trương giải pháp, sự đồng tình ủng hộ của người dân, các tổ chức đoàn thể với giáo dục, trình độ nhận thức của dân trí, kho tàng quý báu về kinh nghiệm làm giáo dục.