CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA ĐỀ TÀI 1.1 Tình hình nghiên cứu vấn đề Bên cạnh hoạt động học tập, học sinh trung học phổ thông bắt đầu xuất hiện những nhu cầu, nguyện vọng, những đòi hỏi trực tiếp của một hoạt động mới, đó là những hoạt động liên quan đến việc chọn nghề. Từ đó nảy sinh sự thúc bách phải lựa chọn cho mình một nghề cụ thể cho tương lai ngay khi tốt nghiệp trung học phổ thông. Chính vì tầm quan trọng của nghề nghiệp trong tương lai của mỗi con người nên hướng nghiệp đã được đề cập từ rất sớm. Ở ngoài nước: Năm 1938, hội nghị quốc tế về nghề nghiệp được tổ chức tại Bacxelona.
Năm 1840, tại các nước phương Tây đầu thế kỉ XIX, với nền công nghiệp -9- phát triển mạnh ở Châu Âu, nước Pháp đã xuất bản cuốn “Chỉ dẫn chọn nghề”. Năm 1983, tại Anh, nhà tâm lý F. Galton đã nghiên cứu và sử dụng test trắc nghiệm để tư vấn nghề cho thanh niên. Sau đó, phương pháp dùng test đã lan rộng các nước Mỹ, Đức, Hà Lan.
Và những năm sau đó phương pháp dùng test để tuyển chọn nghề ngày càng phổ biến ở các nước khác. Ở trong nước: Năm 1963, ở Việt Nam, vấn đề tâm lý học nghề nghiệp được đề cập nhưng mãi đến năm 1971, Viện Nghiên cứu khoa học kỹ thuật Bảo Hộ lao động được thành lập. Trong chương trình nghiên cứu của Viện đã đề cập tới vấn đế hướng nghiệp, chọn nghề,… Năm 1979, nghị quyết Bộ Chính trị khẳng định hướng nghiệp là bộ phận khăng khít của giáo dục. Năm 1990, Bộ Giáo dục và Đào tạo đã thành lập các trung tâm hướng nghiệp.
Những công trình nghiên cứu về hướng nghiệp cho học sinh trung học phổ thông đã được nghiên cứu nhiều. Nguyễn Ngọc Bích trong đề tài nghiên cứu “Động cơ chọn nghề của thanh thiếu niên” đã nêu nên ý nghĩa quan trọng của động cơ đối với việc chọn nghề của học sinh. Đồng thời, tác giả cho rằng động cơ bên trong có ý nghĩa quan trọng hơn động cơ bên ngoài trong việc chọn nghề của học sinh. Năm 2005, Nguyễn Đức Trí trong công trình “Hướng nghiệp: Một số vấn đề lí luận và thực tiễn” đã đưa ra quan niệm về hướng nghiệp trên bình diện cá nhân, hướng nghiệp trong trường trung học phổ thông và trên bình diện xã hội.
Đồng thời, nêu lên cơ sở tâm lý của hướng nghiệp và thực trạng công tác hướng nghiệp ở Việt Nam. Năm 2007, Ngô Quốc Phương trong “Các quyết định luận ảnh hưởng đến hành vi hướng nghiệp ở người đi học và người lao động tìm kiếm việc làm” theo quan niệm của tác giả hành vi của người hướng nghiệp và tìm kiếm việc làm chịu ảnh hưởng của nhiều yếu tố tác động xã hội khách quan. Đồng thời, ở góc độ - 10 - Nhân học và Xã hội học hướng nghiệp tác giả tác giả cũng phân tích một số yếu tố liên quan đến quan đến quan niệm lựa chọn nghề nghiệp như: Bằng cấp, gia đình, xã hội,. Năm 2007, Bùi Việt Phú trong “Định hướng Giáo dục hướng nghiệp cho học sinh trung học phổ thông ở nước ta trong thời kì công nghiệp hoá, hiện đại hoá”.
Tác giả đã cho biết trong những năm qua vấn đề giáo dục hướng nghiệp vẫn chưa được các cấp quản lý quan tâm đúng mức. Tác giả nêu lên định hướng trong những năm tới cần tập trung vào những nội dung sau: Xây dựng hệ thống văn bản, pháp lý trong nhà trường. Đào tạo đội ngũ cán bộ, giáo viên chuyên trách về giáo dục hướng nghiệp cho các trường trung học phổ thông và các trung tâm Kĩ thuật thực hành hướng nghiệp, phân luồng học sinh trung học cơ sở, củng cố và phát triển hệ thống trung tâm Kĩ thuật thực hành hướng nghiệp. Năm 2009, Quang Dương đã bước đầu đề cập đến khái niệm tự hướng nghiệp trong cuốn “Tư vấn hướng nghiệp tập 2 - tự hướng nghiệp và rèn luyện kĩ năng vào đời” của tác giả.
Như vậy, có thể thấy vấn đề hướng nghiệp cho học sinh trung học phổ thông đã được đề cập, được nghiên cứu nhiều. Tuy nhiên, vấn đề tự hướng nghiệp còn rất ít tác giả đề cập và nghiên cứu. Chính vì vậy, trong đề tài này chúng tôi muốn đề cập đến một khía cạnh mà chúng tôi cho rằng không thể thiếu đối với hoạt động hướng nghiệp của học sinh trung học phổ thông đó là hoạt động tự hướng nghiệp 1.2 Cơ sở lý luận của đề tài 1. Một số khái niệm cơ bản 1.
Khái niệm tự hướng nghiệp Hiện nay, trong các phương tiện truyền thông các tài liệu sách, báo chủ yếu đề cập đến khái niệm hướng nghiệp. Khái niệm tự hướng nghiệp thì chưa được đề cập nhiều và thống nhất. Chúng tôi cho rằng tự hướng nghiệp là một phần rất quan trọng và không thể - 11 - thiếu trong hoạt động chọn nghề và định hướng tương lai của học sinh trung học phổ thông vì trên cơ sở của hoạt động hướng nghiệp, hoạt động tự hướng nghiệp sẽ giúp học sinh lựa chọn được ngành nghề phù hợp với sở thích, năng lực và điều kiện xã hội. Theo tác giả Quang Dương thì: “Tự hướng nghiệp là tự mình định hướng nghề nghiệp, tự mình xác định đúng ngành nghề thích hợp với bản thân và phù hợp với xã hội.
Từ đó, bạn tự chọn hướng trau dồi tính cách và năng lực sao cho hiệu quả, để khi được trúng tuyển, cả khi học nghề và lập nghiệp sau này được vững chắc”. [6] Quan điểm của Quang Dương về khái niệm tự hướng nghiệp thể hiện rất rõ tính chủ động của học sinh trong quá trình hoạt động để xác định và lựa chọn nghề phù hợp với bản thân. Đồng thời cũng cho thấy sự chủ động trong việc tự trau dồi để chiếm lĩnh được nghề một cách vững chắc, làm cho nghề thực sự trở thành cuộc sống của mình. Mặc dù vậy, khái niệm này lại chưa chú trọng đúng mức đến vai trò định hướng của gia đình, nhà trường và xã hội.
Eintein khẳng định: “Đôi khi người ta coi nhà trường là công cụ chuyển giao phần lớn kiến thức đến thế hệ trẻ. Nhưng thật sự không phải như vậy. Tri thức thì khô cằn, còn nhà trường thì phải phục vụ cuộc sống sống động. Nhưng nói như vậy không có nghĩa là cá nhân trở thành công cụ đơn thuần của cộng đồng mà nhà trường phải tạo ra những con người có suy nghĩ và hành động độc lập.
Những người này coi việc phục vụ xã hội là ý nghĩa sống còn”. Trong tự hướng nghiệp cũng thế, bên cạnh sự hỗ trợ từ những yếu tố bên ngoài là gia đình, nhà trường và xã hội thì người học phải biết tự mình khám phá bản thân mình, biết suy nghĩ và hành động độc lập, biết đặt ra mục đích cho hoạt động tự hướng nghiệp, kế đến là hình thành những động cơ (động lực nội tại) cũng như biết vận hành các điều kiện khách quan để tạo ra thao tác, trong từng hoạt động cụ thể và cả dòng hoạt động liên tiếp để đạt mục đích cuối cùng là chọn được nghề phù hợp với bản thân, gia đình và nhu cầu của xã hội. Để mỗi học sinh có thể tự quyết định con đường tương lai của mình, thông - 12 - qua hoạt động tự hướng nghiệp, mỗi học sinh cần có một sự trưởng thành nhất định về suy nghĩ, nhận thức, về thái độ đối với hướng nghiệp. Sự trưởng thành đó được hun đúc từ thực tế cuộc sống gia đình, từ giáo dục và môi trường sống của con người, nó được hình thành từ tuổi nhỏ, từ sự giáo dục của gia đình, từ sự định hướng trong học đường và môi trường xã hội.
Dựa theo sự phân tích trên chúng tôi đưa ra khái niệm tự hướng nghiệp như sau: Tự hướng nghiệp là tổ hợp tất cả các hoạt động mà học sinh tạo ra dưới sự hướng dẫn của gia đình, nhà trường và xã hội nhằm chiếm lĩnh tri thức, kĩ năng, kĩ xảo để chọn nghề phù hợp với năng lực, sở trường và đi vào các ngành nghề mà địa phương, đất nước, và xã hội đang có nhu cầu. Hoạt động tự hướng nghiệp mang tính tự ý thức cao của học sinh nhưng không tách rời khỏi sự định hướng của nhà trường, gia đình và xã hội. Ở lứa tuổi này mặc dù học sinh đã có sự phát triển cao về sự tự ý thức nhưng kinh nghiệm của các em chưa nhiều, các em chưa thực sự chín chắn trong suy nghĩ. Chính vì vậy, sự định hướng từ các nguồn lực bên ngoài sẽ tạo điều kiện để học sinh có thể phản ánh một cách khách quan và đầy đủ hơn về thế giới nghề nghiệp.
Từ đó các em có thể tự tin đặt ra cho mình hoài bão về nghề nghiệp và tự tổ chức các hoạt động để đạt được hoài bão đó. Như vậy, nhiệm vụ cơ bản của tự hướng nghiệp là tìm một nghề phù hợp với năng lực, sở thích đồng của bản thân, phù hợp với điều kiện gia đình đồng thời thoả mãn nhu cầu về nhân lực cho xã hội. Các hình thức chủ yếu của tự hướng nghiệp là thông qua các môn văn hoá, qua các hoạt động sinh hoạt hướng nghiệp như: tham quan sản xuất, tìm hiểu nghề và các lĩnh vực kinh tế qua các phương tiện thông tin đại chúng, qua tủ sách hướng nghiệp, sự hướng dẫn của gia đình và các tổ chức xã hội, tọa đàm hướng nghiệp, tham quan các trường đại học, cao đẳng, trung cấp chuyên nghiệp,… 1. Khái niệm hướng nghiệp - 13 - Tháng 10 năm 1980, hội nghị lần IX những người đứng đầu cơ quan giáo dục nghề nghiệp các nước Xã hội Chủ nghĩa họp tại Habana thủ đô Cuba đã thống nhất khái niệm hướng nghiệp như sau: “Hướng nghiệp là hệ thống các biện pháp dựa trên cơ sở tâm lý học, sinh lý học, y học và nhiều khoa học khác để giúp đỡ học sinh chọn nghề phù hợp với những năng lực, sở trường và điều kiện tâm sinh lý của cá nhân, nhằm mục đích phân bố hợp lý và sử dụng hiệu quả lực lượng dự trữ có sẵn của đất nước”.
Khái niệm này đã nêu lên được cơ sở tâm lý, sinh lý, y học,… Để tác động vào học sinh một cách có hệ thống giúp học sinh chọn nghề. Tuy nhiên chưa nêu lên được vai trò của các lực lượng trong xã hội để giúp học sinh chọn nghề. Giáo trình Tâm lý học nghề nghiệp (2006) đề cập: “Hướng nghiệp là một hệ thống biện pháp tác động của gia đình, nhà trường và xã hội.