Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ BIỆN PHÁP GIỮ NGƯỜI TRONG TRƯỜNG HỢP KHẨN CẤP TRONG TỐ TỤNG HÌNH SỰ 1. Khái niệm, đặc điểm về giữ người trong trường hợp khẩn cấp trong tố tụng hình sự 1. Khái niệm Biện pháp ngăn chặn là một trong những chế định quan trọng trong luật TTHS nước ta. Thời gian trước đây, các biện pháp này đã được quy định trong Luật số 103-SL/005 ngày 20/5/1957, sắc luật số 002-SLt ngày 18/6/1957 của Chính phủ Việt Nam dân chủ cộng hòa và Sắc luật 02-SL ngày 15/3/1976 của Chính phủ Cách mạng lâm thời cộng hòa miền Nam Việt Nam bao gồm các quy định về việc bắt người, giam, tha, khám xét và được gọi là những biện pháp cưỡng chế [12,tr.
Các biện pháp ngăn chặn mang tính cưỡng chế nghiêm khắc để kịp thời ngăn chặn tội phạm, ngăn chặn việc người bị nghi là thực hiện tội phạm (người bị nghi ngờ thực hiện tội phạm nhưng chưa bị khởi tố bị can), bị can, bị cáo bỏ trốn, tiêu hủy chứng cứ, gây khó khăn cho việc điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án hoặc sẽ tiếp tục phạm tội. Các biện pháp ngăn chặn khi được áp dụng sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến các quyền cơ bản của công dân được ghi nhận trong Hiến pháp. Việc áp dụng các biện pháp ngăn chặn gắn liền với sự hạn chế một số quyền và tự do cá nhân đối với bị can, bị cáo, người có liên quan đến việc thực hiện tội phạm, nhưng lại bảo vệ được quyền và lợi ích hợp pháp của công dân khác như: người bị hại, bị đơn dân sự, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan. Từ trước đến nay, khái niệm biện pháp ngăn chặn không được đưa ra trong luật, tuy nhiên trong một số nghiên cứu ở nước ta, các tác giả đã đưa ra nhiều khái niệm khác nhau về biện pháp ngăn chặn.
7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Theo Từ điển Luật học giải thích biện pháp ngăn chặn là: Biện pháp cưỡng chế về mặt Tố tụng hình sự áp dụng khi có đủ căn cứ đối với bị can, bị cáo hoặc người chưa bị khởi tố trong trường hợp khẩn cấp hoặc phạm tội quả tang để ngăn chặn hành vi nguy hiểm cho xã hội của họ, ngăn ngừa họ tiếp tục phạm tội, trốn tránh pháp luật hoặc có hành động gây cản trở cho việc điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án [21,tr69]. Trong giáo trình Luật tố tụng hình sự của khoa Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội, khái niệm biện pháp ngăn chặn được hiểu như sau: Biện pháp ngăn chặn là biện pháp cưỡng chế trong TTHS áp dụng với bị can, bị cáo, người phạm tội quả tang và người cần phải bắt trong trường hợp khẩn cấp. Nhằm kịp thời ngăn chặn tội phạm của họ, ngăn chặn người đó gây khó khăn cho việc điều tra, truy tố, xét xử và tiếp tục phạm tội hoặc trốn [10, tr133]. Một số khái niệm khác về BPNC của các nhà khoa học nghiên cứu pháp luật, cán bộ làm công tác thực tiễn phòng ngừa và đấu tranh chống tội phạm được công bố trong các giáo trình Luật TTHS Việt Nam, sách chuyên khảo, tạp chí chuyên ngành luật học.
Các khái niệm đó đều dựa trên cơ sở phân tích nội dung của các quy phạm pháp luật tại BLTTHS cũng như thực tiễn áp dụng chúng trong công tác phòng ngừa, đấu tranh chống tội phạm. Trong BLTTHS năm 2015, các biện pháp ngăn chặn được quy định tại Mục I Chương VII. Mặc dù không có khái niệm cụ thể về biện pháp ngăn chặn nhưng tại điều 109 BLTTHS có chỉ ra các căn cứ áp dụng biện pháp ngăn chặn như sau: “Để kịp thời ngăn chặn tội phạm hoặc khi có căn cứ chứng tỏ người bị buộc tội sẽ gây khó khăn cho việc điều tra, truy tố, xét xử hoặc sẽ tiếp tục phạm tội hoặc để bảo đảm thi hành án, cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng trong phạm vi thẩm quyền của mình có thể áp dụng biện pháp giữ người trong trường hợp khẩn cấp, bắt, tạm giữ, tạm giam, 8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com bảo lĩnh, đặt tiền để bảo đảm, cấm đi khỏi nơi cư trú, tạm hoãn xuất cảnh”. Từ đây, chúng ta có thể hiểu biện pháp ngăn chặn là biện pháp do cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng áp dụng đối với người bị nghi là thực hiện tội phạm, bị can, bị cáo nhằm ngăn chặn việc người đó bỏ trốn, tiêu hủy chứng cứ, gây khó khăn cho việc điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án hoặc sẽ tiếp tục phạm tội [12,tr197].
Từ khái niệm về biện pháp ngăn chặn ngoài việc nêu rõ tính chất, mục đích và đối tượng áp dụng của biện pháp ngăn chặn cần phải xác định đúng chủ thể áp dụng. Chủ thể áp dụng các biện pháp ngăn chặn không chỉ là cơ quan điều tra, Viện kiểm sát và Tòa án. Theo quy định của pháp luật, một số cơ quan khác cũng được áp dụng biện pháp ngăn chặn đó là người chỉ huy đơn vị quân đội độc lập cấp trung đoàn và tương đương; người chỉ huy đồn biên phòng ở hải đảo và biên giới; người chỉ huy tàu bay, tàu biển đã rời khỏi sân bay, bến cảng trong trường hợp bắt người phạm tội quả tang thì bất cứ ai trông thấy đều có quyền bắt. BLTTHS năm 2015 quy định những biện pháp ngăn chặn gồm: giữ người trong trường hợp khẩn cấp, bắt, tạm giữ, tạm giam, bảo lĩnh, đặt tiền để bảo đảm, cấm đi khỏi nơi cư trú, tạm hoãn xuất cảnh.
Mỗi biện pháp ngăn chặn có quy định cụ thể về đối tượng, thẩm quyền, thủ tục áp dụng nhằm đảm bảo hoạt động của các cơ quan tiến hành tố tụng được thuận lợi. Biện pháp giữ người trong trường hợp khẩn cấp là một trong những biện pháp ngăn chặn được quy định chi tiết tại Điều 110 BLTTHS năm 2015 và thay thế cho biện pháp "Bắt người trong trường hợp khẩn cấp" quy định tại Điều 81 BLTTHS năm 2003. Theo quy định của BLTTHS năm 2003, bắt người trong trường hợp khẩn cấp là biện pháp ngăn chặn độc lập và căn cứ bắt được quy định cụ thể tại khoản 1 Điều 81, trong đó tại điểm a khoản 1 quy định: “Khi có căn cứ để cho rằng người đó đang chuẩn bị thực hiện tội phạm 9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com rất nghiêm trọng hoặc tội phạm đặc biệt nghiêm trọng. Điều 17 BLHS năm 1999 (được sửa đổi, bổ sung năm 2009) cũng quy định người chuẩn bị phạm tội chỉ phải chịu trách nhiệm hình sự khi họ chuẩn bị phạm một tội rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng.
Như vậy: Một người chỉ phải chịu trách nhiệm hình sự trong trường hợp chuẩn bị phạm tội và có thể bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Bắt người trong trường hợp khẩn cấp nếu người đó chuẩn bị thực hiện một tội phạm rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng. Quy định này nhằm mục đích ngăn chặn kịp thời các hành vi phạm tội trong trường hợp có đủ cơ sở để khẳng định một người đang chuẩn bị thực hiện tội phạm rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng nên cần bắt ngay, để ngăn chặn kịp thời việc người đó gây thiệt hại cho xã hội. Hành vi chuẩn bị phạm tội nói trên mặc dù chưa trực tiếp xâm hại lợi ích của Nhà nước và công dân nhưng nó đã đặt các lợi ích ấy vào tình trạng bị đe dọa rất nghiêm trọng. Vì vậy, yêu cầu đặt ra hết sức cấp bách, cần ngăn chặn ngay, không để tội phạm xảy ra.
Tuy nhiên, quá trình áp dụng Điều 81 của BLTTHS năm 2003 về Bắt người trong trường hợp khẩn cấp” nói chung và đối với căn cứ áp dụng để bắt khẩn cấp nói riêng, còn một số bất cập, hạn chế như : Theo quy định của Điều 81 BLTTHS năm 2003 thì “bắt trước, phê chuẩn sau”, là chưa đảm bảo tinh thần của Hiến pháp năm 2013 “Không ai bị bắt nếu không có quyết định của Tòa án, quyết định hoặc phê chuẩn của Viện kiểm sát”; bên cạnh đó, căn cứ để bắt khẩn cấp quy định “Khi có căn cứ để cho rằng. là còn mang tính chất định tính, chưa cụ thể. BLTTHS năm 2015 đã có sự sửa đổi căn bản về cả căn cứ và nội dung đối với trường hợp “Bắt người trong trương hợp khẩn cấp”, cụ thể đã được sửa thành biện pháp “Giữ người trong trường hợp khẩn cấp”. Trong các tài liệu hiện nay, còn tồn tại nhiều khái niệm khác nhau về biện pháp giữ người trong trường hợp khẩn cấp.
10 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com - Theo giải thích của Từ điển Tiếng Việt của NXB Bách Khoa Việt Nam năm 2006 thì giữ là làm cho ở nguyên tại vị trí nào đó, không có sự di chuyển, hoặc không rơi, không đổ. Theo đó có thể thấy, giữ người là một thuật ngữ dùng để chỉ một hành vi tác động vào quyền tự do về thân thể của một người nào đó nhưng đảm bảo được sự chủ động của người thực hiện hành vi trong việc nắm giữ nhằm vô hiệu hoá sự chống cự hay sự tự do hoạt động của đối tượng bị giữ. Về bản chất, đây là một hành vi mang tính chất cưỡng chế dùng quyền lực của chủ thể thực hiện hoặc dựa vào quyền lực khác để buộc đối tượng bị áp dụng phải tuân theo nhằm đạt được một mục đích nào đó. - Theo Từ điển tiếng Việt năm 1997 của Trung tâm từ điển học, thuộc Viện Ngôn ngữ học thì: + “Trường hợp” là tình hình cụ thể trong đó sự việc nói đến xảy ra hoặc giả định xảy ra, trong quan hệ với các tình hình khác có thể có; + "Khẩn cấp" có hai nghĩa: cần được tiến hành, được giải quyết ngay, không chậm trễ, và có tính chất nghiêm trọng, đòi hỏi phải có ngay những biện pháp tích cực để đối phó, không cho phép chậm trễ.
Như vậy, trường hợp khẩn cấp là tình hình cụ thể, trong đó sự việc nói đến xảy ra hoặc giả định xảy ra, có tính chất nghiêm trọng, đòi hỏi phải có ngay những biện pháp tích cực để đối phó, không cho phép chậm trễ [15,tr8]. Trong pháp luật TTHS đương nhiên có rất nhiều trường hợp khẩn cấp (như trường hợp khẩn cấp bị can sắp chết, bị can có thể hé lộ những tình tiết đặc biệt quan trọng tới vụ án thì có thể hỏi cung vào ban đêm).