Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HỨNG THÚ GIAO TIẾP VỚI CHA MẸ CỦA HỌC SINH LỚP 12 1. Tổng quan nghiên cứu vấn đề 1. Nghiên cứu ở nước ngoài Từ thế kỷ XVIII đến nay, trên thế giới đã có rất nhiều công trình nghiên cứu về hứng thú. Trong đó, phải kể đến các nghiên cứu sau: Herbart (1776-1841) nhà tâm lý học, nhà giáo dục học, nhà triết học, người Đức đã sáng tạo ra trường phái giáo dục hiện đại ở Đức thế kỷ 19.
Ông đã đưa ra 4 mức độ của dạy học đó là tính sáng tạo, tính liên tưởng, tính thống nhất phong phú và đặc biệt hứng thú là yếu tố quyết định hiệu quả học tập của môn học (Nguyễn Thị Thanh Mai, 2015). Năm 1931, nhà tâm lý học người Mỹ I.Strong đã tìm hiểu về “Sự biến đổi tâm lý theo lứa tuổi” và ông cho rằng sự phát triển của hứng thú thường gắn liền với sự phát triển lứa tuổi. Điều này dễ hiểu vì muốn hình thành một hứng thú nào đó, cần phải có mức độ phát triển tâm lý cũng như một mức độ trí tuệ và kinh nghiệm nhất định (Trần Phi Hùng, 2014).Buher đã nghiên cứu công trình “Phát triển hứng thú ở trẻ em”. Từ những năm 1940 của thế kỷ XX một số nhà tâm lý học Nga như S.Beliep,… Đã có những công trình nghiên cứu về hứng thú, con đường hình thành hứng thú (Nguyễn Thị Ái, 2011).Believ đã bảo vệ thành công luận án tiến sĩ về vấn đề “Tâm lý học hứng thú” nội dung cơ bản của luận án là những vấn đề về lý luận tổng quát về hứng thú trong khoa học tâm lý (Bùi Hiền, Nguyễn Văn Giao, Nguyễn Hữu Quỳnh, Vũ Văn Tảo, 2005).Clapade với vấn đề “ Tâm lý trẻ em và thực nghiệm sư phạm” đã đưa ra khái niệm hứng thú dựa trên bản chất sinh học.
Clapade đã 8 nhấn mạnh tầm quan trọng của hứng thú trong hoạt động của con người và cho rằng quy luật của hứng thú là cái trục duy nhất mà tất cả hệ thống phải xoay quanh nó (Nguyễn Thị Bích Thủy, 2010).Marozova nghiên cứu sự khác nhau trong việc hình thành hứng thú của trẻ em trong sự phát triển bình thường và sự phát triển không bình thường. Ông đã nghiên cứu vấn đề “Tác dụng của việc giảng dạy nêu vấn đề đối với hứng thú nhận thức của sinh viên”. Năm 1976 tác giả đã đưa ra cấu trúc tâm lý của hứng thú đồng thời còn phân tích những điều kiện và khả năng giáo dục hứng thú trong quá trình học tập và lao động của HS (Nguyễn Thị Bích Thủy, 2010).Sukina với công trình nghiên cứu vấn đề “Hứng thú trong khoa học giáo dục” đã đưa ra khái niệm về hứng thú cùng với biểu hiện của nó. Đồng thời, tác giả còn nêu lên nguồn gốc cơ bản của hứng thú nhận thức là nội dung tài liệu và hoạt động của người học (Nguyễn Thị Bích Thủy, 2010).Piaget (1896-1996), nhà tâm lý học người Thụy Sĩ đã có rất nhiều công trình nghiên cứu về trí tuệ trẻ em và giáo dục.
Ông rất chú trọng đến hứng thú của HS, ông cho rằng “Nhà trường kiểu mới đòi hỏi phải hoạt động thực sự, phải làm việc một cách chủ động dựa trên nhu cầu và hứng thú cá nhân”. Ông nhấn mạnh: cũng giống như người lớn trẻ em là một thực thể mà hoạt động cũng bị chi phối bởi quy luật hứng thú hoặc nhu cầu. Nó sẽ không đem lại hiệu suất đầy đủ nếu người ta không khiêu gợi những động cơ nội tại của hoạt động đó. Ông cho rằng mọi việc làm của trí thông minh đều dựa trên hứng thú, hưng thú chẳng qua chỉ là một trạng thái chức năng của sự đồng hóa (Nguyễn Thị Bích Thủy, 2010).
9 Nghiên cứu về nhu cầu giao tiếp, A. Vedenov cho rằng nhu cầu giao tiếp chỉ có ở con người, có tính bẩm sinh và di truyền. Cùng quan điểm với ông, trong tác phẩm “Tâm Lý học tình bạn tuổi trẻ” L.X Côn đã viết: “Con người là một thực thể xã hội, có nhu cầu giao tiếp và tiếp xúc về tình cảm với người khác là một nhu cầu bẩm sinh”. Trong đó, bằng các thực nghiệm tâm lý học mô tả L.
Cono cũng chứng minh quá trình phát triển nhu cầu giao tiếp của con người từ 2, 3 tháng tuổi đến lứa tuổi thiếu niên và đặc điểm nhu cầu giao tiếp của từng độ tuổi (Nguyễn Thị Xuân Phương, 2015). Ngoài ra, nghiên cứu sự hình thành và phát triển của nhu cầu giao tiếp của trẻ em trong mối quan hệ với người lớn, các tác giả V. Rutxcaia, đã chỉ ra: Nhu cầu giao tiếp sẽ thay đổi tùy theo nội dung, tính chất của hoạt động chung giữa trẻ em và người lớn. Trong mỗi giai đoạn phát triển nhu cầu giao tiếp được thừa nhận như là nhu cầu có được nhờ sự tham gia của người lớn, sự tham gia này vô cùng cần thiết để trẻ em giải quyết các vấn đề cơ bản, đặc thù đối với lứa tuổi này (Nguyễn Thị Xuân Phương, 2015).
Như vậy, trên thế giới có rất nhiều công trình nghiên cứu về hứng thú xuất hiện rất sớm và rất phong phú, chúng ta có thể khái quát theo ba xu hướng: Thứ nhất là xu hướng giải thích bản chất tâm lý của hứng thú, người đại diện cho xu hướng này là A.Beliep với luận án “Tâm lý học hứng thú”. Thứ hai là xu hướng xem xét hứng thú trong mối quan hệ với sự phát triển nhân cách nói chung và vốn tri thức của cá nhân nói riêng, đại diện là L.Bôgiôvich, Lukin, LêviTốp,… Thứ ba là xu hướng nghiên cứu sự hình thành và phát triển hứng thú theo các giai đoạn lứa tuổi, đại diện là G. Nghiên cứu ở Việt Nam Tại Việt Nam đã có rất nhiều công trình nghiên cứu về hứng thú ở các khía cạnh khác nhau như: Nghiên cứu hứng thú học các môn học, nghiên cứu hứng thú học nghề phổ thông và nghề nghiệp,… Năm 1960, các tác giả Minh Đức, Phạm Cốc, Đỗ Thị Xuân trong cuốn tâm lý học giảng dạy ở Đại học Sư phạm Hà Nội đã đề cập đến vấn đề chung về hứng thú. Kế đến trong các nghiên cứu của mình, các tác giả Phạm Minh Hạc, Trần Trọng Thủy, Nguyễn Quang Uẩn,… cũng đã trình bày về hứng thú, vai trò của hứng thú với học tập và các hoạt động khác.
Năm 1973, Phạm Tất Dong trong luận án phó tiến sĩ “Một số đặc điểm hứng thú nghề của học sinh lớn và nhiệm vụ hướng nghiệp”. Đã khẳng định sự khác biệt về hứng thú học tập giữa nam và nữ, hứng thú nghề nghiệp không thống nhất với xu hướng phát triển nghề của xã hội, công tác hướng nghiệp ở trường phổ thông không được thực hiện nên các em học sinh chịu nhiều thiệt thòi. Hứng thú học tập các bộ môn của học sinh là cơ sở để đề ra nhiệm vụ hướng nghiệp một các khoa học (Nguyễn Thị Bích Thủy, 2010). Năm 1980, Nguyễn Thanh Bình nghiên cứu đề tài: “Bước đầu tìm hiểu nguyên nhân gây hứng thú học tập tâm lý học của sinh viên khoa tự nhiên trường Đại học Sư phạm Hà Nội I”.
Tác giả đề xuất 5 biện pháp giáo dục hứng thú cho sinh viên: Giáo dục mục đích, động cơ học tập cho học sinh thấy rõ ý nghĩa của môn học, giáo dục gắn với thực tiễn có đủ tài liệu tham khảo cho sinh viên và tổ chuyên môn, bồi dưỡng năng lực giảng dạy cho giáo viên( Nguyễn Thị Thanh Mai, 2015). Năm 1981, Phùng Minh Nguyệt trong nghiên cứu: “Bước đầu tìm hiểu thực trạng hứng thú đối với nghề sư phạm của giáo sinh trường Cao Đẳng Sư phạm Nghĩa Bình”. Cho rằng, muốn nâng cao hứng thú nghề nghiệp cho giáo sinh phải tổ chức các đợt thực tập nhằm thâm nhập vào thực tiễn, thực hành công việc của mình (Nguyễn Thị Mai, 2015). 11 Năm 1982, Đinh Thị Chiến với nghiên cứu “Bước đầu tìm hiểu hứng thú với nghề sư phạm của giáo sinh cao đẳng sư phạm Nghĩa Bình” đã đưa ra 3 biện pháp để giáo dục hứng thú đối với nghề sư phạm cho giáo sinh, trong đó tác giả nhấn mạnh vai trò đặc biệt quan trọng của dư luận xã hội (Nguyễn Thị Bích Thủy 2010).
Năm 1986, Hoàng Kim Thu nghiên cứu “Hình thành hứng thú nghề nghiệp cho học sinh thông qua giảng dạy môn Vật Lý”. Kết quả nghiên cứu thực nghiệm nói lên rằng hình thức học ngoại khóa có tác động lớn đến hình thành hứng thú nghề nghiệp lấy kiến thức vật lý làm cơ sở cho học sinh (Nguyễn Thị Mai 2015). Năm 1987, Nguyễn Khắc Mai với đề tài “Bước đầu tìm hiểu thực trạng hứng thú với hoạt động rèn luyện nghiệp vụ sư phạm thường xuyên của sinh viên khoa tâm lý giáo dục”. Tác giả đưa ra những nguyên nhân gây hứng thú là do ý nghĩa môn học, trình độ của sinh viên, phương pháp giảng dạy của giảng viên (Nguyễn Thị Mai, 2015).
Năm 2005, Vương Thị Thu Hằng với đề tài: “Tìm hiểu hứng thú nghiên cứu khoa học của sinh viên trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn”. Phan Thị Thơm với đề tài: “Hứng thú học tập môn tâm lí học của sinh viên trường Đại học Sư phạm Đà Nẵng”. Tác giả kết luận hứng thú học môn tâm lí học chưa phát triển cao, chưa đồng đều, có nhiều nguyên nhân ảnh hưởng đến hứng thú học tập của sinh viên, trong đó yếu tố giảng viên giữ vai trò quan trọng (Nguyễn Thị Mai, 2015). Năm 2003, Nguyễn Hải Yến - Đặng Thị Thanh Tùng nghiên cứu “Một số yếu tố ảnh hưởng đến hứng thú nghiên cứu khoa học của sinh viên trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn.
Đề tài đã chỉ ra một số yếu tố ảnh hưởng đến hứng thú nghiên cứu khoa học là do chưa nhận thức được vai trò của hoạt động nghiên cứu khoa học, do bản thân chưa nỗ lực vượt khó trong quá trình nghiên cứu (Nguyễn Thị Bích Thủy, 2010). 12 Năm 2009, Đặng Quốc Thành trong luận án tiến sĩ tâm lý học “Hứng thú học tập các môn khoa học xã hội và nhân văn của Học viện sĩ quan” có đề cập đến các con đường hình thành hứng thú, các giai đoạn và các điều kiện hình thành, phát triển hứng thú nhận thức (Đặng Quốc Thành, 2009). Năm 2009, Phạm Thị Ngọc Châu nghiên cứu đề tài “Một số biện pháp kích thích hứng thú cho trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi trong hoạt động khám phá thiên nhiên vô sinh”.