Chương I. Triết học và vai trò của triết học trong đời sống xã hội 23 quá trình sản xuất vật chất, về những quy luật kinh tế khách quan của A. Ricacđô; đồng thời chỉ ra những hạn chế trong học thuyết của các ông và giải quyết những bế tắc mà bản thân các nhà kinh tế chính trị học cổ điển Anh đã không thể vượt qua.Mác đã xây dựng nên lý luận về giá trị thặng dư, luận chứng cho bản chất bóc lột của chủ nghĩa tư bản, nguồn gốc dẫn đến sự thay thế chủ nghĩa tư bản bằng chủ nghĩa cộng sản. + Chủ nghĩa xã hội không tưởng Pháp: với những đại biểu tiêu biểu như H.
Tinh thần nhân đạo, sự phê phán những bất công của chủ nghĩa tư bản, những quan niệm sâu sắc về đặc trưng của xã hội tương lai trong học thuyết của các ông là một trong những tiền đề quan trọng cho sự ra đời của chủ nghĩa xã hội khoa học. - Tiền đề khoa học tự nhiên: Sự ra đời và phát triển của chủ nghĩa Mác còn dựa trên những thành tựu của khoa học tự nhiên. Vào thế kỷ XIX, khoa học tự nhiên thời kỳ này phát triển mạnh mẽ, đặc biệt có ba công trình khoa học vĩ đại: + Định luật bảo toàn và chuyển hoá năng lượng chứng minh sự chuyển hoá và bảo toàn của các hình thức vận động của vật chất, vật chất không tự nhiên sinh ra, không tự nhiên mất đi mà chỉ chuyển hóa từ dạng này sang dạng khác. + Học thuyết tiến hoá chứng minh nguyên lý phát triển của chủ nghĩa Mác – Lênin, mọi sự vật, hiện tượng tồn tại khách quan, đều có quá trình phát sinh, phát triển từ thấp đến cao, từ đơn giản đến phức tạp, từ hiện tượng đến bản chất.
+ Học thuyết tế bào chứng minh tính thống nhất của toàn bộ sự sống, thế giới vô cùng phong phú, đa dạng nhưng đều thống nhất ở tính vật chất của nó. Những phát minh trên đã chứng minh tính khoa học đúng đắn của thế giới quan duy vật biện chứng và phương pháp luận biện chứng duy vật. 24 TÀI LIỆU HƯỚNG DẪN HỌC TRIẾT HỌC MÁC-LÊNIN TRIẾT HỌC KINH TẾ CHỦ NGHĨA HỌC HỌC ĐỊNH LUẬT CỔ ĐIỂN CHÍNH TRỊ XÃ HỘI THUYẾT THUYẾT BẢO TOÀN ĐỨC CỔ ĐIỂN KHÔNG TẾ BÀO TIẾN HÓA VÀ CHUYỂN ANH TƯỞNG HÓA NĂNG ANH, PHÁP LƯƠNG b. Những thời kỳ chủ yếu trong sự hình thành và phát triển của Triết học Mác - Lênin - Quá trình chuyển biến tư tưởng của C.
Ăngghen từ chủ nghĩa duy tâm và chủ nghĩa dân chủ cách mạng sang chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa cộng sản. - Giai đoạn đề xuất những nguyên lý triết học duy vật biện chứng và duy vật lịch sử ( từ năm 1844 đến năm 1848). - Giai đoạn Mác và Ăngghen bổ sung và phát triển lý luận triết học. Thực chất và ý nghĩa cuộc cách mạng trong triết học do C.Ăngghen thực hiện - Mác và Ăngghen đã kế thừa một cách có phê phán những thành tựu của tư duy nhân loại, sáng tạo nên chủ nghĩa duy vật triệt để.
- Triết học Mác đã khắc phục sự tách rời thế giới quan duy vật và phép biện chứng trong lịch sử phát triển của triết học, Mác đã làm cho chủ nghĩa duy vật trở nên “hoàn bị và mở rộng học thuyết ấy từ chỗ nhận thức giới tự nhiên đến chỗ nhận thức xã hội loài người, chủ nghĩa duy vật lịch sử của Mác là thành tựu vĩ đại nhất của tư tưởng khoa học”. Đó là cuộc cách mạng thật sự trong triết học xã hội, yếu tố chủ yếu của bước ngoặt cách mạng mà Mác và Ăngghen đã thực hiện trong triết học. - Triết học Mác là thế giới quan khoa học của giai cấp công nhân, giai cấp tiến bộ và cách mạng nhất, một giai cấp có lợi ích phù hợp Chương I. Triết học và vai trò của triết học trong đời sống xã hội 25 với lợi ích cơ bản của nhân dân lao động và sự phát triển xã hội.
Sự kết hợp lý luận của chủ nghĩa Mác với phong trào công nhân đã tạo nên bước chuyển biến về chất của phong trào từ trình độ tự phát lên tự giác. - Vai trò cách mạng to lớn của triết học Mác được nâng cao còn vì sự thống nhất tính khoa học với tính cách mạng trong bản thân lý luận của nó. Sự thống nhất hữu cơ chủ nghĩa duy vật với phép biện chứng làm cho triết học mác-xít mang tính cách mạng sâu sắc nhất. Sức mạnh “cải tạo thế giới” của triết học mác- xít chính là ở sự gắn bó mật thiết với cuộc đấu tranh cách mạng của giai cấp vô sản cách mạng, với quần chúng nhân dân đông đảo.
Giai đoạn Lênin đóng góp sự phát triển triết học Mác Trong khi lãnh đạo công cuộc xây dựng những cơ sở ban đầu của chủ nghĩa xã hội, Lênin tiếp tục có những đóng góp mới quan trọng vào việc phát triển triết học Mác. Để bảo vệ chủ nghĩa Mác, V.Lênin không chỉ phê phán không khoan nhượng đối với mọi kẻ thù của chủ nghĩa Mác, mà còn kịch liệt phê phán những người nhân danh lý luận của Mác trên lời nói nhưng thực tế là chủ nghĩa xét lại, hoặc ít ra đã xa rời học thuyết của Mác. Đồng thời, Lênin chú trọng tổng kết kinh nghiệm thực tiễn cách mạng và dựa vào những thành quả mới nhất của khoa học để bổ sung, phát triển di sản lý luận mà Mác và Ăngghen để lại. Với tinh thần biện chứng duy vật, xem chân lý là cụ thể, có khi V.Lênin đã phải thay đổi một cách căn bản đối với một quan niệm nào đó của mình về chủ nghĩa xã hội, không chấp nhận mọi thứ biểu hiện của chủ nghĩa giáo điều.
Chính vì thế mà một giai đoạn mới trong sự phát triển của chủ nghĩa Mác nói chung, triết học Mác nói riêng đã gắn liền với tên tuổi của V.Lênin và được gọi là triết học Mác - Lênin nói riêng, chủ nghĩa Mác - Lênin nói chung. Đối tượng và chức năng của triết học Mác a. Khái niệm triết học Mác - Lênin Triết học Mác - Lênin là một trong ba bộ phận cấu thành của chủ nghĩa Mác - Lênin, được C. Ăngghen sáng lập vào giữa thế 26 TÀI LIỆU HƯỚNG DẪN HỌC TRIẾT HỌC MÁC-LÊNIN kỷ thứ XIX, sau đó được V.Lênin phát triển.
Triết học Mác - Lênin ra đời vào những năm 40 thế kỉ XIX và được phát triển gắn chặt với những thành tựu khoa học và thực tiễn trong phong trào cách mạng công nhân. Sự ra đời của triết học Mác - Lênin là một cuộc cách mạng thực sự trong lịch sử tư tưởng loài người, trong lịch sử triết học. Triết học Mác – Lênin là hệ thống quan điểm duy vật biện chứng về tự nhiên, xã hội và tư duy - thế giới quan và phương pháp luận khoa học, cách mạng của giai cấp công nhân và nhân dân lao động để nhận thức và cải tạo thế giới. Đối tượng của triết học Mác – Lênin Tiếp tục giải quyết mối quan hệ giữa vật chất và ý thức trên lập trường duy vật biện chứng và nghiên cứu những quy luật vận động phát triển chung nhất của tự nhiên, xã hội và của tư duy.
Với việc xác định đối tượng nghiên cứu như vậy, triết học Mác - Lênin có đối tượng nghiên cứu khác với các khoa học cụ thể. Các khoa học cụ thể nghiên cứu những quy luật trong các lĩnh vực riêng biệt của tự nhiên, xã hội hoặc tư duy, còn triết học Mác - Lênin nghiên cứu những quy luật chung nhất, phổ biến nhất, tác động đến cả lĩnh vực tự nhiên, xã hội và tư duy. Tuy có đối tượng nghiên cứu khác nhau nhưng giữa triết học Mác - Lênin và các khoa học cụ thể có mối quan hệ gắn bó chặt chẽ, bổ sung cho nhau. Các khoa học cụ thể cung cấp những dữ liệu, đặt ra những vấn đề khoa học mới, làm tiền đề, cơ sở cho sự phát triển triết học.
Các khoa học cụ thể tuy có đối tượng và chức năng riêng của mình nhưng đều phải dựa vào một thế giới quan và một phương pháp luận triết học nhất định. Chức năng của triết học Mác – Lênin - Chức năng thế giới quan: Triết học Mác - Lênin mang lại thế giới quan duy vật biện chứng, là hạt nhân thế giới quan khoa học và cách mạng. Hệ thống quan điểm khoa học, duy vật biện chứng về thế giới là nhân tố định hướng con người nhận thức đúng đắn thế giới hiện thực, nắm được bản chất của tự nhiên, xã hội và tư duy, giúp con người hình thành quan điểm khoa học định hướng mọi hoạt động. Như vậy, thế giới Chương I.
Triết học và vai trò của triết học trong đời sống xã hội 27 quan cũng đóng vai trò phương pháp luận. Thế giới quan duy vật biện chứng có vai trò là cơ sở khoa học để đấu tranh với các loại thế giới quan duy tâm, tôn giáo, phản khoa học. Với bản chất khoa học và cách mạng, thế giới quan duy vật biện chứng là hạt nhân trong hệ tư tưởng của giai cấp công nhân và các lực lượng tiến bộ, cách mạng, là cơ sở lý luận trong cuộc đấu tranh với các tư tưởng phản cách mạng, phản động, phòng, chống chiến lược “Diễn biến hòa bình”, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” hiện nay. - Chức năng phương pháp luận: Triết học Mác - Lênin thực hiện chức năng phương pháp luận chung nhất cho nhận thức và thực tiễn, trang bị cho con người hệ thống những nguyên tắc, quy tắc, yêu cầu cũng như hệ thống các khái niệm, phạm trù, quy luật để làm công cụ nhận thức, giúp con người phát triển tư duy khoa học.
Tuy nhiên, triết học Mác - Lênin không phải là “chìa khóa vạn năng” có thể giải quyết được mọi vấn đề. Để đem lại hiệu quả trong nhận thức và hành động, cùng với tri thức triết học, con người cần phải có tri thức khoa học, công nghệ cụ thể và kinh nghiệm hoạt động thực tiễn. Vai trò của triết học Mác - Lênin trong đời sống và trong sự nghiệp đổi mới ở Việt Nam hiện nay - Triết học Mác – Lênin là thế giới quan, phương pháp luận khoa học và cách mạng cho con người trong nhận thức và thực tiễn - Triết học Mác – Lênin là cơ sở thế giới quan và phương pháp luận khoa học và cách mạng để phân tích xu hướng phát triển của xã hội trong điều kiện cuộc cách mạng khoa học và công nghệ hiện đại phát triển mạnh mẽ.