Chương 1: Cơ cở lý luận về việc huy động các lực lượng xã hội tham gia giáo dục kỹ năng sống cho học sinh THCS Chương 2: Thực trạng về huy động các lực lượng xã hội tham gia giáo dục kỹ năng sống cho học sinh các trường THCS huyện Đầm Hà, tỉnh Quảng Ninh. Chương 3: Biện pháp huy động các lực lượng xã hội tham gia giáo dục kỹ năng sống cho học sinh các trường THCS huyện Đầm Hà, tỉnh Quảng Ninh. 7 CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ VIỆC HUY ĐỘNG CÁC LỰC LƢỢNG XÃ HỘI THAM GIA GIÁO DỤC KỸ NĂNG SỐNG CHO HỌC SINH TRUNG HỌC CƠ SỞ 1. Lịch sử nghiên cứu của đề tài Ngày nay nhu cầu về quản lý ngày càng phát triển gắn với tiến trình lịch sử của nhân loại trở thành các quan điểm, tư tưởng quan trọng đối với các nhà triết học, chính trị dưới các chế độ khác nhau ngay từ thời kỳ chiếm hữu nô lệ ở các quốc gia phương Tây cũng như phương Đông.
Tiêu biểu cho phương Đông, trong nhà nước Trung Hoa cổ đại có Khổng Tử (551 - 479 TCN), Mạnh Tử (372 - 289 TCN), Thương Ưởng (390- 338 TCN) đã nêu lên tư tưởng quản lý "Đức trị, Lễ trị" lấy chữ Tín làm đầu. Bởi vì:"dân không tín thì chính quyền sẽ đổ". Những tư tưởng quản lý đó đã có ảnh hưởng khá lâu dài đối với một số nước phương Đông chịu ảnh hưởng Nho giáo trong xã hội phong kiến được phát triển từ thấp đến cao, từ vĩ mô đến vi mô:"chính tâm, tu thân, tề gia, trị quốc, bình thiên hạ".Ăng ghen (1820-1895) - Người sáng lập ra học thuyết Cách mạng XHCN và là ông tổ của nền giáo dục hiện đại.Mác cho rằng:"Tất cả mọi lao động xã hội trực tiếp hay lao động chung nào tiến hành trên quy mô tương đối lớn, thì ít nhiều cũng đều cần đến một sự chỉ đạo để điều hoà những hoạt động cá nhân và thực hiện những chức năng chung phát sinh từ sự vận động của toàn bộ cơ thể sản xuất khác với sự vận động của những khí quan độc lập của nó. Một người độc tấu vĩ cầm tự mình điều khiển lấy mình, còn một dàn nhạc thì cần phải có nhạc trưởng" [8].
Hai ông còn xác định mục đích của nền giáo dục XHCN là tạo ra: "con người phát triển toàn diện". Muốn vậy phải theo "phương thức giáo dục kết hợp với lao động sản xuất". Đây chính là phương thức giáo dục hiện đại. Lê nin (1870-1924) -Người phát triển học thuyết giáo dục xã hội chủ nghĩa của C.Ăng ghen đã đưa ra quan điểm: Người Hiệu trưởng trong nhà trường XHCN không phải chỉ cần biết tổ chức việc dạy và học theo yêu cầu xã hội mà điều quan trọng hơn là phải biến nhà trường thành một "công cụ của chuyên chính vô sản"(Lê nin-Bàn về giáo dục).
- Vào những năm 60 - 70, đất nước Liên Xô đang trên con đường xây dựng CNXH, việc giáo dục con người phát triển toàn diện được Đảng và Nhà nước quan tâm. Các nghiên cứu về lý luận giáo dục nói chung và HĐGDNGLL nói riêng được đẩy mạnh. Trong cuốn sách "Tổ chức và lãnh đạo công tác giáo dục ở trường phổ thông", tác giả I.Marienco đã trình bày sự thống nhất của công tác giáo dục trong và ngoài giờ học, nội dung và các hình thức tổ chức HĐGDNGLL. Theo tác giả Phạm Minh Hạc:"Quản lý nhà trường (quản lý giáo dục nói chung) là thực hiện đường lối giáo dục của Đảng trong phạm vi trách nhiệm của mình, tức là đưa nhà trường vận hành theo nguyên lý giáo dục để tiến tới mục tiêu giáo dục, mục tiêu đào tạo đối với ngành giáo dục, với thế hệ trẻ và với từng học sinh"[14].
- Tác giả Phạm Minh Hà với nghiên cứu: "Thực trạng quản lý hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp ở trường THCS huyện Kiến Xương tỉnh Thái bình", đã khẳng định vai trò quan trọng của việc tổ chức HĐGDNGLL đối với việc nâng cao chất lượng trường THCS ở khu vực nông thôn như: bồi dưỡng nhận thức, năng lực cho đội ngũ GV; cải tiến công tác quản lý, hướng dẫn HĐGDNGLL; phối hợp các lực lượng tham gia…sẽ là các tác động tích cực để thúc đẩy HĐGDNGLL trong trường THCS ở khu vực nông thôn, nhằm xây dựng hình thành ở HS những năng lực, phẩm chất tốt nhất cho tương lai. - Tác giả Nguyễn Như Ý với nghiên cứu "Một số biện pháp quản lý hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp của Hiệu trưởng các trường THPT 9 huyện Phú Xuyên tỉnh Hà Tây trong giai đoạn hiện nay", đã khẳng định HĐGDNGLL với nội dung, hình thức phong phú sẽ là phương thức để thực hiện nguyên lý giáo dục của Đảng "Học đi đôi với hành". Nghiên cứu đã chỉ ra được một số biện pháp như: thành lập ban chỉ đạo, kế hoạch hoá HĐGDNGLL, kết hợp với các lực lượng, quy định tiêu chuẩn thi đua đối với việc tham gia tổ chức hoạt động của giáo viên,chỉ đạo tổ chuyên môn, khối chủ nhiệm tham gia tổ chức HĐGDNGLL. sẽ góp phần làm cho công tác quản lý chỉ đạo HĐGDNGLL của Hiệu trưởng được hoàn thiện hơn.
Thực tế đã có nhiều công trình nghiên cứu đã đề cập đến các khía cạnh khác nhau của HĐGDNGLL như vai trò, biện pháp quản lý, hình thức tổ chức trong nhà trường và ngoài nhà trường ở các bậc học khác nhau: giáo dục Mầm non, giáo dục Tiểu học, giáo dục THCS, giáo dục THPT, giáo dục Đại học. Thuật ngữ kỹ năng sống (KNS) bắt đầu xuất hiện trong nhà trường Việt Nam từ những năm 1995 – 1996, thông qua dự án “Giáo dục kỹ năng sống để bảo vệ sức khoẻ và phòng chống HIV/AIDS cho thanh thiếu niên trong và ngoài nhà trường” do quỹ nhi đồng liên hợp quốc (UNICEF) phối hợp với Bộ giáo dục và Đào tạo cùng Hội chữ thập đỏ Việt Nam thực hiện. Từ đó đến nay nhiều cơ quan, tổ chức trong nước và quốc tế đã tiến hành giáo dục KNS gắn với các vấn đề xã hội như: phòng chống ma tuý, phòng chống mại dâm, phòng chống buôn bán phụ nữ và trẻ em, phòng chống tai nạn thương tích, phòng chống tai nạn bom mìn, bảo vệ môi trường v. Giai đoạn 2 của chương trình được mang tên “Giáo dục sống khỏe mạnh và kỹ năng sống” với sự tham gia của ngành Giáo dục, Trung ương Đoàn Thành niên cộng sản Hồ Chí Minh, Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam.
Quan niệm về KNS cơ bản đối với từng nhóm đối tượng được vận dụng đa dạng hơn. Khái niệm KNS thực sự được hiểu với nội hàm đầy đủ và đa dạng sau hội thảo “Chất lượng giáo dục và kỹ năng sống” do tổ chức UNESCO tài 10 trợ được tổ chức từ ngày 23 đến 25/10/2003 tại Hà Nội. Từ đó những người làm công tác giáo dục ở Việt Nam hiểu đầy đủ hơn về KNS và trách nhiệm phải GDKNS cho người học. Năm học 2002 – 2003, Bộ Giáo dục và Đào tạo với sự hỗ trợ của tổ chức UNICEF đã xây dựng chương trình “Giáo dục sống khỏe mạnh và kỹ năng sống” cho học sinh THCS với 9 chủ đề giáo dục: HIV/AIDS, xâm hại tình dục, ứng phó với tình huống căng thẳng, quyền trẻ em, sống khỏe mạnh, thuốc lá rượu bia, ma túy, sức khỏe sinh sản vị thành niên, các bệnh lây qua đường tình dục.
Chương trình đã được thực nghiệm ở một số nơi như Văn Lãng, Cao Lộc (Lạng Sơn), Đồ Sơn (Hải Phòng), Đống Đa, Hoàn Kiếm, Thanh Xuân (Hà Nội), Hóc Môn, Thủ Đức, Nhà Bè (TP Hồ Chí Minh) và một số nơi khác. Ngoài các chương trình dự án do Bộ Giáo dục, Bộ Y tế, Đoàn thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh, Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam. thực hiện, còn có một số tổ chức quốc tế đang triển khai chương trình GDKNS tại Việt Nam như Qũy Dân số Thế giới của Hà Lan (WPF), Qũy Nhi đồng Mỹ (Save the childrent US), Tổ chức Cứu trợ trẻ em Anh (SCUK), Quy Nhi đồng Nhật (Save the Childrent Japan) tại Việt Nam, Qũy nhi đồng Úc (CCF Australia). Các chương trình dự án trên khá đa dạng nhưng chủ yếu tập trung vào “các nhóm yếu thế và nhóm có nguy cơ cao”.
Nội dung GDKNS đã tính đến sự phù hợp với đối tượng, vùng và địa phương. Các tác giả Phạm Văn Sơn, Trần Đình Châu (2013) với bài nghiên cứu: Xây dựng xã hội học tập và phát triển nguồn nhân lực tại Hội thảo khoa học quốc tế: Xây dựng xã hội học tập trong giai đoạn hội nhập và phát triển kinh tế do Ban Chỉ đạo Quốc gia xây dựng xã hội học tập và UNESCO VN tổ chức tại Hà Nội. Trong các giải pháp đẩy mạnh xây dựng xã hội học tập có giải pháp Huy động các lực lượng xã hội trong xây dựng xã hội học tập và phát triển nguồn nhân lực. Tác giả Nguyễn Kiều Duyên với đề tài: Quản lý hoạt 11 động giáo dục KNS cho học sinh THCS thành phố Hà Nội”.
Tác giả đã đề cập đến vai trò và sự cần thiết phải giáo dục KNS cho học sinh THCS trong bối cảnh hội nhập. Trong các biện pháp quản lý GDKNS cho học sinh tác giả đề cập biện pháp quan trọng là huy động các lực lượng xã hội tham gia giáo dục kỹ năng sống cho học sinh THCS trên địa bàn. Tác giả Đỗ Phí Sơn với bài: Huy động các nguồn lực nhằm đẩy mạnh xã hội hóa giáo dục mầm non ở huyện Măng Thít, tỉnh Vĩnh Long. Nội dung bài viết đề cập đến tầm quan trọng của việc huy động nguồn lực xã hội, thực trạng huy động nguồn lực xã hội và các biện pháp huy động nguồn lực xã hội nhằm đẩy mạnh xã hội hóa giáo dục mầm non trên địa bàn.
Như vậy, đã có không ít các tác giả nghiên cứu về vấn đề GDKNS nhưng ở nhiều khía cạnh khác nhau, song về góc độ hoạt động huy động các lượng lượng xã hội tham gia GDKNS ở trường THCS là chưa được đề cập có hệ thống, đặc biệt chưa có công trình nào nghiên cứu vấn đề này tại huyện Đầm Hà tỉnh Quảng Ninh. Một số khái niệm nghiên cứu đề tài 1. Khái niệm về kỹ năng, kỹ năng sống, giáo dục kỹ năng sống 1. Khái niệm về kỹ năng Kỹ năng là năng lực của chủ thể thực hiện thuần thục một hay một chuỗi hành động trên cơ sở hiểu biết nhằm tạo ra kết quả mong đợi.
Vídụ: Một người có khả năng giao tiếp có hiệu quả trong mọi tình huống mà không cần ai khuyến khích, nhắc nhở được gọi là người có kỹ năng giao tiếp. Kỹ năng sống là tất cả những kỹ năng cần có giúp người ta học tập, làm việc có hiệu quả hơn, sống tốt hơn. Có hàng trăm kỹ năng sống khác nhau.