Đặt vấn đề Ngành nuôi trồng thủy sản của nƣớc ta đã và đang phát triển nhanh chóng cả về số lƣợng, chất lƣợng con giống, cũng nhƣ quy mô nuôi. Ngoài việc cung cấp thực phẩm còn là mặt hàng xuất khẩu có giá trị kinh tế cao, nó trở thành ngành kinh tế mũi nhọn. Nuôi trồng thủy sản đạt đƣợc những thành tựu nhƣ trên là nhờ sự phát triển của khoa học kỹ thuật về công tác chọn giống và lai tạo giống mới có năng suất chất lƣợng tốt. Nghiên cứu lai tạo và chọn giống cá Chép đã đƣợc nhiều nƣớc trên thế giới quan tâm nhƣ Liên xô (Liên Bang Nga), Trung Quốc, Hungary.
Ngay từ những năm 1970-1975 Tiến sỹ Trần Mai Thiên và tập thể cán bộ Viện Nghiên cứu nuôi trồng thuỷ sản I đã lai tạo giữa cá Chép trắng Việt Nam, cá Chép vẩy Hungary, cá Chép vàng Indonexia và chọn lọc thành công giống cá Chép (đặt tên là: Cá Chép V1). Chất lƣợng di truyền của cá Chép V1 ngày càng đƣợc củng cố thông qua đề án: “Bảo tồn, lƣu giữ nguồn gen và giống thuỷ sản nƣớc ngọt” đã chọn lọc ngặt trong mỗi lần tái tạo quần đàn cá Chép V1. Cá Chép V1 đƣợc bộ Thuỷ sản cho phép nuôi rộng rãi trong cả nƣớc bởi cá có chất lƣợng di truyền cao, thích ứng với nhiều hình thức nuôi. Kết quả nuôi thƣơng phẩm cho thấy: Tốc độ tăng trọng của cá Chép V1 gấp từ 1,5-3,0 lần so với cá Chép trắng Việt Nam trong cùng điều kiện nuôi.
Cá nuôi một năm tuổi có kích cỡ trung bình 0,8-1,0 kg/cá thể. Nếu nuôi thƣa có thể đạt 1,5-2kg/cá thể. Khả năng chống chịu bệnh tật tốt hơn cá Chép Hungary trong điều kiện nuôi ở Việt Nam. Đặc biệt cá Chép V1 không chỉ là đối tƣợng nuôi trong ao mà còn là đối tƣợng nuôi trong ruộng cũng rất hiệu quả.
Do vậy từ năm 1995 phong trào nuôi cá Chép ở các tỉnh phía Bắc đƣợc khôi phục và ngày càng phát triển. c 2 Xuất phát từ thực tế trên, đồng thời để bƣớc đầu làm quen với phƣơng pháp nghiên cứu khoa học và nâng cao hiểu biết về kỹ thuật nuôi giống cá Chép V1. Đƣợc sự đồng ý của trƣờng Đại học Nông Lâm – Thái Nguyên, khoa Chăn nuôi – Thú y và sự hƣớng dẫn tận tình, chu đáo của giảng vien hƣớng dẫn, tôi thực hiện chuyên đề : “ƢƠNG NUÔI GIỐNG CÁ CHÉP LAI V1 QUA ĐÔNG TRONG AO ĐẤT TẠI HỢP TÁC XÃ THỦY SẢN NÚI CỐC ’’ 1. Mục tiêu và yêu cầu của đề tài 1.
Mục đích nghiên cứu - Nắm đƣợc quy trình, kĩ thuật ƣơng giống chép từ giai đoạn cá bột lên thành cá giống - Đánh giá đƣợc quá trình sinh trƣởng và tỉ lệ sống của cá chép trong quá trình ƣơng - Theo dõi một số bệnh thƣờng gặp trong quá trình ƣơng 1. Yêu cầu của đề tài - Theo dõi tình hình sinh trƣởng và phát triển cá chép trong quá trình ƣơng - Theo dõi các loại bệnh thƣờng gặp mà cá chép mắc phải trong quá trình ƣơng. - Đƣa ra những khuyến nghị để hoàn thiện quy trình ƣơng cá chép từ giai đoạn cá bột lên cá giống, có thể áp dụng vào thực tiễn 1. Ý nghĩa của đề tài 1.
Ý nghĩa khoa học Kết quả nghiên cứu của đề tài là cơ sở đánh giá quy trình ƣơng cá chép từ giai đoạn cá bột lên cá giống trong điều kiện ƣơng nuôi trong ao đất tại hợp tác xã thủy sản núi cốc. Ý nghĩa trong thực tiễn Giúp cơ sở nuôi trồng thủy sản trong quá trình ƣơng nuôi trong ao đất hiểu dõ hơn đƣợc sự sinh trƣởng và phát triển của con giống và đảm bảo đƣợc chất lƣợng con giống. c 3 Phần 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2. Điều kiện tự nhiên Thái Nguyên là một tỉnh miền núi trung du, nằm trong vùng trung du và miền núi Bắc bộ, có dịện tích tự nhiên 3.562,82 km2, dân số hiện nay là hơn 1 triệu ngƣời, chiếm 1,13% diện tích và 1,41% dân số so với cả nƣớcTỉnh Thái Nguyên phía Bắc tiếp giáp với Tỉnh Bắc Kạn, phía tây giáp với Tỉnh Vĩnh Phúc và Tỉnh Tuyên Quang, phía đông giáp với các Tỉnh Lạng Sơn và Bắc Giang và phía nam tiếp giáp với Thủ đô Hà Nội.
Với vị trí địa lý là một trong những trung tâm chính trị, kinh tế của khu Việt Bắc nói riêng, của vùng trung du miền núi đông bắc nói chung, Thái Nguyên là cửa ngõ giao lƣu kinh tế xã hội giữa vùng trung du miền núi với vùng đồng bằng Bắc bộ. Có nhiều dãy núi cao chạy theo hƣớng Bắc Nam và thấp dần xuống phía Nam. Cấu trúc vùng núi phía Bắc chủ yếu là đa phong hóa mạnh, tạo thành nhiều hang động và thung lũng nhỏ. Phía Tây Nam có dãy Tam Đảo với đỉnh cao nhất 1.590m, các vách núi dựng đứng và kéo dài theo hƣớng Tây Bắc - Đông Nam.
Ngoài dãy núi trên còn có dãy Ngân sơn bắt đầu từ Bắc Kạn chạy theo hƣớng Đông Bắc, Tây Nam đến Võ Nhai và dãy núi Bắc Sơn chạy theo hƣớng Tây Bắc, Đông Nam. Cả ba dãy núi Tam Đảo, Ngân Sơn, Bắc Sơn đều là những dãy núi cao che chắn gió mùa đông bắc. Thái Nguyên là một tỉnh trung du miền núi nhƣng địa hình lại không phức tạp lắm so với các tỉnh trung du, miền núi khác, đây là một thuận lợi của Thái Nguyên cho canh tác nông lâm nghiệp và phát triển kinh tế xã hội nói chung so với các tỉnh trung du miền núi khác. Khí hậu Thái Nguyên vào mùa đông đƣợc chia thành 3 vùng rõ rệt: c 4 - Vùng lạnh nhiều nằm ở phía bắc huyện Võ Nhai.
- Vùng lạnh vừa gồm các huyện Định Hóa, Phú Lƣơng và phía Nam Võ Nhai. - Vùng ấm gồm các huyện: Đại Từ, Thành phố Thái Nguyên, Đồng Hỷ, Phú Bình, Phổ Yên và Thị xã Sông Công. Khí hậu Thái Nguyên chia làm 4 mùa rõ rệt xuân – hạ - thu - đông, nhiệt độ trung bình đạt khoảng 23,6oC (năm 2004). Trong đó nhiệt độ trung bình thấp nhất đạt khoảng 17,0oC và nhiệt độ trung bình cao nhất đạt khoảng 28,8oC (tháng 6).
Thái nguyên là khu vực có độ ẩm khá cao. Trung bình năm đạt tới 82%. Độ ẩm trung bình thấp nhất đạt 77% và lớn nhất 88%. Với lƣợng mƣa khá lớn trung bình đạt 1800 - 2500mm, tuy nhiên lƣợng mƣa phân bố không đồng đều trong khu vực tỉnh theo thời gian, không gian.
Nhìn chung khí hậu tỉnh Thái Nguyên thuận lợi cho phát triển ngành nông, lâm nghiệp. Đƣờng bộ: Tổng chiều dài Đƣờng bộ của Tỉnh là 2.753 km trong đó: Đƣờng quốc lộ: 183 km. Đƣờng tỉnh lộ: 105,5km. Đƣờng huyện lộ: 659 km.
Các Đƣờng tỉnh lộ, quốc lộ đều đƣợc dải nhựa. Hệ thống Đƣờng quốc lộ và tỉnh lộ phân bố khá hợp lý trên địa bàn tỉnh, phần lớn các Đƣờng đều xuất phát từ trục dọc quốc lộ 3 đi trung tâm các huyện lỵ, thị xã, các khu kinh tế, vùng mỏ, khu du lịch và thông với các tỉnh lân cận. Đƣờng quốc lộ 3 từ Hà Nội lên Bắc Kạn, Cao Bằng cắt dọc toàn bộ tỉnh Thái Nguyên, chạy qua Thành phố Thái Nguyên, nối Thái Nguyên với Hà Nội và các tỉnh đồng bằng Sông Hồng. Các quốc lộ 37, 18, 259 cùng với hệ thống Đƣờng tỉnh lộ, huyện lộ là mạch máu quan trọng nối Thái Nguyên với các tỉnh xung quanh.
Đƣờng sắt: Hệ thống Đƣờng sắt từ Thái Nguyên đi các tỉnh khá thuận tiện. Tuyến Đƣờng sắt Hà Nội - Quán Triều chạy qua tỉnh nối Thái Nguyên với Hà Nội. Tuyến Đƣờng sắt Quán Triều - Núi Hồng rất thuận tiện cho việc vận c 5 chuyển khoáng sản (vận chuyển than). Tuyến Đƣờng sắt Lƣu Xá - Khúc Rồng nối với tuyến Đƣờng sắt Hà Nội -Quán Triều, tuyến Đƣờng sắt này cũng nối tỉnh Thái Nguyên với tỉnh Bắc Ninh (đến Ga kép) và ra tỉnh Quảng Ninh.
Hệ thống Đƣờng sắt của tỉnh Thái Nguyên đảm bảo phục vụ vận chuyển hành khách và hàng hóa với các tỉnh trong cả nƣớc. Đƣờng thuỷ: Thái Nguyên có 2 tuyến Đƣờng sông chính là: Đa Phúc - Hải Phòng dài 161 km. Đa Phúc - Hòn Gai dài 211 km. Trong tƣơng lai sẽ tiến hành nâng cấp và mở rộng mặt bằng cảng Đa Phúc, cơ giới hóa việc bốc dỡ, đảm bảo công suất bốc xếp đƣợc 1.000 tấn hàng hóa/ngày đêm.
Ngoài ra, Thái Nguyên có 2 con sông chính là Sông Cầu và sông Công, cần nâng cấp để vận chuyển hàng hóa Thủy văn: Sông cầu là con sông chính của tỉnh và gần nhƣ chia Thái Nguyên ra thành hai nửa bằng nhau theo chiều bắc nam. Sông bắt đầu chảy vào Thái Nguyên từ xã Văn Lăng, huyện Đồng hỷ và đến địa bàn xã Hà Châu, huyện Phú Bình, sông trở thành ranh giới tự nhiên giữa hai tỉnh Thái Nguyên và Bắc Giang và sau đó hoàn toàn ra khỏi địa bàn tỉnh ở xã Thuận Thành, huyện Phổ Yên. Ngoài ra Thái Nguyên còn có một số sông suối khác nhƣng hầu hết đều là phụ lƣu của sông Cầu. Trong đó đáng kể nhất là sông Đu, sông Nghinh Tƣờng và sông Công.
Các sông tại Thái Nguyên không thuộc lƣu vực sông Cầu là sông Rang và các chi lƣu của nó tại huyện Võ Nhai, sông này chảy sang huyện Hữu Lũng, Lạng Sơn và thuộc lƣu vực sông Thƣơng. Ngoài ra, một phần diện tích nhỏ của huyện Định Hóa thuộc thƣợng lƣu sông Đáy. Ô nhiễm nguồn nƣớc là một vấn đề đáng quan tâm, nhất là tình trạng ô nhiễm trên sông Cầu. Ngoài đập sông Cầu, Thái Nguyên còn xây dựng một hệ thống kênh đào nhân tạo dài 52 km ở phía đông nam của tỉnh với tên gọi là Sông Máng, nối liền sông Cầu với sông Thƣơng để giúp việc giao thông đƣờng thủy và dẫn nƣớc vào đồng ruộng đƣợc dễ dàng.
c 6 Thái Nguyên không có nhiều hồ, và nổi bật trong đó là Hồ Núi Cốc, đây là hồ nhân tạo đƣợc hình thành do việc chặn dòng sông Công. Hồ có độ sâu 35 m và diện tích mặt hồ rộng 25 km², dung tích của hồ ƣớc tính từ 160 triệu - 200 triệu m³. Hồ đƣợc tạo ra nhằm các mục đích cung cấp nƣớc, thoát lũ cho sông Cầu và du lịch. Hiện hồ đã có một vài khu du lịch đang đƣợc quy hoạch để trở thành khu du lịch trọng điểm quốc gia 2.