Chương 1 Nhập môn về Nghiên cứu khoa học và Nghiên cứu khoa học giáo dục Lý thuyết là mẹ của thực hành. Không có lý thuyết, thực hành chỉ là những tập quán do thói quen tạo ra. Chỉ có lý thuyết mới phát triển được tinh thần sáng tạo. Pasteur) Trong thời đại ngày nay, các thuật ngữ khoa học và nghiên cứu khoa học đã trở nên quen thuộc đối với mọi người; nó xuất hiện thường xuyên trên các phương tiện thông tin đại chúng vì nó là một quốc sách của nhà nước ta.
Nhưng cũng chính vì thế mà hiện tượng lạm dụng từ ngữ cũng thường xuyên hơn, dẫn đến tình trạng lệch lạc trong cách hiểu về khoa học và nghiên cứu khoa học. Thật vậy, GS. Nguyễn văn Tuấn đã ghi nhận như sau: “Hai chữ khoa học đang trở thành một loại ngôn ngữ thời thượng của một số người muốn tăng trọng lượng cho phát biểu của mình. Các quan chức sử dụng hai chữ đó như là một dấu ấn cho độ tin cậy của những nhận xét.” (Nguyễn văn Tuấn, 2012, tr.
Và cũng không loại trừ sự hiểu lệch lạc này có mối quan hệ khăng khít với tình trạng trì trệ trong hoạt động khoa học của nước ta hiện nay, trong đó có khoa học giáo dục. Nhìều tác giả đã đề cập đến nhiều nguyên nhân dẫn đến tình trạng đó, trong đó có nói đến sự lạc hậu về phương pháp nghiên cứu khoa học trong lĩnh vực này. Nhận xét sau đây của Bộ Giáo dục và Đào tạo đã khái quát được tình trạng trì trệ đó: « Phương pháp nghiên cứu [cùa khoa học giáo dục], quy trình, kỹ thuật nghiên cứu còn khá lạc hậu dẫn đến sai số hệ thống làm cho các kết luận thiếu tính thuyết phục hoặc tầm khái quát không cao » (Bộ Giáo dục và Đào tạo, 2011, tr. Vì thế, việc tìm hiểu lý thuyết về phương pháp nghiên cứu khoa học đã trở nên một nhu cầu cấp bách, nhằm điều chỉnh những hiểu biết lệch lạc và bổ sung những thiếu sót mà giới khoa học nước ta còn mắc phải.
Trong chương này, tôi chỉ nhằm 4 cung cấp cho các em sinh viên một số khái niệm then chốt, giúp các em định hướng tốt việc nghiên cứu của mình sau này mà thôi. Các định đề về khoa học Nền khoa học hiện đại dựa trên một số định đề mà mọi người phải mặc nhiên chấp nhận, nếu không, khoa học không thể tồn tại. Đó là các định đề sau đây : 1. Tình thần khoa học hay quyết định luận (A.: déterminisme) Nhà nghiên cứu triết học khoa học A.
Whitehead (1861-1947) cho rằng khoa học hiện đại dựa trên định đề đầu tiên là thế giới dù là tự nhiên hay xã hội hoặc nhân văn đều là thế giới có tổ chức, nghĩa là có những quy luật chi phối sự vận động của nó. Định đề này rất cần cho khoa học, vì nếu không chấp nhận nó, thì khoa học sẽ không có lý do để tồn tại, bởi lẽ mục đích của khoa học là khám phá những quy luật đó. Trong KHXH và giáo dục, các hiện tượng xã hội cũng như hành vi của con người cũng tuân theo những quy luật nào đó, nhưng những quy luật ấy không cố định và chặt chẽ như trong khoa học tự nhiên. Mọi sự kiện hay hiện tượng đều bắt nguồn từ những nguyên nhân có thể xác định được.
Mọi hành vi của con người đều và tuân theo những quy tắc nhất định. Mặc dù các nguyên nhân không luôn rõ ràng và các hành vi không luôn luôn hiểu được, nhưng không vì thế mà ta có thể cho rằng chúng không có trật tự. Nhiệm vụ của khoa học là từng bước khám phá ra trật tự đó, để làm cho kiến thức ngày càng đầy đủ hơn, chính xác hơn. Sử dụng dữ liệu thường nghiệm hay thường nghiệm luận: (A.: empirisme) Khoa học phải dựa vào quan sát cụ thể để tiến hành xác định đặc điểm, đặt tên, so sánh, mô tả, phân loại những sự vật và sự việc.
Đó là những dữ liệu có thể quan sát được, đo lường được và có thể kiểm chứng được, và được thu thập từ thế giới khách quan. Theo quan niệm này, kiến thức khoa học được xây dựng từ những quan sát thực tế, rồi từ quan sát đó mà hình thành nên các giả thuyết, là những ý tưởng mới mẻ về đối tượng nghiên cứu. Sau đó, các giả thuyết được kiểm chứng lại qua nhiều quan sát khác và được khái quát hóa thành những quy luật có giá trị cho những tình huống tương tự. Cũng cần nói thêm là vì hai ngành toán học và triết học không sử dụng dữ liệu thường nghiệm nên các nhà khoa học không gọi đó là các ngành khoa học, mà là các chuyên ngành luận lý.
Tính khách quan của khoa học 5 Một đặc điểm thiết yếu của khoa học là tính khách quan. Dựa trên mô hình nghiên cứu của khoa học tự nhiên, Cl. Lévi-Strauss đã nêu lên nguyên tắc đầu tiên về tính khách quan cho KHXH-NV, trong đó có khoa học giáo dục : « Mọi nghiên cứu khoa học đều dựa trên định đề về sự đối lập giữa người quan sát và đối tượng quan sát. Trong KHTN, đó là nhà nghiên cứu và thế giới tự nhiên [.
Nếu KHXH-NV muốn thực sự trở thành các ngành khoa học, thì nó cần phải giữ lại sự đối lập này, và chỉ dịch chuyển nó để đặt nó vào giữa con người : một sự phân tách giữa người quan sát và người bị quan sát » (Lévi- Strauss Cl. Trong các công đoạn nghiên cứu, nhà khoa học cần phải tiến hành có hệ thống, khách quan và hợp lôgích. Nhà nghiên cứu không được để niềm tin và suy nghĩ cá nhân của mình tác động đến kết quả quan sát và các kết luận. Mục đích của việc bảo đảm tính khách quan là để phát hiện ra kiến thức mới, độc lập với ý chí của cá nhân và cộng đồng.
Wallerstein diển giải tính khách quan như sau : « Ý nghĩa của tính chất khách quan gắn liền với quan niệm là kiến thức không phải là tiên nghiệm, rằng nghiên cứu có thể dạy chúng ta nhiều điều mà chúng ta chưa biết, rằng nó có thể đem lại nhiều ngạc nhiên so với những mong đợi ban đầu » (Wallerstein I.85) Điều này đặc biệt quan trọng vì nó giúp nhà nghiên cứu luôn luôn đi tìm kiếm kiến thức mới, xóa bỏ mọi định kiến, có đầu óc cởi mở với các ý tưởng mới mẻ ngay cả khi những ý tưởng đó đi ngược lại suy nghĩ và quan niệm của chúng ta. Nghiên cứu khoa học và sứ mệnh của khoa học Nói một cách ngắn gọn, nghiên cứu khoa học là một chuỗi các thao tác theo một quy trình chặt chẽ nhằm đi tìm lời giải đáp cho những thắc mắc của nhà nghiên cứu về đặc điểm, tính chất, hoặc nguồn gốc, nguyên nhân của hiện tượng hoặc sự vật mà nhà nghiên cứu quan tâm (gọi chung là tìm hiểu bản chất và quy luật của sự vật và hiện tượng). Lời giải đáp đó chỉ có giá trị khoa học khi nó được kiểm chứng một cách khoa học và chặt chẽ, và tất cả các lần thử nghiệm đều cho kết quả giống nhau. Lúc đó, lời giải đáp đó sẽ trở thành kiến thức khoa học.
Nếu chưa tổ chức kiểm chứng thì lời giải đáp đó vẫn chỉ là giả thuyết, chưa có giá trị khoa học. Nếu kết quả kiểm chứng đó cho thấy lời giải đáp đó sai, thì nhà khoa học phải đi tìm lời giải đáp khác, và tiếp tục kiểm chứng, cho đến khi nào có kết quả đúng thì thôi. Cách làm đó được gọi là phương pháp « thử và sai » (A. Bachelard, nhà khoa học luận người Pháp : « Mọi kiến thức đều bắt nguồn từ một câu hỏi ».
Thật vậy, từ những câu hỏi, những tò mò, những thắc mắc, 6 băn khoăn, trăn trở của con người về các sự vật và hiện tượng xung quanh ta mà người ta đi tìm câu trả lời. Những câu trả lời đó nếu nhiều lần được kiểm chứng là đúng thì sẽ trở thành kiến thức. Chính vì thế mà người ta nói là sứ mệnh của nghiên cứu khoa học là xây dựng kiến thức mới để kiến thức khoa học ngày càng nhiều hơn và sâu hơn, để khoa học ngày càng có nhiều năng lực nhận thức thế giới khách quan hơn. Kiến thức đó có thể là kiến thức tuyên bố, liên quan đến bản chất và/hoặc quy luật của đối tượng nghiên cứu, mà cũng có thể là kiến thức quy trình, nhằm hướng dẫn con người thực hiện những thao tác cải tạo hiện thực hoặc giải quyết vấn đề.
Ngô Bảo Châu đã viết: « Nghiên cứu khoa học không phải là ôn lại những kiến thức đã có, mà là một cuộc hành trình đi tìm cái mới, vượt qua biên giới của những gì đã biết để thực sự đuổi theo cái chưa biết. Nhưng đây lại là cuộc hành trình cô đơn, đòi hỏi mỗi người muốn bước đi vững chắc trên đó cần phải có một tinh thần quả cảm, dám nghĩ, dám làm. Sự quả cảm không có chỗ cho sự lười biếng, hèn nhát dụ dỗ quay lưng lại với sự thật » (Ngô Bảo Châu, 2013). Thế nhưng, trong thực tế Việt Nam ta hiện nay, khuynh hướng thiển cận và méo mó trong nghiên cứu khoa học đã phát triển tràn lan, khiến GS.
Hòang Tụy đã phải lên tiếng báo động: « Cần tỉnh táo với quan điểm thực dụng thiển cận, thường khoác áo chính trị “khoa học phải phục vụ đời sống, phục vụ sản xuất” để bác bỏ sự cần thiết của nghiên cứu cơ bản, đòi hỏi mọi nghiên cứu khoa học phải có ứng dụng ngay, mà không biết rằng hơn 99% công trình khoa học trên thế giới đâu có ứng dụng trực tiếp ngay được… Không có 99% công trình khoa học tưởng như vô ích kia thì cũng chẳng thể có 1% công trình hữu ích nọ » (Hoàng Tụy, 2013). Nếu có thể nói một cách hình tượng, NCKH là dựa vào phần quan sát được của tảng băng trôi để khám phá ra những gì không quan sát được nằm bên dưới. Hình 1: NCKH là khám phá những gì ở dưới tảng băng trôi. 7 Trong xu thế toàn cầu hóa hiện nay, xuất hiện yêu cầu mới là kiến thức khoa học cần phải được cộng đồng khoa học thế giới tham gia kiểm chứng và công nhận.
Vì thế, từ một thập niên gần đây, giới khoa học đã đề nghị các kết quả nghiên cứu phải được công bố trên các tạp chí có uy tín trên thế giới (Danh mục ISI) để bảo đảm rằng các kiến thức đó là « mới thực sự ». Sự lo lắng này cũng có cơ sở, vì người nghiên cứu dễ nhầm lẫn giữa cái mới của cá nhân (hoặc của nhóm), với cái mới tuyệt đối, chưa ai biết đến.