mở đầu, kết luận và khuyến nghị, tài liệu tham khảo, phụ lục, nội dung chính của luận văn gồm 3 chƣơng. Chƣơng 1: Cơ sở lý luận về giáo dục hƣớng nghiệp cho học sinh phổ thông hiện nay trong mối quan hệ với cộng đồng và doanh nghiệp. Chƣơng 2: Thực trạng hoạt động hƣớng nghiệp cho học sinh THCS trên địa bàn huyện Mỏ Cày Bắc, tỉnh Bến Tre trong mối quan hệ với cộng đồng và doanh nghiệp. Chƣơng 3: Giải pháp hƣớng nghiệp cho học sinh THCS huyện Mỏ Cày Bắc, tỉnh Bến Tre trong mối quan hệ với cộng đồng và doanh nghiệp.
5 Chƣơng 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ GIÁO DỤC HƢỚNG NGHIỆP CHO HỌC SINH PHỔ THÔNG HIỆN NAY TRONG MỐI QUAN HỆ VỚI CỘNG ĐỒNG VÀ DOANH NGHIỆP 1. Tổng quan nghiên cứu vấn đề về hƣớng nghiệp 1. Lƣợc sử nghiên cứu về hƣớng nghiệp ở ngoài nƣớc GDHN là hoạt động quan trọng trong trƣờng phổ thông cho nên mọi quốc gia trên thế giới đều quan tâm đến hoạt động GDHN. Ở các nƣớc có nền giáo dục tiên tiến, công tác hƣớng nghiệp đƣợc coi trọng và đƣợc bắt đầu ngay từ những năm đầu của cấp trung học.
- Cấp trung học cơ sở: + Dự nghiệp: Giới thiệu tổng quan các ngành nghề thông dụng để giúp các học sinh phát hiện sơ bộ xu hƣớng nghề nghiệp của mình. + Hƣớng nghiệp: cho các học sinh đƣợc học thử các nghề đƣợc phát hiện ở giai đoạn dự nghiệp để cũng cố hoặc điều chỉnh xu hƣớng nghề nghiệp chính xác hơn. - Cấp trung học phổ thông: Huấn nghiệp: theo kết quả ở giai đoạn hƣớng nghiệp, nhà trƣờng sẽ chính thức đào tạo nghề theo đúng xu hƣớng nghề nghiệp của học sinh, giúp các em đủ sức vào đời ngay sau khi tốt nghiệp trung học hoặc tạo điều kiện thuận lợi cho việc học tiếp lên. Tại Đức, những nhà giáo dục học và những nhà nghiên cứu về lao động, kỹ thuật và kinh tế đã nghiên cứu về nội dung, phƣơng pháp, hình thức tổ chức dạy học lao động nghề nghiệp.
Qua đó, tổ chức cho học sinh thực tập tại các nhà máy, xí nghiệp, các cơ sở kinh doanh, dịch vụ. Nhờ vậy, học sinh đƣợc làm quen với môi trƣờng lao động và đƣợc giáo dục một số kỹ năng lao động cần thiết, giúp các em phát triển thành những con ngƣời trƣởng thành trong cuộc sống xã hội. 6 Tại Úc, vấn đề GDHN đƣợc quan tâm và thực hiện trong tất cả HS. Trƣờng học không chỉ giúp HS biết chọn nghề nghiệp tƣơng lai phù hợp cho mình mà còn cung cấp những kỹ năng lao động và tri thức cần thiết giúp HS có thể lập nghiệp ngay trong thời gian còn đi học, tham gia hiệu quả vào đời sống xã hội.
Tại Nhật Bản, đã sớm quan tâm giải quyết tốt mối quan hệ giữa học vấn văn hoá phổ thông với kiến thức và kỹ năng lao động nghề nghiệp ở tất cả các bậc học. Có khoảng 27,9% số trƣờng THPT vừa học văn hoá phổ thông vừa học các môn học kỹ thuật thuộc các lĩnh vực cơ khí, ngƣ nghiệp, công nghiệp, nông nghiệp, dịch vụ,…Sau khi tốt nghiệp cấp II có đến 94% HS vào cấp III, trong đó 70% theo học loại hình trƣờng phổ thông cơ bản và 30% HS theo hƣớng học nghề. Tại Hàn Quốc, trong các loại hình trƣờng phổ thông, nội dung giảng dạy kỹ thuật lao động là một bộ phận cấu thành quan trọng trong chƣơng trình giáo dục. Khi học hết cấp II, HS sẽ đi theo hai luồng chính: phổ thông và chuyên nghiệp.
Các trƣờng kỹ thuật nghề nghiệp tuyển sinh trƣớc rồi mới chọn HS theo luồng phổ thông. Ở Việt Nam Tại Việt Nam, vấn đề đào tạo ngƣời lao động đƣợc Đảng ta rất coi trọng. Văn kiện Đại hội Đảng Cộng Sản Việt Nam lần thứ IX đã ghi rõ: “Coi trọng công tác GDHN và phân luồng HS trung học, chuẩn bị cho thanh niên, thiếu niên đi vào lao động nghề nghiệp phù hợp với sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế trong cả nước và từng địa phương”.[33] Tại Đại hội Đảng Cộng Sản Việt Nam lần thứ X, Đảng ta tiếp tục xác định đổi mới toàn diện GD&ĐT trên cơ sở làm tốt công tác hƣớng nghiệp và phân luồng từ cấp THCS.[30] Quyết định 126/CP ngày 19-3-1981 của Chính phủ về Công tác hướng nghiệp trong trường phổ thông và việc sử dụng hợp lý học sinh THCS, THPT tốt nghiệp ra trường [29] đã nêu rõ vai trò, vị trí, nhiệm vụ công tác hƣớng nghiệp, phân 7 công cụ thể chính quyền các cấp, các ngành kinh tế, văn hóa từ Trung ƣơng đến địa phƣơng tham gia vào hoạt động HN. Tất cả các cấp, các ngành có nhiệm vụ tạo mọi điều kiện thuận lợi giúp đỡ các trƣờng phổ thông trong việc đào tạo, sử dụng hợp lý và tiếp tục bồi dƣỡng HS phổ thông sau khi ra trƣờng.
Thông tƣ 31/TT của Bộ trƣởng Bộ GD&ĐT về việc hƣớng dẫn thực hiện quyết định 126/CP của Chính phủ cũng nêu rõ mục đích, nhiệm vụ và hình thức hƣớng nghiệp cho HS phổ thông [34], đồng thời phân công trách nhiệm cụ thể cho từng thành viên đang công tác tại trƣờng THPT. Công tác GDHN cho học sinh THPT ở Việt Nam từ lâu đã đƣợc các nhà khoa học, các nhà quản lí giáo dục quan tâm nghiên cứu nhƣ: - Nguyễn Thị Bình (1982) về trách nhiệm của ngành ta đối với công tác hướng nghiệp và sử dụng HS ra trường; Trần Xuân Nhĩ (1982) về nắm vững những quan điểm đúng đắn, ra sức đẩy mạnh công tác hướng nghiệp; Võ Nguyên Giáp (1984) về công tác hướng nghiệp trong các nhà trường phổ thông; Phạm Huy Thụ (1996) về hoạt động lao động-hướng nghiệp của học sinh phổ thông Việt Nam.TS Phạm Tất Dong với đề tài “Đổi mới công tác hướng nghiệp phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước”.[6] - TS Hồ Văn Thống nghiên cứu về “Quản lý giáo dục hướng nghiệp trung học phổ thông theo định hướng tạo nguồn nhân lực cho các tỉnh Đồng bằng sông Cửu Long đến năm 2020”. [ 3 1 ] - Năm 2010, tác giả Lê Thị Thanh Hƣơng đã nghiên cứu đề tài “Tư vấn hướng nghiệp cho học sinh THPT thực trạng ở Việt Nam và kinh nghiệm ở quốc tế”. Tác giả đã chỉ ra những giai đoạn hƣớng nghiệp và tƣ vấn hƣớng nghiệp, các lí thuyết tƣ vấn hƣớng nghiệp, các mô hình hƣớng nghiệp và tƣ vấn hƣớng nghiệp ở các nƣớc trên thế giới và nêu lên những thực trạng về tƣ vấn hƣớng nghiệp ở trƣờng THPT.
8 - Năm 2012, tác giả Phạm Văn Sơn nghiên cứu đề tài “Xây dựng và sử dụng bản mô tả nghề trong tư vấn hướng nghiệp chọ học sinh phổ thông”. Tác giả đã đề cập đến mục đích sử dụng bản mô tả nghề nghiệp trong tƣ vấn, cung cấp những yêu cầu về phẩm chất và năng lực cần thiết giúp cho cán bộ tƣ vấn có cơ sở đối chiếu với từng học sinh để xác định sự phù hợp nghề. - Năm 2013, tác giả Phan Ngọc Linh đã nghiên cứu đề tài “Tư vấn hướng nghiệp cho học sinh THPT”. Tác giả đã khái quát thực trạng tƣ vấn hƣớng nghiệp ở một số trƣờng THPT, các biểu hiện tâm lí trong tƣ vấn hƣớng nghiệp.
- Năm 2016, nhóm tác giả Nguyễn Minh Đƣờng, Đỗ Thị Bích Loan nghiên cứu đề tài “Định hướng giá trị nghề nghiệp cho học sinh phổ thông đáp ứng yêu cầu xây dựng nông thôn mới ở Việt Nam”. Trên cơ sở nghiên cứu các vấn đề lí luận và thực tiễn có liên quan, các tác giả đã đi sâu nghiên cứu định hƣớng giá trị nghề nghiệp cho học sinh phổ thông đáp ứng yêu cầu xây dựng nông thôn mới ở Việt Nam. Tóm lại, đã có nhiều công trình nghiên cứu về hoạt động giáo dục hƣớng nghiệp cho học sinh các trƣờng THPT ở trong và ngoài nƣớc. Tuy nhiên, hầu hết các công trình nghiên cứu mới chỉ đề cập đến hoạt động giáo dục hƣớng nghiệp của các trƣờng THPT.
Đặc biệt, chƣa có công trình nào nghiên cứu về công tác giáo dục hƣớng nghiệp cho học sinh THCS trong mối quan hệ với cộng đồng và doanh nghiệp. Chính vì vậy, tôi cho rằng nghiên cứu công tác giáo dục hƣớng nghiệp cho học sinh THCS trong mối quan hệ với cộng đồng và doanh nghiệp hiện nay là vấn đề có ý nghĩa cấp bách và cần thiết. Các văn bản chỉ đạo hoạt động hƣớng nghiệp 1. Các văn bản của Trung ƣơng Đảng và Nhà nƣớc ta đã có những chủ trƣơng kịp thời và đúng đắn đối với GDHN.
Quan điểm nhất quán trong các Nghị quyết của Đảng đó là: “Học đi đôi với hành, lý luận gắn liền với thực tiễn, nhà trƣờng gắn liền với xã hội”. Năm 1979, Nghị quyết 14 của Bộ chính trị Ban chấp hành Trung ƣơng khóa IV về cải cách giáo dục đã khẳng định hƣớng nghiệp là bộ phận khắng khít với giáo dục 9 đào tạo. Văn kiện Đại hội Đảng cộng sản Việt Nam lần thứ IX (19/4-22/4/2001) đã ghi rõ: “Coi trọng công tác hƣớng nghiệp và phân luồng học sinh trung học, chuẩn bị cho thanh niên, thiếu niên đi vào lao động nghề nghiệp phù hợp với sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế trong cả nƣớc và từng địa phƣơng”. Nghị quyết số 37/2004/QH11 về giáo dục của Quốc hội đã định hƣớng cho phát triển giáo dục nghề nghiệp: “Phát triển mạnh giáo dục nghề nghiệp, thực hiện phân luồng sau trung học cơ sở và liên thông trong hệ thống giáo dục, tạo điều kiện thuận lợi cho thanh, thiếu niên lựa chọn nhiều hình thức học tập và sau khi học xong trung học cơ sở và trung học phổ thông, học sinh có cơ hội đƣợc học nghề.
Phát triển giáo dục thƣờng xuyên đáp ứng nhu cầu học tập suốt đời của nhân dân và xây dựng xã hội học tập”. Nghị quyết số 37/2004/QH11 ngày 03 tháng 12 năm 2004) Năm 2004, trong Báo cáo thẩm tra Dự án Luật Giáo dục, ủy ban Văn hóa, Giáo dục, Thanh thiếu niên và Nhi đồng của Quốc hội cũng đã đề nghị: “Phải thay đổi chính sách phát triển giáo dục theo hƣớng tập trung phát triển các trƣờng trung học chuyên nghiệp, dạy nghề dài hạn, tƣơng đƣơng với hệ thống trung học phổ thông để trong tƣơng lai, thu hút khoảng 40 - 50% học sinh tốt nghiệp THCS đi vào các loại trƣờng này”. Văn kiện Đại hội X (18/4-25/04/2006) cũng nêu: “. Hoàn chỉnh và ổn định lâu dài hệ thống giáo dục quốc dân, chú trọng phân luồng đào tạo sau THCS, đảm bảo liên thông giữa các cấp đào tạo.