Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VE HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC HƯỚNG NGHIỆP TRONG TRUONG PHO THONG 1. Lịch sử nghiên cứu van để 1,1,1. Giáo đục hướng nghiệp ở một số nước trên thể giới Cùng với sự phát triển mạnh mẽ của xu thể toản cau hóa va sự ra đời của nên kinh tế tri thức, nhiệm vụ đặt ra cho toàn xã hội là phải nhanh chóng hoan thiện hệ thông giáo dục quốc dân, vi nó quyết định đến chất lượng đảo tạo nguồn nhân lực, day mạnh công cuộc phát triển kinh tế - xã hội, nâng cao vị thé quốc gia. Giáo dục trung học pho thông không chỉ la giai đoạn chuẩn bị cho học sinh bước vào ngưỡng cửa đại học ma còn chuẩn bị cho học sinh — những con người trưởng thành bước vảo cuộc sống lao động xã hội.
Thanh thiếu niên học sinh phỏ thông dù học lên đại học hay trực tiếp tham gia vào cuộc song lao động nghề nghiệp, đều phải được trang bị day đủ những tri thức khoa học, kỹ năng lao động nghẻ nghiệp, ý thức tô chức ky luật nhất định dé đáp ứng nhu cầu về nguồn nhân lực có chất lượng cho xã hội. Với nhu cau đó, hang loạt những công trình nghiên cứu vé hướng nghiệp (HN) va giáo dục hướng nghiệp (GDHN)ở các nước trên thé giới đã va đang được tiễn hành. Vào những năm 70 — 80 thể kỷ trước, các nước Châu Âu đã tiễn hành cải cách giáo dục từ cau trúc tổ chức đến nội dung, phương pháp giáo dục va giảng day, đáp ứng yêu cau phát triển của xã hội công nghiệp dựa vào sự tiễn bộ vượt bậc của khoa học — công nghệ, nhất là công nghệ thông tin, kinh tế dé đạt tới một số chuẩn mực vẻ trình độ giáo dục phé thông va gido dục nghé. Các nha giáo dục học tiễn bộ trên thé giới đã dé ra hình thức gan giáo dục với lao động nghề nghiệp vả cuộc song, trang bị cho học sinh những kiến thức, kỹ năng lao động cần thiết để các em có thé thích ứng nhanh với cuộc sống lao động — xã hội sau khi tốt nghiệp THPT [15, tr.
Ở Pháp: Vào giữa thể ky 19 xuất hiện cuỗn sách “Hướng nghiệp chọn nghề" [3, tr.7] có nội dung dé cập tới van dé phát triển da dang của nghề do sự phát triển công nghiệp. Ngay khi đó, người ta đã nhận thay tính đa dạng, phức tạp của hệ thông nghề nghiệp, tinh chuyên mỗn hoa vượt lên han so với giai đoạn sản xuất công nghiệp, thủ công nghiệp và khang định tính cấp thiết phải giúp đỡ thanh thiểu niên học sinh đi vào “Thé giới nghề nghiệp” nhằm sử dụng nguồn lao động trẻ một cách có hiệu quả. Đến năm 1975, nước Pháp tiền hành cải cách giáo dục theo hướng tăng cường giáo duc tự nhiên và toán học, trong đó tăng kiến thức thực hành doi với khoa học tự nhiên, đưa giáo dục kỹ thuật vào dé đảm bảo sự liên hệ giữa trường học va đời sống, đồng thời vẫn giữ vững ý nghĩa của những môn xã hội va nhân văn, giảm bớt tinh han lâm trong việc cung cap kiến thức khoa học, tăng cường các kiến thức cỏ ý nghĩa thực tiền va ý nghĩa hướng nghiệp dé giúp học sinh đi vào cuộc sống nghề nghiệp. Ở Đức: Chính phủ Đức đang nỗ lực phát triển hệ thống giáo dục của Đức, bao gôm tất cả các mỗi liên hệ trong chuỗi giáo dục, từ giáo dục và chăm sóc mam non, các cấp pho thông, giáo dục hướng nghiệp, đảo tạo bậc đại học và giáo dục, đảo tạo liên tục.
Để đáp ứng nhu cầu ngày cảng cao về nguồn nhân lực cỏ năng lực vả trình độ tay nghề cao, hỗ trợ, duy trì các nhà khoa học va học giả trẻ tuổi nha Giáo dục học va nha nghiền cứu về lao động, kỹ thuật và kinh tế đã nghiên cứu về nội dung, phương pháp, hình thức tô chức dạy học lao động nghề nghiệp. Qua đó to chức cho học sinh thực tập tại các nha máy, xi nghiệp, cơ sở kinh doanh, dịch vụ. Nhờ vậy, học sinh được lam quen với mỗi trường lao động và được giáo dục một số kỹ nang lao động can thiết, giúp các em phát triển thành những con người trưởng thanh trong cuộc sống xã hội [ L7, trũ — 7|. Ở Nhật Bản: Dé phục hồi nền kinh tế bị thiệt hại sau chiến tranh Thé giới lan thứ hai, chính phủ đã co sự thay đổi: Từ bỏ phát triển các ngảnh công 6 nghiệp phục vụ chiến tranh, chuyên sang phat triển các ngành công nghiệp phục vụ đời sống nhân sinh, xóa bỏ sự độc quyền của Nha nước, khuyến khích toàn dân tham gia phát triển kinh tế, mở cửa và tạo moi điều kiện thuận lợi dé thu hút nguồn vốn dau tư bên ngoai.Su thay đôi cơ cau kinh tế đã ảnh hướng dén chính sách giao dục Nhật Bản.
Mục tiêu phát triển quốc gia chủ yêu hướng về kinh tế - thương mại. Người Nhật chủ trọng vào sự can củ, nhẫn nại, phục tùng dé phục hưng né kinh tế với khẩu hiệu mới: “Tihh than Nhật Bản - công nghệ phương Tây”. Do đó, giáo dục đặc biệt quan tâm đến van dé dạy học kỹ thuật nhằm cung cấp tri thức, rèn luyện kỹ năng lao động nghề nghiệp cho học sinh phố thông, nhằm đáp ứng những yêu cdu phát triển kinh tế của đất nước trong từng thời kỳ cụ thể. Hiện nay, tại các trường trung học chuyên tu a Nhật Ban có hơn 50.000 người dang theo học.
Hệ thông các trưởng nay nhằm đảo tạo những chuvẻn viễn như: chuyên viên sưa chữa xe. chăm soc công viên. v tủ, ¥ s¥ làm việc trong phòng phòng xạ, chuyên viên dinh dưỡng. thảm mỹ, chuyên viên thuế.
chuyên viên thiết ke thời trang.Ho được công nhận khi trai qua các cuộc thi kiểm tra cũng như đạt được các tiêu chuẩn vẻ phẩm chất và kinh nghiệm thực tiên [13]. Tác giả Magumi Nishino, ở viện nghiên cửu giao dục Nhật Ban đã nghiên cửu van de boi dưỡng tri thức và kỹ năng cơ bản, của những ngành nghẻ can thiết cho học sinh phố thông. Theo tác giả, học sinh trung học phai được: “Boi dưỡng trí thức va kỹ nang cơ ban của những neanh nụhẻ can thiết trang xã hội, có thái độ tồn trọng đổi với lao động va có khu ning lựa chọn nuhe tương lai phủ hợp với moi cá nhận” | 18. Ở Thái Lan: Cũng như các nước khác ở Đông Nam Á, Thái Lan cũng dang đương đầu với thực trạng thấp kém của đội ngũ lao động đông đảo chưa qua đảo tạo, nạn thất nghiệp, thiểu việc làm theo thời vụ ở nông thôn diễn ra ngày cảng nhiều.
Trong điều kiện như vậy, Thái Lan thực hiện đa dạng hóa các loại hình đào tạo nghề nghiệp — kỹ thuật. Ngay từ cấp tiêu học, học sinh ? được trang bị một số kiến thức cơ bản và kỹ năng phù hợp với lửa tuổi như công việc nội trợ, nông nghiệp, nghe thủ công.Bước sang cấp II, hoạt động GDHN được day mạnh có tính đến năng lực, sở thích và nhu câu của mỗi học sinh, Lên cấp [II hoạt động GDHN, gan với HN nham cung cấp cho học sinh những kỹ năng nghề nghiệp nhất định. Tất cả các trường phải dạy nghề theo quy định của bộ, học sinh đạt chuẩn sẽ được cung cap chứng chỉ nghẻ [15, tr 173]. Ở Trung Quốc: Hiện là nước đang cỏ tốc độ phát triển nên kinh tế nhanh và mạnh nhất nhì trên thể giới.
Vì vậy, nền giáo dục ở đây đang có sự thay đôi. Hệ thông giáo dục cũng được chia thành hai luông rõ nét: Học nặng về lý thuyết và nghề nghiệp - thực hành. Các chính sách khuyến khích giáo dục suốt đời một cách tích cực, học sinh sau THCS có thé đi vào THPT hoặc vảo trường trung cấp nghé, sau trung cấp nghẻ học sinh có thé theo học các khỏa giao dục nghé cao cấp hoặc học lên đại học. Tốt nghiệp các khóa giáo dục nghề cao cấp được coi tương đương với tốt nghiệp đại học, néu có nhu câu học thêm những học sinh này có thé học liên thông để lay bang thạc sĩ hoặc tiễn sĩ.
Trong chương trình giảng dạy, thường có các môn học tự chọn với mục tiêu trang bị cho HS những kiến thức va kỳ năng chuyên môn cân thiết, dé HS có khả năng tham gia lao động nghề nghiệp ở các lĩnh vực kinh tế - xã hội khác nhau hoặc tiếp tục học lên trình độ nghé nghiệp cao hơn ở bậc đại học [18, tr 69]. Ở Hàn Quốc: GDNN dong vai trò nòng cốt trong quá trình công nghiệp hóa. GDNN được tiễn hanh sau giáo duc pho cập ở trinh độ Cao trung (trong các trường trung học nghẻ) va ở trình độ sau trung học (trong các trường Cao dang nghé). Ở các bậc học nảy có thời gian đảo tạo không giống nhau.
ở bậc Cao trung, các trường trung học nghề sẽ đảo tạo như sau: từ | den 6 thang trong các trường nông nghiệp va thương mại; từ 1 đến 12 thang trong các trường kỹ thuật; từ 3 đến 12 tháng trong các trường hàng hải và thủy sản. Ở trình độ sau trung học, các trường Cao đăng nghe tiên hành đảo tạo nhiều ngành nghề trong 2 năm, nganh hang hải và thủy sản 2,5 nam, các khỏa dao tạo điều dưỡng viên 3 năm [18, tr 67]. Ở Australia: Ngay trong trường THPT, học sinh đã được học nghề ở trình độ cơ bản, có chứng chỉ kỹ năng ngheé, sau THPT học sinh có thé vào học đại học hoặc học nghề hoặc di làm với chứng chỉ nghề đã có. Nếu vào học nghề học sinh được miéh học những chứng chi nghé đã hoc ma học tiếp các chứng chỉ tiếp theo.
Học hết 4 chứng chỉ học sinh có thể học lên cao đăng hoặc cao đăng nang cao, tiếp theo dé có thé học lên đại học va sau 2 năm có bang cử nhân. Từng ngành nghẻ theo từng trình độ đảo tạo được thực hiện theo các tiéu chuẩn nang lực xác định, các tiêu chuẩn nang lực được thực hiện trong gói dao tạo cho từng nghẻ, tại đó xác định rất rõ từng năng lực phải có sau khi tốt nghiệp [ 18, tr 65]. Ở Philippin: Một trong những mục tiêu giáo dục pho thông là đảo tạo nguồn nhân lực với trình độ tay nghẻ can thiết, dé có thé lựa chọn nghé phù hợp. Chính vi thé, ở cấp II đã thực hiện giáo dục nghệ nghiệp và chuân của học sinh là phải đạt được những kiến thức, kỹ năng, thông tin nghề nghiệp và tinh than làm việc tôi thiểu can thiết để có thể chọn nghẻ.
Lên cap III tập trung vào một số lĩnh vực cụ thé như hướng nghiệp — dạy nghẻ [19, tr 9— 10].