Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Hoạt động marketing và truyền thông marketing vốn xuất phát từ lĩnh vực sản xuất kinh doanh thương mại nhằm kết nối sản phẩm với thị trường tiêu dùng. Trong bối cảnh công nghệ thông tin và mạng máy tính toàn cầu phát triển mạnh mẽ, phương tiện internet đã trở thành công cụ hỗ trợ cho các cơ quan, tổ chức văn hóa - giáo dục phi lợi nhuận trong việc tối ưu hóa chi phí và mở rộng phạm vi tiếp cận công chúng. Trong ngành thông tin – thư viện, việc ứng dụng truyền thông marketing trên môi trường internet giúp các đơn vị thiết lập cầu nối thông tin với người dùng tin (NDT), quảng bá vốn tài liệu cùng hệ thống dịch vụ, đồng thời nắm bắt nhu cầu thực tế của xã hội.

Thư viện Quốc gia Việt Nam (TVQGVN) là thư viện trung tâm của cả nước, đứng đầu hệ thống thư viện công cộng chịu sự chỉ đạo trực tiếp của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch. Nhận thức được lợi ích của internet, TVQGVN đã từng bước triển khai các hình thức truyền thông trực tuyến để tiếp cận cộng đồng bạn đọc trong và ngoài nước. Tuy nhiên, do hoạt động này tại Việt Nam ở thời điểm nghiên cứu vẫn còn ở giai đoạn ban đầu, các phương thức ứng dụng còn bộc lộ nhiều điểm hạn chế về cả chiều rộng lẫn chiều sâu. Mặc dù một số nghiên cứu trước đó đã đề cập đến vấn đề tiếp thị trong hoạt động thư viện nói chung hoặc mô hình tại các thư viện đại học, nhưng tại TVQGVN vẫn chưa có công trình khoa học nào khảo sát và đánh giá toàn diện về hoạt động này.

Từ thực tiễn trên, tác giả Nguyễn Thị Thơm đã thực hiện khóa luận tốt nghiệp ngành Thông tin – Thư viện tại Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn (Đại học Quốc gia Hà Nội) với đề tài: "Hoạt động truyền thông marketing trên internet tại Thư viện Quốc gia Việt Nam".

Mục đích nghiên cứu của đề tài là đề xuất các giải pháp nâng cao chất lượng hoạt động truyền thông marketing trên internet tại TVQGVN. Để hiện thực hóa mục đích này, khóa luận xác định 3 nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể:

  1. Đề cập đến các khái niệm và các hình thức truyền thông marketing trên internet trong hoạt động thông tin - thư viện.
  2. Trình bày thực trạng ứng dụng hoạt động truyền thông marketing trên internet tại Thư viện Quốc gia Việt Nam.
  3. Nhận xét hoạt động truyền thông marketing trên internet tại Thư viện Quốc gia Việt Nam, trên cơ sở đó đưa ra các giải pháp nâng cao chất lượng hoạt động truyền thông marketing trên internet tại Thư viện Quốc gia Việt Nam hiện nay.

Đối tượng nghiên cứu của khóa luận là hoạt động truyền thông marketing trên internet. Phạm vi nghiên cứu về mặt không gian và cơ quan khảo sát là Thư viện Quốc gia Việt Nam, phạm vi thời gian thực hiện nghiên cứu tập trung vào năm 2011.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Về khung lý thuyết và khái niệm, khóa luận tiếp cận các định nghĩa nền tảng về marketing từ học thuyết của Philip Kotler, xác định marketing là quá trình quản lý mang tính xã hội nhằm đáp ứng nhu cầu và mong muốn thông qua việc tạo ra, chào hàng và trao đổi sản phẩm có giá trị. Vận dụng vào chuyên ngành, tác giả định nghĩa marketing trong hoạt động thông tin - thư viện là tập hợp các chiến lược nghiên cứu, phát triển thị trường thông tin, thiết kế và cung ứng sản phẩm, dịch vụ nhằm đáp ứng nhu cầu người dùng tin. Truyền thông marketing được định vị là một trong bốn nhóm công cụ chủ yếu thuộc phối thức marketing (marketing-mix), bao gồm toàn bộ phương thức truyền tin gián tiếp hoặc trực tiếp về cơ quan và dịch vụ đến người dùng tin nhằm nâng cao nhận thức, hình thành thói quen khai thác tài liệu và nâng cao hiệu quả đầu tư xã hội. Tác giả phân biệt rõ marketing là một chu trình tổng thể bao gồm nghiên cứu nhu cầu và hoàn thiện sản phẩm, trong khi quảng cáo hay tiếp thị chỉ là các mắt xích, công đoạn của truyền thông marketing.

Về phương tiện kỹ thuật, internet được xác định là mạng giao tiếp toàn cầu kết nối thông qua hạ tầng viễn thông. Truyền thông marketing trên internet trong thư viện được phân chia thành 6 hình thức cơ bản đi kèm các tiêu chí đánh giá khoa học:

  • Qua website, blog thư viện: Đánh giá theo cấu trúc module, bài viết mang tính thảo luận, tính năng tương tác phản hồi, khả năng liên kết cơ sở dữ liệu (CSDL) thư mục/toàn văn trực tuyến, liên kết website ngoài, hệ thống đo lường lượng truy cập và tính cập nhật giao diện.
  • Qua diễn đàn điện tử (Forum): Đánh giá qua bài viết nghiệp vụ, các chuyên mục giải đáp thắc mắc, quản lý tài khoản thành viên và các chỉ số đo lường thảo luận.
  • Qua mạng xã hội: Đánh giá khả năng kết nối bạn đọc, chia sẻ nội dung đa phương tiện, tích hợp công cụ tìm kiếm và thống kê tương tác bình luận.
  • Qua thông tin trên website khác: Đánh giá tính đồng nhất của hệ thống nhận diện (banner, logo) và tần suất các bài viết phản ánh thế mạnh của thư viện.
  • Qua đường liên kết từ website khác: Đánh giá số lượng backlink và điểm kết nối trực tuyến qua các công cụ tìm kiếm.
  • Qua email và dịch vụ chat online: Đánh giá tốc độ giải đáp yêu cầu tin, số lượng người đăng ký nhận thông tin và tính năng quản lý danh sách liên hệ.

Về căn cứ pháp lý và quản lý nhà nước, nghiên cứu dựa trên Nghị định ngày 29/11/1917 của Toàn quyền Đông Dương A. Sarraut (văn bản thành lập đơn vị tiền thân), Quyết định số 2638/QĐ của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch quy định chức năng, nhiệm vụ của TVQGVN, cùng các quy định tại khoản 1 Điều 5 Pháp lệnh Thư viện.

Phương pháp nghiên cứu thực tế được tác giả triển khai bao gồm:

  • Phương pháp nghiên cứu tư liệu, phân tích và tổng hợp: Khảo cứu các giáo trình, tài liệu chuyên môn, bài báo trên Tạp chí Thư viện Việt Nam để xây dựng cơ sở lý luận.
  • Phương pháp quan sát: Khảo sát trực tiếp giao diện, các chuyên mục, module chức năng và công cụ tương tác trực tuyến trên hệ thống website và cổng thông tin của thư viện.
  • Phương pháp thống kê, so sánh: Xử lý các chuỗi số liệu về cơ cấu bạn đọc qua sổ cấp thẻ giai đoạn 2006–2010, số liệu phiếu khảo sát nhu cầu tin và dữ liệu chỉ số liên kết trên công cụ tìm kiếm Google.
  • Phương pháp phỏng vấn: Trao đổi nghiệp vụ với các cán bộ thuộc Phòng Tin học và Phòng Thông tin Tư liệu nhằm thu thập quy trình vận hành thực tế.

Nguồn dữ liệu của đề tài bao gồm các báo cáo tổng kết chuyên môn của TVQGVN, số liệu lưu trữ từ sổ làm thẻ bạn đọc, kết quả điều tra phiếu nhu cầu tin ngày 11/03/2010 tại phòng đọc sách tiếng Việt, cùng dữ liệu truy vấn trực tuyến ngày 22/12/2011.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Cơ sở lý luận về truyền thông marketing trên internet trong hoạt động thông tin - thư viện

Chương này tập trung hệ thống hóa các khái niệm học thuật cơ bản và luận giải vai trò của môi trường internet trong công tác thông tin - thư viện. Tác giả chỉ ra rằng truyền thông trực tuyến đem lại ba lợi ích cơ bản: tiết kiệm chi phí vận hành so với phương thức in ấn truyền thống, mở rộng không gian và thời gian tiếp cận thông tin 24/7 không ranh giới địa lý, và thiết lập kênh liên lạc trực tiếp, tức thì với độc giả.

Bên cạnh đó, chương 1 xây dựng khung điều kiện để một cơ quan thư viện triển khai thành công truyền thông trên internet, gồm 4 yếu tố: chiến lược cụ thể theo giai đoạn; hạ tầng kỹ thuật máy tính và mạng bảo đảm; năng lực chuyên môn của đội ngũ cán bộ; và thói quen truy cập internet của nhóm người dùng tin mục tiêu. Tác giả xác lập chi tiết hệ thống tiêu chí định tính và định lượng cho 6 hình thức truyền thông trực tuyến, tạo thành thước đo lý thuyết để đối chiếu với thực trạng tại TVQGVN ở chương tiếp theo.

Chương 2: Các hình thức truyền thông marketing trên internet tại Thư viện Quốc gia Việt Nam

Chương 2 mô tả khái quát về lịch sử hình thành, chức năng, nhiệm vụ, cơ cấu tổ chức, hạ tầng công nghệ và nguồn lực thông tin của TVQGVN, sau đó phân tích chi tiết thực trạng ứng dụng các kênh truyền thông marketing trên internet tại đơn vị.

Về cơ cấu tổ chức và nhân sự, thời điểm năm 2011 đơn vị có 173 cán bộ viên chức và người lao động (1 tiến sĩ, 16 thạc sĩ, 124 cử nhân), tổ chức thành 13 phòng ban. Hai phòng trực tiếp đảm nhiệm công tác truyền thông trực tuyến là Phòng Tin học (quản trị mạng, quản lý phần cứng, phần mềm, thiết kế, duy trì trang web) và Phòng Thông tin Tư liệu (xử lý nội dung thông tin, đào tạo bạn đọc, thực hiện dịch vụ hỏi đáp và giới thiệu sản phẩm).

Hạ tầng công nghệ thông tin của thư viện được tích lũy qua các dự án tự động hóa từ năm 2001 đến năm 2009, bao gồm: 15 máy chủ cấu hình cao (chạy các phần mềm quản trị thư viện điện tử ILIB, thư viện số DLIB, cơ sở dữ liệu số Hán Nôm NLVNPF, quản trị website và thư điện tử); 260 máy trạm nối mạng băng thông rộng (gồm 30 máy phòng Đa phương tiện, 20 máy phòng Đào tạo, 32 máy tại sảnh tra cứu tập trung, số còn lại phân bổ cho các phòng nghiệp vụ); hệ thống kết nối mạng gồm 4 đường truyền (1 đường Leased Line 192kbps cho Web/Mail, mạng Wifi, 1 đường ADSL 2M cho bạn đọc và 1 đường ADSL 4M cho cán bộ).

Về nguồn lực thông tin, TVQGVN lưu trữ khối lượng tài liệu quy mô lớn: gần 200.000 tên sách lưu chiểu (~300.000 bản); 7.000 tên báo, tạp chí; hơn 67.000 bản sách báo về Đông Dương trước 1954 (1.700 tên báo, tạp chí); hơn 5.000 tên sách Hán Nôm; trên 16.000 bản luận án tiến sĩ (mỗi năm tăng 700–900 bản); 3.996 tên sách kháng chiến; gần 2 triệu trang tài liệu số hóa quý hiếm từ năm 2003; hơn 1.000 tài liệu đa phương tiện và CSDL tổng hợp Wilson.

Khảo sát người dùng tin cho thấy nhóm đối tượng có sự phân hóa rõ nét, tạo tiền đề thuận lợi cho truyền thông internet:

Thành phần bạn đọc Tỷ lệ theo phiếu điều tra (11/03/2010) Đặc điểm nhu cầu tin chính
Sinh viên Đại học, Cao đẳng 71,4% Nhu cầu tài liệu học tập, có thói quen dùng internet, tra cứu trực tuyến, sử dụng dịch vụ hỏi đáp, email, chat.
Cán bộ nghiên cứu, giảng dạy, sản xuất kinh doanh 21,2% Cần tài liệu chuyên môn sâu, đòi hỏi tính cập nhật cao, thời gian hạn chế, ưu tiên tiếp nhận thông tin trực tuyến nhanh chóng.
Cán bộ quản lý, lãnh đạo 2,3% Nhu cầu thông tin diện rộng, bao quát, ưu tiên hệ thống tra cứu trực tuyến, thông tin điện tử đã qua phân tích, xử lý sẵn.
Đối tượng khác 5,1% Nhu cầu phong phú, đa dạng theo từng mục đích cá nhân.

Về thực trạng triển khai, TVQGVN áp dụng 4 hình thức truyền thông trực tuyến chính:

  1. Qua website và blog thư viện: Trang web vận hành theo quy trình 5 bước (xác định phương hướng, chuẩn bị thiết kế, thiết kế/lập trình, kiểm tra/thử nghiệm, duy trì/phát triển). Phân công 1 cán bộ Phòng Tin học phụ trách kỹ thuật. Website xây dựng các module chính: Trang chủ (tích hợp mục Tin tức, OPAC phần mềm ILIB, CSDL số Hán Nôm liên kết tổ chức quốc tế như Yale University, mục Đặt mua Tạp chí Thư viện), Giới thiệu, Tra cứu CSDL, Hoạt động TVQG, Sản phẩm thư viện (cho phép tải file Thư mục Quốc gia), Blog (thông báo sự kiện, tuy nhiên bình luận của bạn đọc phải qua kiểm duyệt) và Trợ giúp (hỏi đáp nội quy, phí, photo).
  2. Qua thông tin trên website khác: Phối hợp gửi tin bài tới website chuyên ngành (thuvien.net), website các thư viện địa phương (Thái Bình, Đà Nẵng, Bình Dương) và báo điện tử (dantri.com.vn, vnexpress.net).
  3. Qua đường link liên kết từ website khác: Đặt biểu trưng, logo kết nối tại website Hội Thư viện Việt Nam, Thư viện Khoa học Tổng hợp Đà Nẵng. Khảo sát Google ngày 22/12/2011 với cú pháp link:http://www.nlv.gov.vn ghi nhận 323 trang web trong và ngoài nước dẫn liên kết về TVQGVN.
  4. Qua dịch vụ chat online và hòm thư góp ý: Bố trí cán bộ trực hỗ trợ trực tuyến trên website theo khung giờ (sáng 7h00–11h00, chiều 13h00–17h00) và tiếp nhận ý kiến phản hồi qua hộp thư ilibsuport@cmc.vn trên phân hệ OPAC.

Chương 3: Nhận xét và giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động truyền thông marketing trên internet tại Thư viện Quốc gia Việt Nam

Chương 3 tổng kết các ưu điểm và hạn chế trong thực tiễn truyền thông của đơn vị. Ưu điểm nổi bật là TVQGVN đã chủ động đi đầu trong hệ thống thư viện công cộng khi kết hợp nhiều kênh thông tin trực tuyến, xây dựng được website với khối lượng dữ liệu phong phú, đa dạng module.

Tuy nhiên, tác giả chỉ ra các nhược điểm cụ thể: Thư viện tập trung nguồn lực quá lớn vào website nhưng chưa đồng đều ở các kênh khác; các công cụ phổ biến như mạng xã hội và diễn đàn điện tử (Forum) hoàn toàn chưa được triển khai; một số module trên trang web còn tồn tại mục rỗng, không có dữ liệu (mục Dự án, Dịch vụ thư viện, Thống kê bạn đọc); mục Blog yêu cầu kiểm duyệt khắt khe khiến tính tương tác thảo luận bị suy giảm; dịch vụ chat và email chưa có hệ thống tự động đo lường phản hồi; đội ngũ phụ trách truyền thông vẫn mang tính kiêm nhiệm giữa kỹ thuật và chuyên môn tư liệu, chưa được đào tạo bài bản về marketing chuyên nghiệp.

Trên cơ sở đó, chương 3 đề xuất 4 nhóm giải pháp nâng cao chất lượng hoạt động:

  • Chuyên nghiệp hóa đội ngũ cán bộ: Kiện toàn bộ phận chuyên trách về truyền thông marketing, đào tạo nâng cao kỹ năng tiếp thị hiện đại và ứng dụng công nghệ web cho nhân sự Phòng Thông tin Tư liệu và Phòng Tin học.
  • Hoàn thiện các hình thức truyền thông marketing hiện có: Cập nhật đầy đủ dữ liệu cho các module còn để trống trên website; đẩy mạnh tốc độ phản hồi dịch vụ chat và hòm thư góp ý; đơn giản hóa cơ chế kiểm duyệt ý kiến trên blog; chuẩn hóa việc đặt logo, liên kết ngoài trên các trang tin uy tín.
  • Sử dụng các hình thức truyền thông marketing khác trên internet: Nghiên cứu triển khai trang cộng đồng trên mạng xã hội (Facebook) và thành lập diễn đàn trực tuyến chuyên ngành nhằm tạo môi trường đối thoại thường xuyên với sinh viên và giới chuyên môn.
  • Xây dựng thói quen sử dụng các hình thức truyền thông marketing của Thư viện cho người dùng tin: Tích hợp hướng dẫn sử dụng các kênh trực tuyến vào các buổi tập huấn bạn đọc đầu khóa, phổ biến tài liệu hướng dẫn tra cứu tại các sảnh phục vụ tập trung.

Kết quả và đóng góp

Khóa luận đã tổng hợp và công bố hệ thống dữ liệu chi tiết phản ánh thực trạng cơ sở vật chất, cơ cấu bạn đọc và mức độ ứng dụng internet tại TVQGVN ở giai đoạn 2006–2011:

Chỉ số khảo sát Dữ liệu định lượng trong văn bản
Nhân sự thư viện 173 người (1 Tiến sĩ, 16 Thạc sĩ, 124 Cử nhân).
Hạ tầng máy trạm 260 máy (30 máy phòng Đa phương tiện, 20 máy phòng Đào tạo, 32 máy sảnh tra cứu).
Hệ thống máy chủ 15 máy chủ (vận hành ILIB, DLIB, NLVNPF, Web, Mail, Internet/Intranet).
Đường truyền mạng 4 đường (Leased Line 192kbps, Wifi, ADSL 2M cho bạn đọc, ADSL 4M cho cán bộ).
Vốn tài liệu số hóa Gần 2.000.000 trang (triển khai từ năm 2003 đến thời điểm nghiên cứu).
Cơ cấu thẻ đọc 2006–2010 Sinh viên chiếm trung bình 69,4% (biến thiên từ 64,7% đến 72,1%); cán bộ chiếm 30,6%.
Độ phủ liên kết ngoài 323 trang web có link trỏ về địa chỉ website thư viện (truy vấn ngày 22/12/2011).

Về mặt đóng góp khoa học, đề tài là công trình nghiên cứu khóa luận chuyên biệt đầu tiên làm rõ toàn diện bức tranh truyền thông marketing trên internet tại Thư viện Quốc gia Việt Nam. Khóa luận đã hệ thống hóa cơ sở lý luận, xác lập khung tiêu chí đánh giá các kênh trực tuyến áp dụng riêng cho cơ quan thông tin - thư viện công cộng.

Về mặt thực tiễn, các kết quả khảo sát đã chỉ rõ những điểm nghẽn kỹ thuật và nội dung trên website nlv.gov.vn, từ đó cung cấp 4 nhóm giải pháp thiết thực giúp ban lãnh đạo thư viện định hướng hoàn thiện hạ tầng, tái cơ cấu nhân sự phụ trách và mở rộng các kênh truyền thông mới nhằm đáp ứng đúng nhu cầu của nhóm người dùng tin chủ lực.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Khóa luận tồn tại một số hạn chế gắn liền với phạm vi và thời điểm nghiên cứu:

  • Dữ liệu khảo sát thực tế và các chỉ số đo lường trực tuyến phản ánh hiện trạng năm 2011, do đó chưa bao quát được các bước phát triển công nghệ mạng xã hội và di động trong giai đoạn sau này.
  • Số liệu điều tra thành phần và nhu cầu tin mới chỉ được trích xuất từ đợt khảo sát phiếu tại một thời điểm cụ thể (ngày 11/03/2010) tại phòng đọc sách tiếng Việt, chưa thực hiện khảo sát diện rộng trên toàn bộ các phòng chức năng khác.
  • Đề tài tập trung nhận xét định tính đối với các module website và kênh tương tác, chưa áp dụng các công cụ đo lường chuyên sâu về lưu lượng truy cập (web analytics) hay tỷ lệ chuyển đổi dịch vụ.

Các hướng nghiên cứu mở rộng được ghi nhận từ phạm vi đề tài bao gồm:

  • Khảo sát thực nghiệm việc xây dựng và vận hành kênh truyền thông qua mạng xã hội (Facebook, diễn đàn) khi TVQGVN đưa vào áp dụng chính thức.
  • Nghiên cứu hành vi tiếp nhận thông tin và mức độ thỏa mãn của người dùng tin đối với hệ thống dịch vụ thư viện trực tuyến trong kỷ nguyên số hóa mở rộng.

Giá trị tham khảo

Khóa luận là nguồn tài liệu hữu ích cho:

  • Sinh viên, học viên cao học và giảng viên chuyên ngành Thông tin – Thư viện, Quản lý thông tin hoặc Quản lý văn hóa đang nghiên cứu về các chuyên đề: Marketing thư viện, Dịch vụ thông tin trực tuyến, và Xây dựng hình ảnh cơ quan thông tin.
  • Cán bộ quản lý, chuyên viên phụ trách công nghệ và truyền thông tại hệ thống thư viện công cộng các tỉnh/thành phố và thư viện các trường đại học, phục vụ việc tham khảo mô hình tổ chức phân hệ tra cứu OPAC, xây dựng module nội dung trang web và quy trình hỗ trợ bạn đọc qua mạng.
  • Phần đáng tham khảo nhất của khóa luận là hệ thống tiêu chí đánh giá 6 hình thức truyền thông marketing trên internet (Chương 1) và quy trình 5 bước xây dựng, quản trị nội dung website thư viện (Chương 2).

Câu hỏi thường gặp

1. Cơ cấu bạn đọc làm thẻ tại Thư viện Quốc gia Việt Nam giai đoạn 2006–2010 biến động như thế nào?

Theo số liệu thống kê sổ đăng ký làm thẻ được tác giả thu thập, đối tượng bạn đọc tại TVQGVN gồm hai nhóm chính là cán bộ và sinh viên:

  • Năm 2006: Cán bộ chiếm 27,9%, sinh viên chiếm 72,1%.
  • Năm 2007: Cán bộ chiếm 28,6%, sinh viên chiếm 71,4%.
  • Năm 2008: Cán bộ chiếm 31,0%, sinh viên chiếm 69,0%.
  • Năm 2009: Cán bộ chiếm 34,8%, sinh viên chiếm 65,2%.
  • Năm 2010: Cán bộ chiếm 35,3%, sinh viên chiếm 64,7%. Tỷ lệ sinh viên làm thẻ chiếm trung bình 69,4%, là nhóm đối tượng chiếm ưu thế tuyệt đối tại thư viện.

2. Hạ tầng kỹ thuật công nghệ thông tin tại TVQGVN thời điểm khảo sát gồm những gì?

Hạ tầng CNTT của đơn vị năm 2011 gồm:

  • 15 máy chủ cấu hình cao cài đặt phần mềm quản trị thư viện điện tử ILIB, thư viện số DLIB, CSDL số Hán Nôm NLVNPF, quản trị website, thư điện tử và quản lý mạng nội bộ.
  • 260 máy trạm kết nối mạng băng thông rộng (gồm 30 máy phòng Đa phương tiện, 20 máy phòng Đào tạo, 32 máy tại sảnh tra cứu tập trung, số còn lại dành cho cán bộ).
  • 4 đường truyền internet độc lập: 1 đường Leased Line 192kbps (chuyên dùng cho Web và Mail), mạng không dây Wifi, 1 đường ADSL 2M (bạn đọc tra cứu) và 1 đường ADSL 4M (cán bộ xử lý nghiệp vụ).

3. Khóa luận chỉ ra những điểm trống cụ thể nào trong cấu trúc module trên website của TVQGVN?

Khảo sát tại Chương 2 và Chương 3 ghi nhận: trong module "Hoạt động TVQG", các tiểu mục "Dự án", "Dịch vụ thư viện" và "Thống kê bạn đọc" hoàn toàn chưa được cập nhật nội dung hoặc để trống, dù trên thực tế thư viện đang triển khai nhiều dịch vụ và dự án nghiệp vụ. Ngoài ra, module Blog có quy định kiểm duyệt bình luận làm giảm tính tương tác, và thư viện hoàn toàn chưa triển khai diễn đàn trực tuyến hay mạng xã hội.

4. Dịch vụ chat online và hòm thư góp ý của thư viện hoạt động như thế nào?

Dịch vụ chat trực tiếp trên website TVQGVN được bố trí tại mục Hỗ trợ trực tuyến, hoạt động trong hai khung giờ làm việc: buổi sáng từ 7h00 đến 11h00 và buổi chiều từ 13h00 đến 17h00. Hòm thư điện tử tiếp nhận góp ý của bạn đọc được thiết lập tại địa chỉ ilibsuport@cmc.vn, tích hợp trên phân hệ tra cứu OPAC.

5. Những giải pháp trọng tâm nào được tác giả đề xuất để nâng cao hiệu quả truyền thông?

Tác giả đề xuất 4 nhóm giải pháp:

  • Chuyên nghiệp hóa đội ngũ nhân sự chuyên trách marketing, bồi dưỡng kỹ năng công nghệ cho cán bộ Phòng Tin học và Phòng Thông tin Tư liệu.
  • Hoàn thiện nội dung trên website (bổ sung các mục còn trống), cải tiến dịch vụ chat và xử lý hòm thư góp ý.
  • Khai thác thêm các hình thức truyền thông mới trên internet như mạng xã hội (Facebook) và diễn đàn trực tuyến.
  • Tổ chức hướng dẫn, tập huấn xây dựng thói quen tương tác qua các kênh truyền thông trực tuyến cho người dùng tin.

Kết luận

Khóa luận của tác giả Nguyễn Thị Thơm đã phản ánh bức tranh thực trạng hoạt động truyền thông marketing trên internet tại Thư viện Quốc gia Việt Nam ở giai đoạn năm 2011. Nghiên cứu đã làm rõ sự chuyển dịch phương thức tiếp cận bạn đọc của thư viện trung tâm cả nước thông qua hạ tầng công nghệ thông tin và hệ thống website chuyên ngành, chỉ ra mối tương quan giữa đặc điểm người dùng tin sinh viên với nhu cầu tương tác trực tuyến. Các hạn chế về tính đồng bộ giữa các kênh và việc thiếu vắng mạng xã hội đã được nhận diện cụ thể, đi kèm hệ thống giải pháp nâng cao tính chuyên nghiệp cho công tác thông tin - thư viện trong môi trường số.