CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN 1.1 Một số khái niệm: 1.1 Khái niệm học sinh: Theo từ điển Tiếng Việt của “Viện ngôn ngữ học”: Học sinh là người học trong các nhà trường. Là người học trong các trường phổ thông dạy nghề trung học chuyên nghiệp. Học sinh trong trường cao đẳng, đại học là sinh viên. Học sinh các trường trung học và cao đẳng sư phạm là giáo sinh.
Từ học sinh còn được dùng để chỉ người đi học một nghề nào đó. (theo từ điển Bách khoa Việt Nam) Theo từ điển của tác giả Bùi Gia Tịnh thì “học sinh là những người đi học ở trường phổ thông” Tác giả Nguyễn Văn Đạm cho rằng: “học sinh là trẻ em đi học ở trường phổ thông” Các khái niệm này điều không phân biệt học sinh tiểu học, trung học cơ sở hay trung học phổ thông, đặc điểm tâm sinh lý hay độ tuổi đến trường .2 Khái niệm học sinh trung học phổ thông: Theo từ điển của Viện Ngôn Ngữ học “là cấp học cao nhất trong bậc trung học, từ lớp 10 đến lớp 12” Học sinh lớp 12 là lớp cuối cùng của bậc phổ thông trung học. Đây có thể nói là thời kì có rất nhiều biến chuyển cả về đặc điểm tâm sinh lí cũng như điều kiện xã hội, là người chiếm vị trí trung gian giữa trẻ em và người lớn. Ở độ tuổi này vai trò xã hội của các em thay đổi một cách cơ bản: vai trò độc lập và mức độ trách nhiệm trong gia đình, xã hội càng lớn: gia nhập đoàn thanh niên, trở thành một công dân, người con lớn trong gia đình.
Quyền lợi pháp luật của các em cũng được xã hội quy định rõ ràng: quyền bầu cử, quyền kết hôn. Chính vì vậy mà các em đã có trách nhiệm thực sự trước xã hội. 10 Tuy nhiên do những đặc điểm tâm lí của lứa tuổi cũng như điều kiện xã hội ngày càng hiện đại nên vai trò xã hội của các em phụ thuộc vào nhiều yếu tố, chính vì thế tính không xác định về địa vị xã hội của thanh niên lứa tuổi này thường xảy ra: trong điều kiện hoàn cảnh này được coi là người lớn nhưng trong điều kiện hoàn cảnh khác lại bị xem là trẻ con (còn đi học phụ thuộc kinh tế .) điều này khiến các em không thích và ngày càng muốn khẳng định mình. Ở tuổi PTTH nói chung và lớp 12 nói riêng, đối với mỗi người đều có ý nghĩa hết sức đặc biệt, đây chính là thời điểm “giao thời”: kết thúc tuổi học sinh trở thành một sinh viên hoặc học nghề và bắt đầu lao động sản xuất.
Chính vì những lí do trên mà việc định hướng, chọn nghề là một công việc hết sức quan trọng đối với học sinh PTTH.3 Khái niệm học sinh THPTDTNT: Là học sinh con em các dân tộc thiểu số được học trong các trường THPTDTNT.4 Khái niệm trường THPT: Theo Từ điển Bách khoa toàn thư: “Là cấp học cuối của bậc học phổ thông, nhận học sinh tốt nghiệp trung học cơ sở. Học sinh học hết chương trình trung học phổ thông được dự thi tốt nghiệp, nếu đạt yêu cầu và đủ điều kiện được cấp bằng tốt nghiệp trung học phổ thông, được gọi là bằng tú tài.5 Khái niệm trường THPTDTNT: Theo Luật Giáo dục năm 2005, nhà xuất bản chính trị quốc gia: “ nhà nước thành lập trường phổ thông DTNT cho con em các dân tộc thiểu số định cư tại vùng nhằm góp phần tạo nguồn đào tạo cán bộ cho vùng này, trường được ưu tiên bố trí giáo viên, cơ sở vật chất, thiết bị và ngân sách”. Trường đào tạo con em dân tộc thiểu số theo chủ trương của Đảng, Nhà nước và Bộ Giáo Dục Đào Tạo. Việc thành lập trường THPTDTNT (cấp Tỉnh và Huyện) nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho việc học hành, đi lại cho các em, cấp học 11 bổng, chăn màn, quần áo, sách vở, tài liệu học tập để động viên khuyến khích các em ôn luyện kiến thức tạo điều kiện luyện tập thể dục thể thao, sinh hoạt văn nghệ.
Từ đó chú ý phát triển tài năng trẻ cho đồng bào dân tộc thiểu số.Chính hình thức nuôi dưỡng, đào tạo này đã cung cấp số lượng lớn học sinh tốt nghiệp THPT bước vào các trường dự bị Đại Học và Cao Đẳng, Đại Học các ngành trong nước.6 Khái niệm giáo dục: Theo Từ điển Tiếng Việt: “giáo dục là hoạt động tác động một cách có hệ thống đến sự phát triển tinh thần thể chất của một đối tượng nào đó nhằm cho đối tượng đó dần dần có được những phẩm chất năng lực của yêu cầu đề ra”.7 Khái niệm hướng nghiệp: Là hệ thống các biện pháp giúp con người lựa chọn và xác đinh nghề nghiệp của bản thân cho cuộc sống tương lai trên cơ sở kết hợp nguyện vọng, sở trường của cá nhân với nhu cầu xã hội. Hướng nghiệp là một khái niệm chung trong một lĩnh vực văn hoá xã hội thực hiện dưới hình thức quan tâm của xã hội và tạo nghề cho thế hệ đang lớn lên, hỗ trợ và phát triển những thiên hướng và thực hiện đồng bộ các biện pháp chuyên môn tác động đến con người trong việc tự xác định nghề, lựa chọn tối ưu để có việc làm, có tính đến nhu cầu và năng lực của con người kết hợp với hoàn cảnh kinh tế xã hội và thị trường lao động. Trong các phương hướng hướng nghiệp quan trọng: Thông tin nghề: Là giới thiệu cho các nhóm khác nhau về những loại hình sản xuất, tình hình thị trường lao động, những yêu cầu nhân lực thạo nghề của mọi ngnh kinh tế, nội dung và triển vọng phát triển của thị trường nghề nghiệp, những cách tiếp cận và những yêu cầu do các ngành đòi hỏi đối với con người. Những khả năng tăng cường và tự hoàn thiện trình độ nghề nghiệp trong quá trình hoạt động lao động.
12 Định hướng nghề: Giúp con người tự xác lập nghề nghiệp để đi tới quyết định một cách có ý thức trong việc lựa chon con đường nghề nghiệp phù hợp với những đặc điểm tâm lý và khả năng của mình với những yêu cầu của xã hội. Tư vấn nghề: Là dưa ra những lời khuyên cho con người dựa trên cơ sở xem xét mối quan hệ giữa đặc điểm của nghề phù hợp với những đặc điểm tâm sinh lý, thể chất dựa trên những kết quả chuẩn đoán về tâm sinh lý, y tế. Tuyển chọn nghề: Xác định mức độ đòi hỏi, tiêu chuẩn cụ thể của nghề. Hướng nghiệp có hai nhiệm vụ cơ bản : đó là tìm một nghề phù hơp với những kỹ năng của cá nhân và thoả mãn nhu cầu năng lực cho tất cả lĩnh vực nghề nghiệp Đem đến cho cá nhân những thông tin đầy đủ về những yêu cầu, những sự thoả mãn, những khó khăn của mỗi một nghề mà bạn quan tâm.
Trong công tác hướng nghiệp ở trường phổ thông có ý ngghĩa hết sức quan trọng, nó là bước khởi đầu của quá trình phát triển nguồn nhân lực. Thông qua việc dạy học chúng ta có thể hình thành ở các em sự hứng thú, phát triển năng khiếu, làm quen dần với các nghề cơ bản trong xã hội, giúp các em có thể tự trả lời câu hỏi: Nghề nào đang phát triển nhất, những điều kiện vào nghề và học nghề. Người hướng nghiệp sẽ hướng dẫn sự phát triển hứng thú của các em trên cơ sở phân tích những đặc điểm, những điều kiện hoàn cảnh riêng của từng em một. Một đặc điểm tâm lý hết sức quan trọng trong việc chọn nghề đó là hứng thú, giáo dục cho học sinh thái độ đúng đắn, ý thức tôn trọng lao động của cac ngầnh nghề khác nhau, ý thức tiết kiệm và bảo vệ của công.
Tóm lại, chúng ta phải hướng dẫn và chuẩn bị cho thế hệ trẻ sẵn sàng đi vào các ngành nghề và đất nước hay ở từng địa phương đang cần. Phải làm cho học sinh hiểu đựơc sự đòi hỏi, nhu cầu của thị trường lao động. Biết cách lựa chọn nghề trên cơ sở khoa học được làm quen với nghề để có hứng thú và thái độ đúng 13 đắn, yêu quý nghề và có tình cảm, thói quen lao động để tiến tới một nghề nghiệp ổn định. Phát triển kinh tế ở địa phương và xã hội.8 Khái niệm giáo dục hướng nghiệp: là một chuyên ngành nhỏ trong giáo dục nó là hoạt động tác động một cách có hệ thống, biện pháp nhằm đảm bảo sự phân bố tối ưu cho người học theo ngành, loại lao động, giúp đỡ lựa chọn hợp lý ngành nghề dựa trên những điều kiện về năng khiếu, năng lực sở thích của bản thân và xã hội.9 Khái niệm nghề nghiệp: là công việc làm theo sự phân công của xã hội.
Nghề trong xã hội hết sức đa dạng và những yêu cầu của nghề đặt ra trong xã hội cũng rất nhiều khác nhau. Nên khi chọn nghề chúng ta phải chú ý đến nhưng yêu cầu của nghề như thế nào. Xem nó có phù hợp với khả năng và sở thích của mình hay không. Như vạy chúng ta mới chọn được những nghề phù hợp với bản thân.
Có nghĩa là chúng ta có những phẩm chất tâm lý, sinh lý đáp ứng với yêu cầu cụ thể của nghề, hình thành nên những năng lực nghề, đạo đức, lương tâm và lý tưởng nghề nghiệp.2 Đặc điểm tâm sinh lý của học sinh THPT: 1.1 Đặc điểm sinh lý: Đây là giai đoạn chuyển từ tuổi thiếu niên sang đầu thanh niên nên có nhiều biến đổi về mặt tâm sinh lí và có nhiều yếu tố tác động hình thành các đặc điểm phát triển. Do đó có nhiều lí luận khác nhau về lứa tuổi thanh niên. Quan niệm sinh vật học coi yếu tố đầu tiên xác định tuổi thanh niên là sự tiến hóa của cơ thể, các quá trình sinh vật của sự trưởng thành quyết định tất cả mọi cái khác. Các lí luận tâm lí học tập trung xem xét những quy luật tiến hóa của tâm lí của ý thức là cái cơ bản quyết định sự phát triển.
Các nhà phân tâm học quan tâm nhiều nhất đến sự phát triển của tính dục và sự chi phối của nó đối với sự phát triển của lứa tuổi này. 14 Các nhà xã hội học chú ý trên hết đến tính xã hội hóa của giai đoạn phát triển này và coi mức độ xã hội hóa của mỗi cá thể là tiêu chí chủ yếu quyết định sự phát triển này. Nhiều nhà tâm lí học hiện đại cho rằng cần nghiên cứu lứa tuổi này một cách phức hợp của tất cả các yếu tố trên và đây là cách tiếp cận hợp lí trong quá trình nghiên cứu nói chung cũng như đối với chính lứa tuổi đầu thanh niên nói riêng.