Luận Văn Thạc Sĩ Về Hợp Đồng Mang Thai Hộ Theo Pháp Luật Việt Nam

Luận văn thạc sĩ phân tích hợp đồng mang thai hộ theo quy định pháp luật Việt Nam hiện hành, cung cấp cái nhìn sâu sắc về vấn đề này.

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận Văn Thạc Sĩ

2020

84
2
0

Phí lưu trữ

30 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

1. CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ BIỆN PHÁP GIỮ NGƯỜI TRONG TRƯỜNG HỢP KHẨN CẤP TRONG TỐ TỤNG HÌNH SỰ

1.1. Khái niệm, đặc điểm về giữ người trong trường hợp khẩn cấp trong tố tụng hình sự

1.2. Mục đích và ý nghĩa của biện pháp giữ người trong trường hợp khẩn cấp trong tố tụng hình sự

1.3. Mối quan hệ giữa biện pháp giữ người trong trường hợp khẩn cấp với một số biện pháp ngăn chặn khác trong tố tụng hình sự

1.4. Kết luận chương 1

2. CHƯƠNG 2: QUY ĐỊNH CỦA BỘ LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ NĂM 2015 VỀ BIỆN PHÁP GIỮ NGƯỜI TRONG TRƯỜNG HỢP KHẨN CẤP VÀ THỰC TIỄN ÁP DỤNG

2.1. Quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 về biện pháp giữ người trong trường hợp khẩn cấp

2.2. Đối tượng áp dụng biện pháp giữ người trong trường hợp khẩn cấp

2.3. Các nguyên tắc và căn cứ áp dụng giữ người trong trường hợp khẩn cấp

2.4. Thẩm quyền ra lệnh giữ người trong trường hợp khẩn cấp

2.5. Thủ tục giữ người trong trường hợp khẩn cấp

2.6. Thực tiễn áp dụng các quy định của pháp luật TTHS về giữ người trong trường hợp khẩn cấp

2.6.1. Những kết quả đạt được

2.6.2. Những hạn chế và nguyên nhân của hạn chế

2.7. Kết luận chương 2

3. CHƯƠNG 3: CÁC YÊU CẦU VÀ GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ ÁP DỤNG BIỆN PHÁP GIỮ NGƯỜI TRONG TRƯỜNG HỢP KHẨN CẤP

3.1. Các yêu cầu của việc áp dụng biện pháp giữ người trong trường hợp khẩn cấp

3.1.1. Yêu cầu về chính trị

3.1.2. Yêu cầu về pháp luật

3.1.3. Yêu cầu về nghiệp vụ

3.2. Các giải pháp nâng cao hiệu quả áp dụng biện pháp giữ người trong trường hợp khẩn cấp

3.2.1. Hoàn thiện các quy định của pháp luật tố tụng hình sự về biện pháp giữ người trong trường hợp khẩn cấp

3.2.2. Các giải pháp khác

3.3. Kết luận chương 3

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Tổng Quan Về Hợp Đồng Mang Thai Hộ Theo Quy Định Pháp Luật Việt Nam

Hợp đồng mang thai hộ là một trong những vấn đề pháp lý phức tạp tại Việt Nam. Theo quy định của pháp luật, hợp đồng này không chỉ liên quan đến quyền lợi của bên mang thai hộ mà còn ảnh hưởng đến quyền lợi của bên yêu cầu mang thai hộ. Việc hiểu rõ các quy định pháp luật về hợp đồng mang thai hộ là rất cần thiết để bảo vệ quyền lợi hợp pháp của các bên liên quan.

1.1. Khái Niệm Hợp Đồng Mang Thai Hộ

Hợp đồng mang thai hộ được định nghĩa là thỏa thuận giữa bên yêu cầu và bên mang thai hộ nhằm mục đích sinh con cho bên yêu cầu. Hợp đồng này phải tuân thủ các quy định của pháp luật hiện hành để đảm bảo tính hợp pháp.

1.2. Các Quy Định Pháp Luật Về Hợp Đồng Mang Thai Hộ

Theo Bộ luật Dân sự năm 2015, hợp đồng mang thai hộ phải được lập thành văn bản và có sự đồng ý của các bên. Ngoài ra, các quy định về quyền lợi và nghĩa vụ của các bên cũng cần được làm rõ trong hợp đồng.

II. Vấn Đề Pháp Lý Liên Quan Đến Hợp Đồng Mang Thai Hộ

Hợp đồng mang thai hộ tại Việt Nam gặp phải nhiều thách thức pháp lý. Các vấn đề như quyền lợi của bên mang thai hộ, trách nhiệm của bên yêu cầu, và các điều kiện để thực hiện hợp đồng đều cần được xem xét kỹ lưỡng.

2.1. Quyền Lợi Của Bên Mang Thai Hộ

Bên mang thai hộ có quyền được bảo vệ quyền lợi hợp pháp trong suốt quá trình mang thai. Điều này bao gồm quyền được chăm sóc sức khỏe và quyền được bồi thường theo thỏa thuận trong hợp đồng.

2.2. Trách Nhiệm Của Bên Yêu Cầu Mang Thai Hộ

Bên yêu cầu mang thai hộ có trách nhiệm đảm bảo các điều kiện cần thiết cho bên mang thai hộ, bao gồm chi phí y tế và các khoản bồi thường khác theo thỏa thuận.

III. Phương Pháp Giải Quyết Các Vấn Đề Phát Sinh Trong Hợp Đồng Mang Thai Hộ

Để giải quyết các vấn đề phát sinh trong hợp đồng mang thai hộ, cần có các phương pháp pháp lý rõ ràng và hiệu quả. Việc áp dụng các quy định pháp luật hiện hành là rất quan trọng.

3.1. Thủ Tục Để Lập Hợp Đồng Mang Thai Hộ

Hợp đồng mang thai hộ cần được lập thành văn bản và có sự chứng kiến của cơ quan có thẩm quyền. Điều này giúp đảm bảo tính hợp pháp và bảo vệ quyền lợi của các bên.

3.2. Giải Quyết Tranh Chấp Liên Quan Đến Hợp Đồng

Trong trường hợp xảy ra tranh chấp, các bên có thể yêu cầu tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật. Việc này giúp bảo vệ quyền lợi hợp pháp của các bên liên quan.

IV. Ứng Dụng Thực Tiễn Của Hợp Đồng Mang Thai Hộ Tại Việt Nam

Hợp đồng mang thai hộ đã được áp dụng trong thực tiễn tại Việt Nam, tuy nhiên vẫn còn nhiều vấn đề cần được giải quyết. Việc nghiên cứu và đánh giá thực tiễn là cần thiết để hoàn thiện các quy định pháp luật.

4.1. Các Trường Hợp Thực Tế Về Hợp Đồng Mang Thai Hộ

Nhiều trường hợp hợp đồng mang thai hộ đã được thực hiện thành công, tuy nhiên cũng có những trường hợp phát sinh tranh chấp. Việc phân tích các trường hợp này giúp rút ra bài học kinh nghiệm.

4.2. Kết Quả Nghiên Cứu Về Hợp Đồng Mang Thai Hộ

Các nghiên cứu cho thấy rằng việc áp dụng hợp đồng mang thai hộ cần được thực hiện một cách cẩn thận để đảm bảo quyền lợi của các bên và tránh các tranh chấp pháp lý.

V. Kết Luận Về Hợp Đồng Mang Thai Hộ Theo Quy Định Pháp Luật Việt Nam

Hợp đồng mang thai hộ là một vấn đề pháp lý phức tạp tại Việt Nam. Việc hiểu rõ các quy định pháp luật và thực tiễn áp dụng là rất cần thiết để bảo vệ quyền lợi của các bên liên quan. Cần có những cải cách pháp lý để hoàn thiện hệ thống quy định về hợp đồng mang thai hộ.

5.1. Tương Lai Của Hợp Đồng Mang Thai Hộ Tại Việt Nam

Trong tương lai, cần có những quy định rõ ràng hơn về hợp đồng mang thai hộ để bảo vệ quyền lợi của các bên và giảm thiểu tranh chấp pháp lý.

5.2. Đề Xuất Cải Cách Pháp Lý Về Hợp Đồng Mang Thai Hộ

Cần xem xét và điều chỉnh các quy định pháp luật hiện hành để phù hợp với thực tiễn và bảo vệ quyền lợi của các bên liên quan trong hợp đồng mang thai hộ.

19/07/2025
Luận văn thạc sĩ vnu ls hợp đồng mang thai hộ theo quy định của pháp luật việt nam hiện hành001

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ BIỆN PHÁP GIỮ NGƯỜI TRONG TRƯỜNG HỢP KHẨN CẤP TRONG TỐ TỤNG HÌNH SỰ 1. Khái niệm, đặc điểm về giữ người trong trường hợp khẩn cấp trong tố tụng hình sự 1. Khái niệm Biện pháp ngăn chặn là một trong những chế định quan trọng trong luật TTHS nước ta. Thời gian trước đây, các biện pháp này đã được quy định trong Luật số 103-SL/005 ngày 20/5/1957, sắc luật số 002-SLt ngày 18/6/1957 của Chính phủ Việt Nam dân chủ cộng hòa và Sắc luật 02-SL ngày 15/3/1976 của Chính phủ Cách mạng lâm thời cộng hòa miền Nam Việt Nam bao gồm các quy định về việc bắt người, giam, tha, khám xét và được gọi là những biện pháp cưỡng chế [12,tr.

Các biện pháp ngăn chặn mang tính cưỡng chế nghiêm khắc để kịp thời ngăn chặn tội phạm, ngăn chặn việc người bị nghi là thực hiện tội phạm (người bị nghi ngờ thực hiện tội phạm nhưng chưa bị khởi tố bị can), bị can, bị cáo bỏ trốn, tiêu hủy chứng cứ, gây khó khăn cho việc điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án hoặc sẽ tiếp tục phạm tội. Các biện pháp ngăn chặn khi được áp dụng sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến các quyền cơ bản của công dân được ghi nhận trong Hiến pháp. Việc áp dụng các biện pháp ngăn chặn gắn liền với sự hạn chế một số quyền và tự do cá nhân đối với bị can, bị cáo, người có liên quan đến việc thực hiện tội phạm, nhưng lại bảo vệ được quyền và lợi ích hợp pháp của công dân khác như: người bị hại, bị đơn dân sự, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan. Từ trước đến nay, khái niệm biện pháp ngăn chặn không được đưa ra trong luật, tuy nhiên trong một số nghiên cứu ở nước ta, các tác giả đã đưa ra nhiều khái niệm khác nhau về biện pháp ngăn chặn.

7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Theo Từ điển Luật học giải thích biện pháp ngăn chặn là: Biện pháp cưỡng chế về mặt Tố tụng hình sự áp dụng khi có đủ căn cứ đối với bị can, bị cáo hoặc người chưa bị khởi tố trong trường hợp khẩn cấp hoặc phạm tội quả tang để ngăn chặn hành vi nguy hiểm cho xã hội của họ, ngăn ngừa họ tiếp tục phạm tội, trốn tránh pháp luật hoặc có hành động gây cản trở cho việc điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án [21,tr69]. Trong giáo trình Luật tố tụng hình sự của khoa Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội, khái niệm biện pháp ngăn chặn được hiểu như sau: Biện pháp ngăn chặn là biện pháp cưỡng chế trong TTHS áp dụng với bị can, bị cáo, người phạm tội quả tang và người cần phải bắt trong trường hợp khẩn cấp. Nhằm kịp thời ngăn chặn tội phạm của họ, ngăn chặn người đó gây khó khăn cho việc điều tra, truy tố, xét xử và tiếp tục phạm tội hoặc trốn [10, tr133]. Một số khái niệm khác về BPNC của các nhà khoa học nghiên cứu pháp luật, cán bộ làm công tác thực tiễn phòng ngừa và đấu tranh chống tội phạm được công bố trong các giáo trình Luật TTHS Việt Nam, sách chuyên khảo, tạp chí chuyên ngành luật học.

Các khái niệm đó đều dựa trên cơ sở phân tích nội dung của các quy phạm pháp luật tại BLTTHS cũng như thực tiễn áp dụng chúng trong công tác phòng ngừa, đấu tranh chống tội phạm. Trong BLTTHS năm 2015, các biện pháp ngăn chặn được quy định tại Mục I Chương VII. Mặc dù không có khái niệm cụ thể về biện pháp ngăn chặn nhưng tại điều 109 BLTTHS có chỉ ra các căn cứ áp dụng biện pháp ngăn chặn như sau: “Để kịp thời ngăn chặn tội phạm hoặc khi có căn cứ chứng tỏ người bị buộc tội sẽ gây khó khăn cho việc điều tra, truy tố, xét xử hoặc sẽ tiếp tục phạm tội hoặc để bảo đảm thi hành án, cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng trong phạm vi thẩm quyền của mình có thể áp dụng biện pháp giữ người trong trường hợp khẩn cấp, bắt, tạm giữ, tạm giam, 8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com bảo lĩnh, đặt tiền để bảo đảm, cấm đi khỏi nơi cư trú, tạm hoãn xuất cảnh”. Từ đây, chúng ta có thể hiểu biện pháp ngăn chặn là biện pháp do cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng áp dụng đối với người bị nghi là thực hiện tội phạm, bị can, bị cáo nhằm ngăn chặn việc người đó bỏ trốn, tiêu hủy chứng cứ, gây khó khăn cho việc điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án hoặc sẽ tiếp tục phạm tội [12,tr197].

Từ khái niệm về biện pháp ngăn chặn ngoài việc nêu rõ tính chất, mục đích và đối tượng áp dụng của biện pháp ngăn chặn cần phải xác định đúng chủ thể áp dụng. Chủ thể áp dụng các biện pháp ngăn chặn không chỉ là cơ quan điều tra, Viện kiểm sát và Tòa án. Theo quy định của pháp luật, một số cơ quan khác cũng được áp dụng biện pháp ngăn chặn đó là người chỉ huy đơn vị quân đội độc lập cấp trung đoàn và tương đương; người chỉ huy đồn biên phòng ở hải đảo và biên giới; người chỉ huy tàu bay, tàu biển đã rời khỏi sân bay, bến cảng trong trường hợp bắt người phạm tội quả tang thì bất cứ ai trông thấy đều có quyền bắt. BLTTHS năm 2015 quy định những biện pháp ngăn chặn gồm: giữ người trong trường hợp khẩn cấp, bắt, tạm giữ, tạm giam, bảo lĩnh, đặt tiền để bảo đảm, cấm đi khỏi nơi cư trú, tạm hoãn xuất cảnh.

Mỗi biện pháp ngăn chặn có quy định cụ thể về đối tượng, thẩm quyền, thủ tục áp dụng nhằm đảm bảo hoạt động của các cơ quan tiến hành tố tụng được thuận lợi. Biện pháp giữ người trong trường hợp khẩn cấp là một trong những biện pháp ngăn chặn được quy định chi tiết tại Điều 110 BLTTHS năm 2015 và thay thế cho biện pháp "Bắt người trong trường hợp khẩn cấp" quy định tại Điều 81 BLTTHS năm 2003. Theo quy định của BLTTHS năm 2003, bắt người trong trường hợp khẩn cấp là biện pháp ngăn chặn độc lập và căn cứ bắt được quy định cụ thể tại khoản 1 Điều 81, trong đó tại điểm a khoản 1 quy định: “Khi có căn cứ để cho rằng người đó đang chuẩn bị thực hiện tội phạm 9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com rất nghiêm trọng hoặc tội phạm đặc biệt nghiêm trọng. Điều 17 BLHS năm 1999 (được sửa đổi, bổ sung năm 2009) cũng quy định người chuẩn bị phạm tội chỉ phải chịu trách nhiệm hình sự khi họ chuẩn bị phạm một tội rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng.

Như vậy: Một người chỉ phải chịu trách nhiệm hình sự trong trường hợp chuẩn bị phạm tội và có thể bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Bắt người trong trường hợp khẩn cấp nếu người đó chuẩn bị thực hiện một tội phạm rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng. Quy định này nhằm mục đích ngăn chặn kịp thời các hành vi phạm tội trong trường hợp có đủ cơ sở để khẳng định một người đang chuẩn bị thực hiện tội phạm rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng nên cần bắt ngay, để ngăn chặn kịp thời việc người đó gây thiệt hại cho xã hội. Hành vi chuẩn bị phạm tội nói trên mặc dù chưa trực tiếp xâm hại lợi ích của Nhà nước và công dân nhưng nó đã đặt các lợi ích ấy vào tình trạng bị đe dọa rất nghiêm trọng. Vì vậy, yêu cầu đặt ra hết sức cấp bách, cần ngăn chặn ngay, không để tội phạm xảy ra.

Tuy nhiên, quá trình áp dụng Điều 81 của BLTTHS năm 2003 về Bắt người trong trường hợp khẩn cấp” nói chung và đối với căn cứ áp dụng để bắt khẩn cấp nói riêng, còn một số bất cập, hạn chế như : Theo quy định của Điều 81 BLTTHS năm 2003 thì “bắt trước, phê chuẩn sau”, là chưa đảm bảo tinh thần của Hiến pháp năm 2013 “Không ai bị bắt nếu không có quyết định của Tòa án, quyết định hoặc phê chuẩn của Viện kiểm sát”; bên cạnh đó, căn cứ để bắt khẩn cấp quy định “Khi có căn cứ để cho rằng. là còn mang tính chất định tính, chưa cụ thể. BLTTHS năm 2015 đã có sự sửa đổi căn bản về cả căn cứ và nội dung đối với trường hợp “Bắt người trong trương hợp khẩn cấp”, cụ thể đã được sửa thành biện pháp “Giữ người trong trường hợp khẩn cấp”. Trong các tài liệu hiện nay, còn tồn tại nhiều khái niệm khác nhau về biện pháp giữ người trong trường hợp khẩn cấp.

10 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com - Theo giải thích của Từ điển Tiếng Việt của NXB Bách Khoa Việt Nam năm 2006 thì giữ là làm cho ở nguyên tại vị trí nào đó, không có sự di chuyển, hoặc không rơi, không đổ. Theo đó có thể thấy, giữ người là một thuật ngữ dùng để chỉ một hành vi tác động vào quyền tự do về thân thể của một người nào đó nhưng đảm bảo được sự chủ động của người thực hiện hành vi trong việc nắm giữ nhằm vô hiệu hoá sự chống cự hay sự tự do hoạt động của đối tượng bị giữ. Về bản chất, đây là một hành vi mang tính chất cưỡng chế dùng quyền lực của chủ thể thực hiện hoặc dựa vào quyền lực khác để buộc đối tượng bị áp dụng phải tuân theo nhằm đạt được một mục đích nào đó. - Theo Từ điển tiếng Việt năm 1997 của Trung tâm từ điển học, thuộc Viện Ngôn ngữ học thì: + “Trường hợp” là tình hình cụ thể trong đó sự việc nói đến xảy ra hoặc giả định xảy ra, trong quan hệ với các tình hình khác có thể có; + "Khẩn cấp" có hai nghĩa: cần được tiến hành, được giải quyết ngay, không chậm trễ, và có tính chất nghiêm trọng, đòi hỏi phải có ngay những biện pháp tích cực để đối phó, không cho phép chậm trễ.

Như vậy, trường hợp khẩn cấp là tình hình cụ thể, trong đó sự việc nói đến xảy ra hoặc giả định xảy ra, có tính chất nghiêm trọng, đòi hỏi phải có ngay những biện pháp tích cực để đối phó, không cho phép chậm trễ [15,tr8]. Trong pháp luật TTHS đương nhiên có rất nhiều trường hợp khẩn cấp (như trường hợp khẩn cấp bị can sắp chết, bị can có thể hé lộ những tình tiết đặc biệt quan trọng tới vụ án thì có thể hỏi cung vào ban đêm).

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Tài liệu "Hợp Đồng Mang Thai Hộ Theo Quy Định Pháp Luật Việt Nam" cung cấp cái nhìn sâu sắc về các quy định pháp lý liên quan đến hợp đồng mang thai hộ tại Việt Nam. Tài liệu này không chỉ giải thích rõ ràng các điều khoản và điều kiện của hợp đồng mà còn nêu bật quyền lợi và nghĩa vụ của các bên liên quan. Đặc biệt, nó giúp người đọc hiểu rõ hơn về quy trình pháp lý, từ đó đảm bảo quyền lợi hợp pháp trong các trường hợp mang thai hộ.

Để mở rộng kiến thức của bạn về các vấn đề pháp lý liên quan, bạn có thể tham khảo thêm tài liệu Luận văn thạc sĩ thực thi pháp luật về giải quyết khiếu nại tố cáo về đất đai trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh, nơi cung cấp thông tin về quy trình giải quyết khiếu nại trong lĩnh vực đất đai. Ngoài ra, tài liệu Luận văn thạc sĩ xử phạt vi phạm hành chính về ô nhiễm môi trường từ thực tiễn huyện Tam Dương tỉnh Vĩnh Phúc cũng có thể giúp bạn hiểu rõ hơn về các quy định pháp luật trong lĩnh vực môi trường. Cuối cùng, tài liệu Luận văn thạc sĩ HUS nghiên cứu thực trạng và đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả thực hiện các thủ tục hành chính trong quản lý đất đai ở chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai quận 7 thành phố Hồ Chí Minh sẽ cung cấp thêm thông tin về quản lý đất đai và các thủ tục hành chính liên quan. Những tài liệu này sẽ giúp bạn có cái nhìn toàn diện hơn về các vấn đề pháp lý trong xã hội hiện nay.