Hướng dẫn chi tiết ôn tập môn Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam

Tài liệu hướng dẫn ôn tập môn Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam giúp hệ thống kiến thức, nắm vững trọng tâm, chuẩn bị tốt cho kỳ thi.

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

tài liệu hướng dẫn ôn tập
127
12
0

Phí lưu trữ

35 Point

Mục lục chi tiết

MỞ ĐẦU

1. CHƯƠNG 1: ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM RA ĐỜI VÀ LÃNH ĐẠO ĐẤU TRANH GIÀNH CHÍNH QUYỀN (1930-1945)

1.1. ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM RA ĐỜI VÀ CƯƠNG LĨNH CHÍNH TRỊ ĐẦU TIÊN CỦA ĐẢNG (THÁNG 2-1930)

1.1.1. Bối cảnh lịch sử

1.1.2. Tình hình thế giới

1.1.3. Phong trào đấu tranh giải phóng ở các nước thuộc địa

1.1.4. Cách mạng Tháng Mười Nga năm 1917 thắng lợi

1.1.5. Tình hình Việt Nam và các phong trào yêu nước trước khi có Đảng

1.1.6. Nguyễn Ái Quốc chuẩn bị các điều kiện thành lập Đảng

1.1.6.1. Quá trình xác định được con đường cách mạng Việt Nam của Nguyễn Ái Quốc (1911-1920)

1.2. ĐẢNG LÃNH ĐẠO ĐẤU TRANH GIÀNH CHÍNH QUYỀN 1930-1945

1.3. CÂU HỎI ÔN TẬP

1.4. CÂU HỎI TRẮC NGHIỆM

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Hướng dẫn ôn tập Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam

Hướng dẫn ôn tập Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam là tài liệu quan trọng giúp sinh viên hệ thống hóa kiến thức về lịch sử Đảng. Tài liệu này được biên soạn bởi Bộ môn Lịch sử Đảng và Tư tưởng Hồ Chí Minh, Trường Đại học Ngân hàng TP. Hồ Chí Minh, nhằm hỗ trợ học viên trong quá trình ôn tập và thi cử. Tài liệu gồm hai phần chính: tóm tắt nội dung môn học và gợi ý đáp án. Phần tóm tắt nội dung được trình bày ngắn gọn theo khung chương trình của Bộ Giáo dục và Đào tạo, kèm theo các câu hỏi ôn tập và trắc nghiệm. Phần gợi ý đáp án giúp học viên củng cố kiến thức và chuẩn bị tốt cho kỳ thi.

1.1. Phương pháp ôn tập hiệu quả

Phương pháp ôn tập hiệu quả là yếu tố then chốt giúp sinh viên nắm vững kiến thức. Tài liệu khuyến khích sử dụng phương pháp lịch sử và logic để phân tích các sự kiện lịch sử. Sinh viên nên kết hợp nghe giảng, thảo luận nhóm và tham quan các di tích lịch sử để hiểu sâu hơn về quá trình lãnh đạo của Đảng. Việc quán triệt phương pháp luận sử học, đặc biệt là chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử, giúp nhận thức lịch sử một cách khách quan và trung thực.

1.2. Tài liệu ôn tập Lịch sử

Tài liệu ôn tập Lịch sử được thiết kế khoa học, bao gồm các chương trình bày ngắn gọn và câu hỏi ôn tập. Phần tóm tắt nội dung môn học giúp sinh viên nắm bắt các mốc lịch sử quan trọng, từ sự ra đời của Đảng đến các giai đoạn lãnh đạo cách mạng. Các câu hỏi trắc nghiệm và ôn tập được biên soạn theo chuẩn AUN-QA, giúp học viên tự kiểm tra kiến thức và chuẩn bị tốt cho kỳ thi.

II. Kiến thức Lịch sử Đảng

Kiến thức Lịch sử Đảng là nền tảng giúp sinh viên hiểu rõ vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam trong tiến trình lịch sử dân tộc. Tài liệu tập trung vào các sự kiện lịch sử quan trọng, từ sự ra đời của Đảng năm 1930 đến các giai đoạn lãnh đạo cách mạng, kháng chiến và đổi mới. Việc nắm vững kiến thức này không chỉ giúp sinh viên hoàn thành tốt môn học mà còn củng cố niềm tin vào sự lãnh đạo của Đảng.

2.1. Các mốc lịch sử quan trọng

Các mốc lịch sử quan trọng được tài liệu nhấn mạnh bao gồm sự ra đời của Đảng năm 1930, Cương lĩnh chính trị đầu tiên, và các giai đoạn lãnh đạo cách mạng như kháng chiến chống Pháp, chống Mỹ, và công cuộc đổi mới. Những sự kiện này không chỉ là dấu mốc lịch sử mà còn là bài học kinh nghiệm quý báu cho sự phát triển của Đảng và đất nước.

2.2. Tư tưởng Hồ Chí Minh

Tư tưởng Hồ Chí Minh là cơ sở lý luận quan trọng trong nghiên cứu và học tập Lịch sử Đảng. Tài liệu nhấn mạnh vai trò của tư tưởng Hồ Chí Minh trong việc định hướng đường lối cách mạng và xây dựng Đảng. Việc nắm vững tư tưởng Hồ Chí Minh giúp sinh viên hiểu rõ hơn về quá trình lãnh đạo của Đảng và những thành tựu đạt được trong các giai đoạn lịch sử.

III. Chiến lược phát triển Đảng

Chiến lược phát triển Đảng là nội dung quan trọng được tài liệu đề cập, nhằm giúp sinh viên hiểu rõ quá trình xây dựng và phát triển của Đảng qua các thời kỳ. Tài liệu phân tích các nhiệm vụ và chức năng của Đảng trong việc lãnh đạo cách mạng, xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc. Việc nắm vững chiến lược phát triển Đảng giúp sinh viên có cái nhìn toàn diện về vai trò và sứ mệnh của Đảng trong lịch sử dân tộc.

3.1. Đảng Cộng sản Việt Nam trong lịch sử

Đảng Cộng sản Việt Nam trong lịch sử được tài liệu phân tích qua các giai đoạn lãnh đạo cách mạng, từ kháng chiến chống Pháp, chống Mỹ đến công cuộc đổi mới. Những thành tựu và kinh nghiệm của Đảng trong các giai đoạn này là bài học quý báu cho sự phát triển của đất nước.

3.2. Tổng quan về Đảng Cộng sản Việt Nam

Tổng quan về Đảng Cộng sản Việt Nam giúp sinh viên hiểu rõ quá trình ra đời, phát triển và hoạt động lãnh đạo của Đảng. Tài liệu nhấn mạnh vai trò của Đảng trong việc lãnh đạo cách mạng, xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc. Việc nắm vững tổng quan về Đảng giúp sinh viên có cái nhìn toàn diện về lịch sử và sứ mệnh của Đảng.

21/02/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1 ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM RA ĐỜI VÀ LÃNH ĐẠO ĐẤU TRANH GIÀNH CHÍNH QUYỀN (1930-1945) MỤC TIÊU Cung cấp cho sinh viên những tri thức mang tính hệ thống về quá trình ra đời của Đảng Cộng sản Việt Nam (1920 - 1930), nội dung cơ bản, giá trị lịch sử của Cương lĩnh chính trị đầu tiên của Đảng và quá trình Đảng lãnh đạo cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc, giành chính quyền (1930 - 1945). ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM RA ĐỜI VÀ CƯƠNG LĨNH CHÍNH TRỊ ĐẦU TIÊN CỦA ĐẢNG (THÁNG 2-1930) 1. Bối cảnh lịch sử a. Tình hình thế giới Sự chuyển biến của chủ nghĩa tư bản Từ nửa sau thế kỷ XIX, chủ nghĩa tư bản phương Tây chuyển nhanh từ giai đoạn tự do cạnh tranh sang giai đoạn độc quyền (đế quốc chủ nghĩa), đẩy mạnh quá trình xâm chiếm và nô dịch các nước nhỏ, yếu ở châu Á, châu Phi và khu vực Mỹ - Latinh, biến các quốc gia này thành thuộc địa của các nước đế quốc.

Phong trào đấu tranh giải phóng ở các nước thuộc địa Nhân dân các dân tộc bị áp bức đã đứng lên đấu tranh tự giải phóng khỏi ách thực dân, đế quốc, tạo thành phong trào giải phóng dân tộc mạnh mẽ, rộng khắp, nhất là ở châu Á. Cùng với phong trào đấu tranh của giai cấp vô sản chống lại giai cấp tư sản ở các nước tư bản chủ nghĩa, phong trào giải phóng dân tộc ở các nước thuộc địa trở thành một bộ phận quan trọng trong cuộc đấu tranh chung chống tư bản, thực dân. Phong trào giải phóng dân tộc ở các nước châu Á đầu thế kỷ XX phát triển rộng khắp, tác động mạnh mẽ đến phong trào yêu nước ở Việt Nam. Cách mạng Tháng Mười Nga năm 1917 thắng lợi Thắng lợi của Cách mạng Tháng Mười Nga không chỉ có ý nghĩa to lớn đối với cuộc đấu tranh của giai cấp vô sản đối với các nước tư bản, mà còn tác động sâu sắc đến phong trào giải phóng dân tộc ở các thuộc địa.

Tháng 3-1919, Quốc tế Cộng sản do V.Lênin đứng đầu, được thành lập Quốc Tế Cộng Sản trở thành bộ tham mưu chiến đấu, tổ chức lãnh đạo phong trào cách mạng vô sản thế giới. Quốc Tế Cộng Sản không những vạch đường hướng chiến lược cho cách mạng vô sản mà cả đối với các vấn đề dân tộc và thuộc địa, giúp đỡ, chỉ đạo phong trào giải phóng dân tộc. Tình hình Việt Nam và các phong trào yêu nước trước khi có Đảng 9 Với vị trí địa chính trị quan trọng của châu Á, Việt Nam trở thành đối tượng nằm trong mưu đồ xâm lược của thực dân Pháp trong cuộc chạy đua với nhiều đế quốc khác. Ngày 1/9/1858, thực dân Pháp nổ súng xâm lược Việt Nam tại Đà Nẵng và từ đó từng bước thôn tính Việt Nam.

Sau nhiều Hiệp ước được ký kết giữa thực dân Pháp với triều Nguyễn, Hiệp ước Patơnốt (Patenotre) ngày 6/6/1884 đánh dấu thời điểm Việt Nam trở thành “một xứ thuộc địa, dân ta là vong quốc nô, Tổ quốc ta bị giày xéo dưới gót sắt của kẻ thù hung ác”1. Đồng thời với việc dùng vũ lực đàn áp đẫm máu đối với các phong trào yêu nước của nhân dân Việt Nam, thực dân Pháp tiến hành xây dựng hệ thống chính quyền thuộc địa, bên cạnh đó vẫn duy trì chính quyền phong kiến bản xứ làm tay sai; thực hiện chính sách “chia để trị” nhằm phá vỡ khối đoàn kết cộng đồng quốc gia dân tộc. Từ năm 1897, thực dân Pháp bắt đầu tiến hành các cuộc khai thác thuộc địa lớn: Cuộc khai thác thuộc địa lần thứ nhất (1897-1914) do toàn quyền Đông Dương Paul Dou mer (Pôn du me) thực hiện và khai thác thuộc địa lần thứ hai (1919-1929) nhằm biến Việt Nam nói riêng và Đông Dương nói chung thành thị trường tiêu thụ hàng hóa của “chính quốc”, đồng thời ra sức vơ vét tài nguyên, bóc lột sức lao động rẻ mạt của người bản xứ, cùng nhiều hình thức thuế khóa nặng nề. Về văn hoá - xã hội, thực dân Pháp thực hiện chính sách “ngu dân” để dễ cai trị, lập nhà tù nhiều hơn trường học, đồng thời du nhập những giá trị phản văn hóa, duy trì tệ nạn xã hội vốn có của chế độ phong kiến và tạo nên nhiều tệ nạn xã hội mới, dùng rượu cồn và thuốc phiện để đầu độc các thế hệ người Việt Nam, ra sức tuyên truyền tư tưởng “khai hoá văn minh” của nước “Đại Pháp”… Chính sách cai trị và khai thác bóc lột của thực dân Pháp dẫn đến tính chất xã hội Việt Nam có sự biến đổi sâu sắc, bên cạnh các giai cấp cũ (địa chủ và nông dân) xuất hiện các giai cấp tầng lớp mới xuất hiện với địa vị kinh tế khác nhau (công nhân, tư sản và tầng lớp tiểu tư sản) và do đó cũng có thái độ chính trị khác nhau đối với vận mệnh của dân tộc.

Đồng thời, những mâu thuẫn mới trong xã hội Việt Nam cũng đã xuất hiện, trong đó, mâu thuẫn giữa toàn thể dân tộc Việt Nam với thực dân Pháp và phong kiến phản động trở thành mâu thuẫn chủ yếu nhất và ngày càng gay gắt. Để giải quyết mâu thuẫn đó, ngay từ khi Pháp xâm lược, các phong trào yêu nước chống thực dân Pháp đã được dấy lên trong nhân dân, chủ yếu theo hai khuynh hướng: phong kiến và dân chủ tư sản. Phong trào theo khuynh hướng phong kiến, tiêu biểu như phong trào Cần Vương do vua Hàm Nghi và Tôn Thất Thuyết khởi xướng (1885 - 1896), khởi nghĩa của Vua Duy Tân (5-1916); khởi nghĩa Ba Đình (Thanh Hóa), bãi Sậy (Hương Yên), Hương Khê (Hà Tĩnh), phong trào nông dân Yên Thế (Bắc Giang) 1 Hồ Chí Minh Toàn tập, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2011, tập 12, trang 401. 10 dưới sự lãnh đạo của Hoàng Hoa Thám,.

song tất cả đều thất bại. Phong trào theo khuynh hướng dân chủ tư sản, tiêu biểu là xu hướng bạo động của Phan Bội Châu (với phong trào Đông Du), xu hướng cải cách của Phan Châu Trinh (với tinh thần “khai dân trí, chấn dân khí, hậu dân sinh” và sau đó là phong trào tiểu tư sản trí thức của tổ chức Việt Nam Quốc dân đảng (từ tháng 12- 1927 đến tháng 2-1930) đã tiếp tục diễn ra rộng khắp các tỉnh Bắc Kỳ, nhưng tất cả đều không thành công. Vào những năm cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX, các phong trào yêu nước theo ngọn cờ phong kiến, ngọn cờ dân chủ tư sản của nhân dân Việt Nam đã diễn ra quyết liệt, liên tục và rộng khắp. Dù với nhiều cách thức tiến hành khác nhau, song đều hướng tới mục tiêu giành độc lập cho dân tộc.

Tuy nhiên, “các phong trào cứu nước từ lập trường Cần Vương đến lập trường tư sản, tiểu tư sản qua khảo nghiệm lịch sử đều lần lượt thất bại”2. Nguyên nhân thất bại của các phong trào đó là: + Thiếu đường lối chính trị đúng đắn để giải quyết triệt để những mâu thuẫn cơ bản, chủ yếu của xã hội; + Thiếu lực lượng tham gia của toàn dân tộc; + Chưa có một tổ chức vững mạnh để tập hợp, giác ngộ và lãnh đạo toàn dân tộc; + Chưa xác định được phương pháp đấu tranh thích hợp để đánh đuổi kẻ thù. Tuy vậy, các phong trào yêu nước ở Việt Nam cho đến những năm 20 của thế kỷ XX đã góp phần cổ vũ mạnh mẽ tinh thần yêu nước của nhân dân, đặc biệt góp phần thúc đẩy những nhà yêu nước, nhất là lớp thanh niên trí thức tiên tiến chọn lựa một con đường mới, một giải pháp cứu nước, giải phóng dân tộc theo xu thế của thời đại. Nhiệm vụ lịch sử cấp thiết đặt ra cho thế hệ yêu nước đương thời là cần phải có một tổ chức cách mạng tiên phong, có đường lối cứu nước đúng đắn để giải phóng dân tộc để thành lập Đảng.

Nguyễn Ái Quốc chuẩn bị các điều kiện thành lập Đảng a. Quá trình xác định được con đường cách mạng Việt Nam của Nguyễn Ái Quốc (1911-1920) Năm 1911, với nhiệt huyết, ý chí của một thanh niên luôn trăn trở về vận nước, Nguyễn Tất Thành đã quyết định ra đi tìm đường cứu nước, giải phóng dân tộc. Qua trải nghiệm thực tế, bằng tư duy thực chứng, Người đã nhận thức được rằng: “dù màu da có khác nhau, trên đời này chỉ có hai giống người: giống người bóc lột và giống người bị bóc lột”3, từ đó xác định rõ kẻ thù và lực lượng đồng minh của nhân dân các dân tộc bị áp bức. Năm 1917, sau thắng lợi của Cách mạng Tháng Mười Nga, Người từ nước 2 Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng Toàn tập, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2007, tập 51, trang 14.

3 Hồ Chí Minh Toàn tập, Sđd, tập 1, trang 287. 11 Anh trở lại nước Pháp và tham gia các hoạt động chính trị hướng về tìm hiểu con đường Cách mạng Tháng Mười Nga, về V. Đầu năm 1919, Nguyễn Tất Thành tham gia Đảng Xã hội Pháp, một chính đảng tiến bộ nhất lúc đó ở Pháp. Tháng 6-1919, Nguyễn Tất Thành lấy tên Nguyễn Ái Quốc thay mặt Hội những người An Nam yêu nước ở Pháp gửi tới Hội nghị Versailles (Véc-xây, Pháp) bản Yêu sách của nhân dân An Nam (gồm 8 điểm đòi quyền tự do cho nhân dân Việt Nam).

Sự kiện này đã tạo nên tiếng vang lớn trong dư luận quốc tế và Nguyễn Ái Quốc càng hiểu rõ hơn bản chất của đế quốc, thực dân. Tháng 7-1920, Người đọc bản Sơ thảo lần thứ nhất những luận cương về vấn đề dân tộc và vấn đề thuộc địa của V.Lênin đăng trên báo L'Humanité (Nhân đạo), số ra ngày 16 và 17/7/1920. Những luận điểm của V.Lênin về vấn đề dân tộc và thuộc địa đã giải đáp những vấn đề cơ bản và chỉ dẫn hướng phát triển của sự nghiệp cứu nước, giải phóng dân tộc.Lênin và lập trường đúng đắn của Quốc Tế Cộng Sản về cách mạng giải phóng dân tộc thuộc địa là cơ sở để Nguyễn Ái Quốc xác định thái độ ủng hộ việc gia nhập Quốc Tế Cộng Sản tại Đại hội lần thứ 18 của Đảng Xã hội Pháp (12-1920) và bỏ phiếu tán thành Quốc Tế Cộng Sản. Ngay sau đó, Nguyễn Ái Quốc cùng với những người vừa bỏ phiếu tán thành Quốc Tế Cộng Sản đã tuyên bố thành lập Phân bộ Pháp của Quốc tế Cộng sản - tức là Đảng Cộng sản Pháp.

Với sự kiện này, Nguyễn Ái Quốc trở thành một trong những sáng lập viên của Đảng Cộng sản Pháp và là người cộng sản đầu tiên của Việt Nam, đánh dấu bước chuyển biến quyết định trong tư tưởng và lập trường chính trị của Nguyễn Ái Quốc.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ