Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Trong những năm qua, ngành nuôi trồng thủy sản tại Việt Nam đạt tốc độ tăng trưởng bình quân 12,77%/năm, đóng góp quan trọng vào tăng trưởng sản lượng thủy sản toàn quốc (bình quân 9,07%/năm), giải quyết việc làm cho trên 4 triệu lao động và thúc đẩy chuyển đổi cơ cấu kinh tế nông nghiệp nông thôn. Tuy nhiên, sự phát triển nhanh của các mô hình nuôi thâm canh và bán thâm canh cũng kéo theo áp lực lớn đối với môi trường nước mặt. Quá trình tích tụ chất hữu cơ từ thức ăn dư thừa, phân cá, hóa chất xử lý cùng sự hình thành lớp bùn đáy ao tạo điều kiện cho vi sinh vật phân hủy kỵ khí phát sinh các khí độc ($\text{NH}_3$, $\text{NO}_2^-$, $\text{H}_2\text{S}$, $\text{CH}_4$) và tạo môi trường thuận lợi cho các vi sinh vật gây bệnh (Aeromonas, Vibrio, E. coli, Pseudomonas, nấm và nguyên sinh động vật) phát triển.

Tại Hợp tác xã (HTX) Thủy sản Núi Cốc (xã Tân Thái, huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên), hoạt động nuôi trồng thủy sản phụ thuộc trực tiếp vào nguồn nước mặt Hồ Núi Cốc. Nguồn nước này đồng thời chịu tác động từ nước thải sinh hoạt, hoạt động du lịch và sản xuất nông nghiệp ven hồ. Xuất phát từ thực tế đó, đề tài "Nghiên cứu hiện trạng chất lượng nước ao nuôi cá Rô Phi đơn tính và đề xuất biện pháp cải thiện môi trường nước trong Hợp tác xã Thủy sản Núi Cốc" được thực hiện nhằm đánh giá chất lượng nguồn nước và đề xuất các giải pháp kỹ thuật, sinh học giảm thiểu ô nhiễm.

Nhiệm vụ và mục tiêu nghiên cứu được xác định cụ thể gồm 3 nội dung:

  1. Đánh giá sơ lược về Hợp tác xã Thủy sản Núi Cốc, huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên (bộ máy tổ chức, cơ cấu sản xuất, chi phí, sản lượng và doanh thu).
  2. Đánh giá chất lượng môi trường nước ao nuôi cá rô phi tại Hợp tác xã Thủy sản Núi Cốc thông qua phân tích các thông số lý - hóa - vi sinh qua các đợt quan trắc.
  3. Đề xuất giải pháp cải thiện và giảm thiểu nguy cơ ô nhiễm môi trường nước trong khu vực nuôi trồng thủy sản của HTX.

Đối tượng nghiên cứu: Hiện trạng môi trường nước nuôi trồng thủy sản tại HTX Thủy sản Núi Cốc.

Phạm vi nghiên cứu:

  • Phạm vi nội dung: Tập trung khảo sát, lấy mẫu và đánh giá các chỉ tiêu chất lượng nước tại ao nuôi cá rô phi đơn tính (Oreochromis niloticus).
  • Phạm vi không gian: Khu vực ao/lồng nuôi của HTX Thủy sản Núi Cốc, xóm Gốc Mít, xã Tân Thái, huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên.
  • Phạm vi thời gian: Đề tài thực hiện từ tháng 01/2019 đến tháng 05/2019; thời gian lấy mẫu quan trắc thực tế vào ngày 26/02/2019 (Đợt 1) và ngày 12/04/2019 (Đợt 2).

Cơ sở lý thuyết và phương pháp

Khung pháp lý và cơ sở lý thuyết

Nghiên cứu được xây dựng dựa trên hệ thống các văn bản quy phạm pháp luật và tiêu chuẩn kỹ thuật môi trường Việt Nam:

  • Cơ sở pháp lý: Luật Bảo vệ Môi trường năm 2014; Luật Tài nguyên nước số 17/2012/QH13; Luật Thủy sản số 17/2003/QH11; Nghị định số 19/2015/NĐ-CP; Nghị định số 162/2003/NĐ-CP; Nghị định số 34/2005/NĐ-CP; Quyết định số 332/QĐ-TTg phê duyệt đề án phát triển nuôi trồng thủy sản đến năm 2020; Quyết định số 5204/QĐ-BNN-TCTS; Thông tư số 26/2011/TT-BTNMT; QCVN 01-80:2011/BNNPTNT; QCVN 01-81:2011/BNNPTNT; QCVN 38:2011/BTNMT.
  • Quy chuẩn đối chiếu trực tiếp: QCVN 08-MT:2015/BTNMT (Cột B1 - Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về chất lượng nước mặt phục vụ mục đích tưới tiêu, nuôi trồng thủy sản và giao thông thủy).
  • Đặc tính sinh thái học cá rô phi: Thuộc họ Cichlidae (Oreochromis sp., Oreochromis aureus, Oreochromis niloticus). Cá rô phi có biên độ thích ứng rộng: sống trong nước ngọt, nước lợ (độ mặn tới 32‰), nước phèn nhẹ; ngưỡng pH từ 5 đến 10; giới hạn nhiệt độ từ 5°C đến 42°C; chịu được hàm lượng $\text{NH}_3$ lên tới 2,4 mg/l và nồng độ oxy hòa tan (DO) xuống tới 1 mg/l; tốc độ tăng trưởng cá đực cao hơn cá cái từ 15 - 18% sau 4 tháng nuôi.

Phương pháp nghiên cứu

Tác giả kết hợp đồng bộ các phương pháp nghiên cứu thực nghiệm và đánh giá môi trường chuyên ngành:

  • Phương pháp điều tra thực địa: Khảo sát nguồn nước cấp từ Hồ Núi Cốc, mạng lưới cấp - thoát nước, quy trình vận hành và cho ăn tại hệ thống ao nuôi của HTX.
  • Phương pháp đánh giá trực quan: Ghi nhận cảm quan về màu sắc (màu xanh lục nhạt tại ao nguồn, màu vàng nhạt tại ao nuôi rô phi), mùi vị và sự thay đổi mực nước lúc bình thường và sau khi có mưa chảy tràn.
  • Phương pháp lấy mẫu và bảo quản mẫu: Tuân thủ TCVN 6663-1:2011 (hướng dẫn lập chương trình lấy mẫu), TCVN 6663-3:2008 (hướng dẫn bảo quản và xử lý mẫu), TCVN 5994:1995 (hướng dẫn lấy mẫu ở hồ ao tự nhiên và nhân tạo). Vị trí lấy mẫu được cố định tại điểm cách bờ ao 1,5m vào hai thời điểm: 7h30 sáng ngày 26/02/2019 và 8h30 sáng ngày 12/04/2019.
  • Phương pháp phân tích phòng thí nghiệm:
STT Chỉ tiêu phân tích Phương pháp phân tích / Tiêu chuẩn áp dụng Đơn vị
1 pH TCVN 6492:2011 (ISO 10523:2008) -
2 Nhiệt độ ($T$) Đo trực tiếp bằng Test Kit SERA °C
3 Oxy hòa tan (DO) TCVN 7324:2004 (ISO 5813:1983) - Phương pháp chuẩn độ Iod mg/l
4 Nitrit ($\text{NO}_2^-$) TCVN 6178:1996 (ISO 6777:1984) - Trắc phổ hấp thụ phân tử mg/l
5 Amoni ($\text{NH}_4^+/\text{NH}_3$) TCVN 5988:1995 (ISO 5664:1984) - Chưng cất và chuẩn độ mg/l
6 Sắt tổng số (Fe) SMEWW 3500-Fe.B:2012 mg/l
7 Tổng chất rắn lơ lửng (TSS) TCVN 6625:2000 (ISO 11923:1997) - Lọc qua màng sợi thủy tinh, sấy ở 105°C mg/l
8 Nhu cầu oxy hóa học (COD) TCVN 6491:1999 (ISO 6060:1989) - Oxy hóa bằng Kali đicromat ($\text{K}_2\text{Cr}_2\text{O}_7$) mg/l
9 Nhu cầu oxy sinh hóa ($\text{BOD}_5$) TCVN 6001-2:2008 (ISO 5815-2:2003) - Phương pháp đo mẫu không pha loãng mg/l
10 Clorua ($\text{Cl}^-$) TCVN 6194:1996 (ISO 9297:1989) - Chuẩn độ bạc nitrat với chỉ thị cromat (MO) mg/l
11 Coliform TCVN 6262:1997 - Phương pháp đếm khuẩn lạc / lên men lactose ở 37°C CFU/100ml
  • Phương pháp xử lý số liệu: Thống kê, xử lý dữ liệu và vẽ biểu đồ diễn biến chất lượng nước bằng phần mềm Microsoft Excel và Microsoft Word.

Nội dung chính theo từng chương

Phần 1: Mở đầu

Trình bày tính cấp thiết của đề tài trong bối cảnh ngành thủy sản phát triển nóng nhưng đối mặt với nguy cơ ô nhiễm nguồn nước do dư lượng thức ăn, chất thải hữu cơ và hóa chất. Xác định rõ mục tiêu tổng quát, nhiệm vụ nghiên cứu, ý nghĩa khoa học và thực tiễn của việc quan trắc, cảnh báo suy thoái môi trường nước tại HTX Thủy sản Núi Cốc.

Phần 2: Tổng quan tài liệu

Hệ thống hóa cơ sở lý luận về môi trường nước, ô nhiễm nước và các quy chuẩn kỹ thuật. Tổng quan đặc tính sinh học, khả năng chống chịu điều kiện môi trường của cá rô phi; phân tích hiện trạng nghề nuôi cá rô phi tại Malaysia, Đài Loan, Indonesia, Thái Lan và Việt Nam. Phân loại các nguồn thải gây ô nhiễm nước nuôi thủy sản và đánh giá các giải pháp xử lý phổ biến như: phương pháp sinh học hiếu khí/yếm khí, sử dụng động thực vật thủy sinh (nghiên cứu của Jones năm 2001 về khả năng hấp thụ ô nhiễm của động vật thân mềm) và ứng dụng chế phẩm sinh học EM.

Phần 3: Đối tượng, nội dung và phương pháp nghiên cứu

Quy định cụ thể đối tượng, không gian, thời gian nghiên cứu (tháng 1 - tháng 5/2019). Mô tả chi tiết quy trình lấy mẫu nước tại ao nuôi cá rô phi của HTX Thủy sản Núi Cốc vào hai đợt (26/02/2019 và 12/04/2019), quy chuẩn đối chiếu QCVN 08-MT:2015/BTNMT (Cột B1) và nguyên lý của 11 phương pháp phân tích tiêu chuẩn (TCVN/SMEWW).

Phần 4: Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Chương này tập trung vào 4 nhóm nội dung chính:

  • Khái quát hoạt động HTX Thủy sản Núi Cốc: Giới thiệu giấy phép kinh doanh (Mã số thuế 4601322055 cấp ngày 07/12/2016, người đại diện Lê Khánh Lộc, trụ sở tại xóm Gốc Mít, xã Tân Thái, huyện Đại Từ); mô hình chuỗi liên kết 4 nhà; sơ đồ bộ máy tổ chức gồm Ban Giám đốc và 3 bộ phận quản lý (trang trại, kho cá, cửa hàng) với tổng số 19 lao động trực tiếp.
  • Tình hình sản xuất, chi phí và doanh thu: HTX quản lý hệ thống 30 lồng nuôi (10 lồng tròn, 20 lồng vuông) với tổng thể tích $15.000\text{ m}^3$. Chi phí sản xuất hàng năm ước tính 883.240.000 đồng (chi phí giống, thức ăn cám Con Cò 50 tấn/năm chiếm 575.000.000 đồng, nhân công 720 ngày công chiếm 120.240.000 đồng, điện năng, khấu hao thiết bị). Doanh thu năm 2017 đạt 2.172.720.000 đồng và năm 2018 đạt 2.441.200.000 đồng; trong đó cá trắm cỏ chiếm tỷ trọng doanh thu cao nhất (63,1% năm 2017 và 56,8% năm 2018), cá rô phi chiếm 6,3% năm 2017 (sản lượng 4.488 kg) và 6,2% năm 2018 (sản lượng 5.000 kg).
Cơ cấu thể tích nuôi thủy sản tại HTX Núi Cốc qua các năm (m³):
- Cá trắm cỏ:  8.250 m³ (2016) -> 7.500 m³ (2017) -> 7.500 m³ (2018)
- Cá rô phi:   3.000 m³ (2016) -> 3.750 m³ (2017) -> 2.250 m³ (2018)
- Cá chép:     2.250 m³ (2016) -> 2.250 m³ (2017) -> 3.000 m³ (2018)
- Diêu hồng:   1.500 m³ (2016) -> 1.500 m³ (2017) -> 2.250 m³ (2018)
  • Đánh giá chất lượng môi trường nước: Phân tích chi tiết số liệu thực nghiệm hai đợt đo tháng 2/2019 và tháng 4/2019. Hầu hết các chỉ tiêu (pH, DO, $\text{NH}_4^+/\text{NH}_3$, Fe, TSS, COD, $\text{BOD}_5$, $\text{Cl}^-$, Coliform) đều nằm trong giới hạn cho phép của QCVN 08-MT:2015/BTNMT (Cột B1). Tuy nhiên, chỉ tiêu Nitrit ($\text{NO}_2^-$) vượt quy chuẩn nghiêm trọng ở cả hai đợt đo: đợt tháng 2 đạt 0,45 mg/l (vượt 9 lần quy chuẩn 0,05 mg/l); đợt tháng 4 tăng lên 0,58 mg/l (vượt 11,6 lần quy chuẩn).
  • Nguyên nhân gây ô nhiễm:
    • Nguyên nhân nội sinh: Mật độ nuôi cá rô phi quá dày ($6 - 8\text{ con/m}^2$, vượt mức tiêu chuẩn khuyến nghị là $4\text{ con/m}^2$); hệ thống ao ít thay nước; cho cá ăn thức ăn công nghiệp 2 lần/ngày (7h-8h và 16h-17h) gây tích tụ cặn bã hữu cơ đáy ao; ao nguồn nuôi trắm bổ sung 4 xe rùa bèo tấm/ngày (bèo nuôi từ nguồn nước thải và phân bón); xác động thực vật thủy sinh phân hủy; quá trình nitrat hóa diễn ra chưa triệt để làm tích tụ $\text{NO}_2^-$.
    • Nguyên nhân ngoại sinh: Nguồn nước cấp từ Hồ Núi Cốc được đưa trực tiếp vào ao nuôi mà không qua hệ thống xử lý/lắng lọc; hồ tiếp nhận nước thải sinh hoạt, du lịch và sản xuất nông nghiệp từ khu vực xung quanh; hiện tượng nước mưa chảy tràn cuốn theo chất bẩn, bùn đất và mầm bệnh từ trên bờ xuống ao.
  • Đề xuất biện pháp cải thiện: Vận hành máy quạt nước, sục khí cưỡng bức; điều chỉnh lượng thức ăn công nghiệp tránh dư thừa; khoanh vùng thả bèo lục bình theo các ô nhỏ có kiểm soát nhằm hấp thụ N, P, kim loại nặng và tạo vùng nước tĩnh để lắng chất lơ lửng; đào mương rãnh thoát nước quanh bờ ngăn nước mưa chảy tràn; kiểm soát mật độ thả nuôi; xử lý nước nguồn bằng quạt khí 2-3 ngày kết hợp Formol (liều lượng 30 lít/$1.000\text{ m}^3$); định kỳ 1,5 tháng bổ sung chế phẩm vi sinh EM thứ cấp ($5\text{ lít/sào ao}$) và bón vôi sau mỗi trận mưa để ổn định pH.

Phần 5: Kết luận và kiến nghị

Tổng hợp toàn bộ các kết quả quan trắc chất lượng nước, khẳng định hiện trạng tích tụ ô nhiễm đạm nitrit tại cơ sở nuôi và đưa ra các kiến nghị cụ thể đối với quy trình cấp nước ban đầu và kỹ thuật chăm sóc định kỳ trong suốt chu kỳ nuôi cá.


Kết quả và đóng góp

Số liệu quan trắc chất lượng nước thực nghiệm

STT Chỉ tiêu phân tích Đơn vị Đợt 1 (26/02/2019) Đợt 2 (12/04/2019) QCVN 08-MT:2015/BTNMT (Cột B1) Đánh giá mức độ đáp ứng
1 pH - 6,15 6,71 5,5 – 9 Nằm trong ngưỡng cho phép
2 Nhiệt độ ($T$) °C 27,5 28,0 - Phù hợp cho cá sinh trưởng
3 Oxy hòa tan (DO) mg/l 4,25 4,60 $\ge 4$ Đạt yêu cầu quy chuẩn
4 Nitrit ($\text{NO}_2^-$) mg/l 0,45 0,58 0,05 Vượt 9,0 lần (Đợt 1) và 11,6 lần (Đợt 2)
5 Amoni ($\text{NH}_4^+/\text{NH}_3$) mg/l 0,35 0,47 0,9 Nằm trong ngưỡng cho phép
6 Sắt tổng số (Fe) mg/l 0,01 0,03 1,5 Nằm trong ngưỡng cho phép
7 Chất rắn lơ lửng (TSS) mg/l 42,20 48,50 50 Nằm trong ngưỡng cho phép (có xu hướng tăng)
8 COD mg/l 17,25 18,09 30 Nằm trong ngưỡng cho phép
9 $\text{BOD}_5$ mg/l 13,26 14,11 15 Nằm trong ngưỡng cho phép (tiệm cận giới hạn)
10 Clorua ($\text{Cl}^-$) mg/l 76,33 78,92 350 Nằm trong ngưỡng cho phép
11 Coliform CFU/100ml 3.600 5.000 7.500 Nằm trong ngưỡng cho phép (tăng trong đợt 2)

Diễn biến các chỉ tiêu môi trường và nguyên nhân

  • Chỉ tiêu ô nhiễm vượt ngưỡng: Hàm lượng $\text{NO}_2^-$ trong ao nuôi rô phi ở mức báo động ($0,45 - 0,58\text{ mg/l}$), vượt từ 9 đến 11,6 lần so với QCVN 08-MT:2015/BTNMT (Cột B1). Tác giả chỉ ra rằng vào tháng 4 nhiệt độ môi trường tăng cao ($28^\circ\text{C}$ so với $27,5^\circ\text{C}$ ở tháng 2), các phản ứng sinh hóa phân hủy thức ăn dư thừa và phân cá diễn ra mạnh hơn, nhưng chu trình nitrat hóa chuyển hóa từ $\text{NH}_4^+$ sang $\text{NO}_3^-$ rồi thành $\text{N}_2$ bị ách tắc ở giai đoạn trung gian, dẫn đến tích lũy nồng độ $\text{NO}_2^-$ độc hại cho thủy sinh vật.
  • Xu hướng gia tăng của các thông số hữu cơ và vi sinh:
    • TSS tăng từ $42,2\text{ mg/l}$ lên $48,5\text{ mg/l}$ (tiệm cận ngưỡng tối đa $50\text{ mg/l}$).
    • $\text{BOD}_5$ tăng từ $13,26\text{ mg/l}$ lên $14,11\text{ mg/l}$ (tiệm cận mức tối đa cho phép $15\text{ mg/l}$).
    • Coliform tăng từ $3.600\text{ CFU/100ml}$ lên $5.000\text{ CFU/100ml}$.
  • Đóng góp của nghiên cứu:
    • Khóa luận cung cấp chuỗi số liệu thực nghiệm đo đạc định lượng 11 thông số chất lượng nước tại cơ sở nuôi cá thực tế ở Hồ Núi Cốc.
    • Phân tích chi tiết bức tranh kinh tế - kỹ thuật của HTX Thủy sản Núi Cốc (diện tích, thể tích lồng nuôi, cơ cấu đàn cá, chi phí vận hành $883\text{ triệu đồng/năm}$, doanh thu qua các năm 2017-2018).
    • Đề xuất hệ thống giải pháp kỹ thuật đồng bộ, khả thi: đào rãnh ngăn nước mưa, bố trí bè bèo lục bình theo ô kiểm soát để hấp phụ chất ô nhiễm, quy trình khử trùng nước cấp bằng sục khí kết hợp Formol và định kỳ sử dụng chế phẩm sinh học EM thứ cấp ($5\text{ lít/sào ao}$) để giải quyết điểm nghẽn tích tụ $\text{NO}_2^-$.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế của đề tài:
    • Thời gian thực hiện đề tài ngắn (từ tháng 01/2019 đến tháng 05/2019), do đó số đợt lấy mẫu phân tích còn hạn chế (chỉ quan trắc được 2 đợt vào tháng 2 và tháng 4/2019), chưa phản ánh được toàn diện biến động môi trường nước theo chu kỳ đủ 4 mùa trong năm.
    • Do điều kiện và nguồn lực thực tập có hạn, đề tài chỉ tập trung lấy mẫu chuyên sâu tại ao nuôi cá rô phi đơn tính và một điểm ao nguồn, chưa tiến hành lấy mẫu đối chứng độc lập tại tất cả các ô lồng nuôi cá trắm cỏ, cá chép và cá diêu hồng.
  • Hướng nghiên cứu tiếp theo được gợi mở:
    • Mở rộng quan trắc chất lượng nước định kỳ theo tháng trong suốt chu kỳ nuôi trọn vẹn (6 đến 12 tháng) để theo dõi động thái tích tụ chất ô nhiễm theo từng giai đoạn phát triển sinh khối của cá.
    • Tiến hành thử nghiệm, đo đạc hiệu quả xử lý thực tế của mô hình thả bèo lục bình phân ô và đánh giá định lượng tốc độ giảm nồng độ $\text{NO}_2^-$, $\text{BOD}_5$, TSS sau khi rải chế phẩm sinh học EM thứ cấp tại hiện trường ao nuôi.

Giá trị tham khảo

  • Đối tượng tham khảo:
    • Sinh viên, học viên ngành Khoa học Môi trường, Quản lý Tài nguyên và Môi trường, Kỹ thuật Môi trường và Nuôi trồng Thủy sản thực hiện đồ án, khóa luận tốt nghiệp về quan trắc chất lượng nước mặt và kiểm soát ô nhiễm thủy sản.
    • Cán bộ kỹ thuật, ban quản lý các hợp tác xã, trang trại và hộ gia đình nuôi cá lồng bè, nuôi ao nước ngọt tại các hồ chứa thủy lợi, thủy điện.
  • Phần nội dung có giá trị sử dụng cao:
    • Bảng tổng hợp phương pháp phân tích phòng thí nghiệm theo hệ thống tiêu chuẩn TCVN và SMEWW tương ứng với từng chỉ tiêu chất lượng nước mặt.
    • Dữ liệu thực tế về cơ cấu chi phí vận hành trang trại cá (con giống, thức ăn công nghiệp, nhân công, tiền điện, khấu hao) và định mức kỹ thuật nuôi cá rô phi, cá trắm, cá chép, cá diêu hồng.
    • Quy trình kỹ thuật xử lý nước mưa chảy tràn, kỹ thuật sục khí cưỡng bức kết hợp hóa chất khử trùng nguồn nước cấp và quy trình ứng dụng chế phẩm vi sinh EM thứ cấp trong cải thiện môi trường đáy ao.

Câu hỏi thường gặp

1. Khóa luận sử dụng quy chuẩn kỹ thuật nào để làm căn cứ đánh giá chất lượng nước mặt ao nuôi cá?

Tác giả sử dụng Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về chất lượng nước mặt QCVN 08-MT:2015/BTNMT (Cột B1) – quy chuẩn áp dụng cho mục đích giao thông thủy, tưới tiêu và các mục đích sử dụng nước yêu cầu chất lượng nước thấp hoặc nuôi trồng thủy sản.

2. Thông số môi trường nào tại ao nuôi cá rô phi bị vượt ngưỡng quy chuẩn và mức độ vượt là bao nhiêu?

Thông số Nitrit ($\text{NO}_2^-$) bị vượt quy chuẩn nghiêm trọng ở cả 2 đợt đo:

  • Đợt 1 (ngày 26/02/2019): Nồng độ $\text{NO}_2^-$ đạt $0,45\text{ mg/l}$, vượt 9,0 lần so với giới hạn cho phép ($0,05\text{ mg/l}$).
  • Đợt 2 (ngày 12/04/2019): Nồng độ $\text{NO}_2^-$ tăng lên $0,58\text{ mg/l}$, vượt 11,6 lần so với giới hạn cho phép.

3. Nguyên nhân chủ yếu dẫn đến sự gia tăng nồng độ $\text{NO}_2^-$ và các chất hữu cơ trong ao nuôi cá rô phi là gì?

Nguyên nhân gồm: mật độ nuôi cá rô phi dày ($6 - 8\text{ con/m}^2$ so với tiêu chuẩn $4\text{ con/m}^2$); thức ăn công nghiệp dư thừa cho ăn 2 lần/ngày tích tụ dưới đáy; ao nuôi ít được thay nước; ao nguồn được cấp 4 xe rùa bèo tấm/ngày (bèo nuôi bằng phân và nước thải); xác động thực vật phân hủy; chu trình chuyển hóa đạm nitrat hóa diễn ra không triệt để; và nguồn nước cấp từ Hồ Núi Cốc tiếp nhận chất thải sinh hoạt, du lịch chưa qua lắng lọc.

4. Quy mô sản xuất và cơ cấu lồng nuôi của HTX Thủy sản Núi Cốc trong giai đoạn nghiên cứu được ghi nhận như thế nào?

HTX quản lý 30 lồng nuôi cá (10 lồng tròn, 20 lồng vuông) với tổng thể tích $15.000\text{ m}^3$. Cơ cấu thể tích nuôi năm 2018 gồm: cá trắm cỏ chiếm $50%$ ($7.500\text{ m}^3$), cá chép chiếm $20%$ ($3.000\text{ m}^3$), cá diêu hồng chiếm $15%$ ($2.250\text{ m}^3$) và cá rô phi chiếm $15%$ ($2.250\text{ m}^3$).

5. Tác giả đề xuất biện pháp sinh học và kỹ thuật cụ thể nào để giảm thiểu ô nhiễm nước ao nuôi?

Tác giả đề xuất: sục khí quạt nước cưỡng bức; thả bèo lục bình trong các ô quây nhỏ để hấp thu N, P và kim loại nặng; đào rãnh thoát nước quanh bờ ngăn nước mưa chảy tràn; định kỳ 1,5 tháng xử lý chế phẩm sinh học EM thứ cấp với liều lượng $5\text{ lít/sào ao}$; định kỳ thay $1/3$ lượng nước ao/tháng; bón vôi sau mỗi trận mưa để ổn định pH ($6,5 - 8$); và xử lý nguồn nước cấp ban đầu bằng sục khí $2 - 3$ ngày kết hợp Formol ($30\text{ lít/1.000 m}^3$).


Kết luận

Khóa luận của sinh viên Hoàng Văn Tu đã phản ánh chi tiết hiện trạng chất lượng nước ao nuôi cá rô phi đơn tính tại Hợp tác xã Thủy sản Núi Cốc thông qua phân tích thực nghiệm 11 thông số lý - hóa - vi sinh theo các tiêu chuẩn TCVN và SMEWW. Kết quả quan trắc chỉ ra rằng phần lớn các chỉ tiêu đều đạt quy chuẩn QCVN 08-MT:2015/BTNMT (Cột B1), ngoại trừ chỉ tiêu $\text{NO}_2^-$ vượt ngưỡng từ 9 đến 11,6 lần do mật độ nuôi dày, thức ăn dư thừa và quá trình nitrat hóa chưa hoàn chỉnh. Trên cơ sở phân tích nguyên nhân nội sinh và ngoại sinh, công trình đã đề xuất hệ thống giải pháp kỹ thuật, kiểm soát dòng tràn và ứng dụng chế phẩm vi sinh EM kết hợp thực vật thủy sinh có tính ứng dụng thực tiễn cao cho cơ sở nuôi trồng thủy sản.