Giáo trình Chủ nghĩa xã hội khoa học: Chương 1 - Nhập môn và Hoàn cảnh ra đời

Giáo trình nghiên cứu chủ nghĩa xã hội và khoa học, trình bày lý thuyết rõ ràng, minh họa ví dụ thực tế, phù hợp sinh viên ., phục vụ nghiên cứu và ứng dụng thực tiễn

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

giáo trình
173
3
0

Phí lưu trữ

45 Point

Mục lục chi tiết

1. CHƯƠNG 1: NHẬP MÔN CHỦ NGHĨA XÃ HỘI KHOA HỌC

1.1. Về kiến thức: sinh viên có kiến thức cơ bản, hệ thống về sự ra đời, các giai doạn phát triển; đối tượng, phương pháp và ý nghĩa của việc học tập, nghiên cứu chủ nghĩa xã hội khoa học, một trong ba bộ phận hợp thành chủ nghĩa Mác- Lênin

1.2. Về kỹ năng: sinh viên, khả năng luận chứng được khách thể và đối tượng nghiên cứu của khoa học và của một vấn đề nghiên cứu; phân biệt được những vấn đề chính trị- xã hội trong đời sống hiện thực

1.3. Về tư tưởng: sinh viên có thái độ tích cực với việc học tập các môn lí luận chính trị; có niềm tin vào mục tiêu, lý tưởng và sự thành công của công cuộc đổi mới do Đảng Cộng sản Việt Nam khởi xướng và lãnh đạo

1.4. SỰ RA ĐỜI CỦA CHỦ NGHĨA XÃ HỘI KHOA HỌC

1.4.1. Chủ nghĩa xã hội khoa học được hiểu theo hai nghĩa

1.4.2. Hoàn cảnh lịch sử ra đời chủ nghĩa xã hội khoa học

1.4.2.1. Điều kiện kinh tế - xã hội
1.4.2.2. Tiền đề khoa học tự nhiên và tư tưởng lý luận
1.4.2.2.1. Tiền đề khoa học tự nhiên
1.4.2.2.2. Tiền đề tư tưởng lý luận

1.4.3. Vai trò của Các Mác và Phriđrích Ăngghen

1.4.3.1. Sự chuyển biến lập trường triết học và lập trường chính trị
1.4.3.2. Ba phát kiến vĩ đại của C.Ăngghen
1.4.3.2.1. Chủ nghĩa duy vật lịch sử
1.4.3.2.2. Học thuyết về giá trị thặng dư
1.4.3.2.3. Học thuyết về sứ mệnh lịch sử toàn thế giới của giai cấp công nhân

1.4.4. Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản đánh dấu sự ra đời của chủ nghĩa xã hội khoa học

1.5. CÁC GIAI ĐOẠN PHÁT TRIỂN CƠ BẢN CỦA CHỦ NGHĨA XÃ HỘI KHOA HỌC

1.5.1. Ăngghen phát triển chủ nghĩa xã hội khoa học

1.5.1.1. Thời kỳ từ 1848 đến Công xã Pari (1871)
1.5.1.2. Thời kỳ sau Công xã Pari đến 1895

1.5.2. V.Lênin vận dụng và phát triển chủ nghĩa xã hội khoa học trong điều kiện mới

1.5.2.1. Thời kỳ trước Cách mạng Tháng Mười Nga

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1 NHẬP MÔN CHỦ NGHĨA XÃ HỘI KHOA HỌC A. Về kiến thức: sinh viên có kiến thức cơ bản, hệ thống về sự ra đời, các giai doạn phát triển; đối tượng, phương pháp và ý nghĩa của việc học tập, nghiên cứu chủ nghĩa xã hội khoa học, một trong ba bộ phận hợp thành chủ nghĩa Mác- Lênin. Về kỹ năng: sinh viên, khả năng luận chứng được khách thể và đối tượng nghiên cứu của khoa học và của một vấn đề nghiên cứu; phân biệt được những vấn đề chính trị- xã hội trong đời sống hiện thực. Về tư tưởng: sinh viên có thái độ tích cực với việc học tập các môn lí luận chính trị; có niềm tin vào mục tiêu, lý tưởng và sự thành công của công cuộc đổi mới do Đảng Cộng sản Việt Nam khởi xướng và lãnh đạo. SỰ RA ĐỜI CỦA CHỦ NGHĨA XÃ HỘI KHOA HỌC Chủ nghĩa xã hội khoa học được hiểu theo hai nghĩa: Theo nghĩa rộng, Chủ nghĩa xã hội khoa học là chủ nghĩa Mác- Lê nin, luận giải từ các giác độ triết học, kinh tế học chính trị và chính trị- xã hội về sự chuyển biến tất yếu của xã hội loài người từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng sản.Lênin đã đánh giá khái quát “Tư bản”- tác phẩm chủ yếu và cơ bản trình bày chủ nghĩa xã hội khoa học… những yếu tố đó nảy sinh ra chế độ tương lai”1. Theo nghĩa hẹp, chủ nghĩa xã hôi khoa học là một trong ba bộ phận hợp thành chủ nghĩa Mác- Lê nin. Trong tác phẩm “Chống Đuyrinh”, Ph.Ăngghen đã viết ba phần: “triết học”, “kinh tế chính trị”, “chủ nghĩa xã hội khoa học”.Lênin, khi viết tác phẩm “ba nguồn gốc và ba bộ phận hợp thành chủ nghĩa Mác” đã khẳng định: “Nó là người thừa kế chính đáng của tất cả những cái tốt đẹp nhất mà loài người đã taọ ra hồi thế kỉ XIX, đó là triết học Đức, kinh tế chính trị học Anh và chủ nghĩa xã hội Pháp”2.Lênin, Toàn tập, Nxb, Tiến bộ, M.Lênin, Toàn tập, Nxb, Tiến bộ, M.50 1 Trong khuôn khổ môn học này, chủ nghĩa xã hội khoa học được nghiên cứu theo nghĩa hẹp. Hoàn cảnh lịch sử ra đời chủ nghĩa xã hội khoa học 1. Điều kiện kinh tế - xã hội Vào những năm 40 của thế kỉ XIX, cuộc cách mạng công nghiệp phát triển mạnh mẽ tạo nên nền đại công nghiệp. Nền đại công nghiệp cơ khí làm cho phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa có bước phát triển vượt bậc. trong tác phẩm “Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản”, C.Ăngghen đánh giá: “Giai cáp tư sản trong quá trình thống trị giai cấp chưa đầy một thế kỷ đã tao ra một lực lượng sản xuất nhiều hơn và đồ sộ hơn lực lượng sản xuất của các thế hệ trước đây gộp lại”1. Cùng với quá trình phát triển cả nền đại công nghiệp, sư ra đời của hai giai cấp cơ bản, đối lập về lợi ích, nhưng nương tựa vào nhau: giai cấp tư sản với giai cấp công nhân. Cũng từ đây, cuộc đấu tranh của giai cấp công nhân chống lại sự thống trị áp bức của giai cấp tư sản, biểu hiện về mặt xã hội của mẫu thuẫn ngày càng quyết liệt giữa lực lượng sản xuất mang tính chấ xã hội với quan hệ sản xuất giữa trên chế độ chiếm hữu tư nhân tư bản xã hội chủ nghĩa về tư liệu sản xuất. Do đó, nhiều cuộc khởi nghĩa, phong trào đấu tranh đã bắt đầu và từng bước có tổ chức và quy mô rộng khắp. Phong trào Hiến chương của những người lao động ở nước Anh diễn ra trên 10 năm (1836 – 1848); Phong trào công nhân dệt ở thành phố Xi-lê-di, nước Đức diễn ra năm 1844. Đặc biệt, phong trào công nhân dệt thành phố Li-on, nước Pháp diễn ra vào năm 1831 và năm 1834 đã có tính chất chính trị rõ nét. Nếu năm 1831, phong trào đấy tranh của gia cấp công nhân Li-on giương cao khẩu hiệu thuần túy có tính chất kinh tế “sống có việc làm hay là chết trong đấu tranh” thì đến năm 1834, khẩu hiệu của phong trào đã chuyển sang mục đích chính trị: “Cộng hòa hay là chết”. Sự phát triển nhanh chóng có tính chính trị công khai của phong trào công nhân đã minh chứng, lần đầu tiên, giai cấp công nhân đã xuất hiên như một lực lượng chính tri độc lập với nhũng yêu sách kinh tế, chính trị riêng của mình và bắt đầu hướng thẳng mũi nhọncủa cuộc đấu tranh vào kẻ thù chính của mình là giai cấp tư sản. Sự lớn mạnh của phong trào đấu tranh của giai cấp công nhân đòi hỏi một cách bức thiết 1 C.Ăngghen, Toàn tập, Mxb CTQG, Hà Nội, 1995, t.603 2 phải có một hệ thống lý luận so đường và một cương lĩnh chính trị làm kim chỉ nam cho hành động. Điều kiện kinh tế - xã hội ấy không chỉ đặt ra yêu cầu đối với các nhà tư tưởng của giai cấp công nhân mà còn là mảnh đất hiện thực cho sự ra đời một lý luân mới, tiến bộ- chủ nghĩa xã hội khoa học. Tiền đề khoa học tự nhiên và tư tưởng lý luận a) Tiền đề khoa học tự nhiên Sau thế kỷ ánh sáng, đến đầu thế kỷ XIX, nhân loại đã đạt nhiều thành tựu to lớn trên lĩnh vực khoa học, tiêu biểu là ba phát minh tạo nền tảng cho phát triển tư duy lý luận. Trong khoa học tự nhiên, những phát minh vạch thời đại trong vật lý học và sinh học đã tạo ra bước phát triển đột phá có tính cách mạng: Học thuyết Tiến hóa; định luật bảo toàn và chuyển hóa năng lương, Học thuyết tế bào1. Những phát minh này là tiền đề khoa học cho sự ra đời của chủ nghĩa duy vật biên chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử, cơ sở phương pháp luận cho các nhà sáng lập chủ nghĩa xã hội khoa học nghiên cứu những vấn đề lý luận chính trị - xã hội đương thời. b) Tiền đề tư tưởng lý luận Cùng với sự phát triển của khoa học tự nhiên, khoa học xã hội cũng có nhưng thành tựu đáng ghi nhận, trong đó có triết học cổ điển Đức với tên tuổi của các nhà triết học vĩ đại: Ph.Phoiơbắc (1804-1872); kinh tế chính trị học cổ điển Anh với A.Ricardo (1772-1823); chủ nghĩa không tưởng phê phán mà đại bểu là Xanh Ximong và R. Những tư tưởng xã hội chủ nghĩa không tưởng Pháp đã có những có những giá trị nhất định: 1) Thể hiện tinh thần phê phán, lên án chế độ quân chủ chuyên chế và chế và chế độ tư bản chủ nghĩa đầy bất công, xung đột, của cải khánh kiệt, đạo đức ảo lộn, tội ác gia tăng; 2) đã ưa ra nhiều luận điểm có giá trị về xã hội tương lai; về tổ chức sản xuất và phân phối sản phẩm xã hội; vai trò của công nghiệp và khoa học - kỹ 1 Học thuyết Tiến hóa (1859) của người Anh Charles Robert Darwin (1809-1882); Định luật Bảo toàn và chuyển hóa năng lượng (1842-1845), của người Nga Mikhail Vasilyevich Lomonoasov(1711-1765) và ngời Đức Julius Robert Mayer (1814-1878); Học thuyết tế bào (1838-1839) của nhà thực vật học người đức Matthias Jakob Schleiden (1804-1881) và nhà vật lý học người Đức Thedor Schwam (1810-1882) 3 thuật; yêu cầu xóa bỏ sự đối lập giữa lao động chân tay và lao động trí óc; về sự nghiệp giải phóng phụ nữ và về vai trò lịch sử của nhà nước….; 3) chính những tư tưởng có tính phê phán và sự dấn thân trong thực tiễn của các nhà xã hội chủ nghĩa không tưởng, trong chừng mực, đã thức tỉnh giải cấp công nhân và người lao động trong cuôc đấu tranh chống chế độ quân chủ chuyên chế và chế độ tư bản chủ nghĩa đầy bất công, xung đột. Tuy nhiên, những tư tưởng xã hôi chủ nghĩa không tưởng phê còn không ít những hạn chế hoặc do điều kiện lịch sử, hoặc do chính sự hạn chế về tầm nhìn và thế giới quan của những nhà t tưởng, chẳng hạn, không phát hiện ra lực lượng xẫ hội tiên phong có thể thực hiện cuộc chuyển biến cách mạng từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa cộng sản, giai cấp công nhân; không chỉ ra được những biên pháp thực hiện cải tạo xã hội áp bức, bất công đương thời, xây dựng xã hội mới tốt đẹp.Lênin trong tác phẩm “Ba nguồn gốc, ba bộ phận hợp thành chủ nghĩa Mác” đã nận xét: chỉ nghĩa xã hội không tưởng không thể vạc ra được lối thoát thực sự. Nó không giải thích được bản chất của chế độ làm thuê trong chế độ tư bản cũng không phát hiện ra được những quy luật phát triển của chế độ tư bản và cũng không tìm được lực lượng xã hội có khả năng trở thành người sáng tạo ra xã hội mới. Chính vì những hạn chế ấy, mà chủ nghĩa xã hội không tưởng phê phán chỉ dừng lai ở mức độ một học thuyết xã hội chủ nghĩa không tưởng- phê phán. Song vượt lên tất cả, những giá trị khoa học cống hiến của các nhà tư tưởng đã tạo ra tiền đề tư tương- lý luận, để C.Ăngghen kế thừa những hạt nhân hợp lý, lọc bỏ những bất hợp lý, xây dựng và phát triển chủ nghĩa xã hội khoa học. Vai trò của Các Mác và Phriđrích Ăngghen Những điều kiện kinh tế- xã hội và những tiền đề khoa học tự nhiên và tư tưởng l luân là điều kiện cần cho một học thuyết ra đời, song điều kiện đủ để hoc thuyết khoa học, cách mạng và sáng tạo ra đời chính là vai trò của C.Ăngghen (1820-1895) trưởng thành ở Đc, đát nước có nền triết học phát trển rực rỡ vỡi những thành tựu nổi bật là chủ nghĩa duy vật của L.Phoiơbắc và phép biện chứng cua V. bằng trí tuệ uyên bác và sự dấn thân trong phong trào đấu tranh của giai cấp công nhân và nhân dân lao động C.Ăngghen đến với nhau, đã tiếp thu các giá trị của nền triết học cổ điển, kinh tế chính trị học cổ điển Anh và kho tàng tri thc của nhân loại để các ông trở thành những nhà khoa học thiên tài, những nhà cách mạng vĩ đại nhất thời đại. Sự chuyển biến lập trường triết học và lập trường chính trị Thoạt đầu, khi bước vào hoạt động khoa học, C.Ăng ghen là hai thành viên tích cực của câu lạc bộ Heeghen trẻ và chịu ảnh hưởng của quan điểm tiết học của V. Với nhãn quan khoa hc uyên bác, các ông đã sớm nhận ra những mặt tích cực và hạn chế của V. Với triết học của V.Hê ghen, tuy mang quan điểm duy tâm, nhưng chứa đựng “cái hạt nhân” hợp lý của phép biện chứng, còn đối với triết học của L.Phoiơbắc, tuy mang quan điểm siêu hình, song nội dung lại thấm nhuần quan niệm duy vật.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ