chương I, điều 1, khoảng 2 của Nội quy Ban Tăng sự trung ương có ghi: “Ngành thực hiện chức năng quản lý Tăng Ni, Tự Viện trên phạm vi toàn quốc”. Như vậy, nếu nói về một cá nhân thì Tăng sự là vấn đề giới luật của một tu sĩ Phật giáo, nếu nói về tập thể thì đó là ngành Tăng sự quản lý tu sĩ và cơ sở Phật giáo theo Hiến chương và Nội quy Ban Tăng sự trung ương của Giáo hội Phật giáo Việt Nam. - Hoạt động Tăng sự: Với cách hiểu như trên về Tăng sự, đồng thời theo Nội quy Ban Tăng sự trung ương Giáo hội Phật giáo Việt Nam, hoạt động Tăng sự theo định hướng của tác giả trong luận văn: có hai nghĩa: - Một là những hoạt động hằng ngày của một vị tu sĩ Phật giáo, liên quan đến: giữ gìn giới luật, thực hiện đời sống đạo, tham gia những hoạt động Tăng đoàn… những việc cá nhân của một tu sĩ thực hiện theo giới luật Phật pháp và Nội quy Ban Tăng sự trung ương; - Hai là những hoạt động của tập thể của Tăng đoàn theo quy định của giới luật, Phật pháp, Nội quy Ban Tăng sự trung ương, những chỉ đạo của giáo hội. Như vậy, hoạt động Tăng sự là: những hoạt động của cá nhân và những hoạt động mang tính tập thể của tu sĩ Phật giáo trong một lãnh thổ nhất định theo pháp luật, giới luật, Phật pháp, Nội quy Ban Tăng sự trung ương, sự chỉ đạo của giáo hội thuộc lĩnh vực Tăng sự.
- Tam Bảo: là thế giới thiêng của Phật giáo, bao gồm: Phật bảo, Pháp bảo, Tăng bảo Hoạt động Tăng sự trước tiên phải được dựa vào Tam Bảo hình thành và cũng phải ứng hợp với thời kỳ. Để có cái nhìn khái quát hơn, tác giả trình bày một số hoạt động của Phật và Tăng đoàn thời Đức Phật, nhằm làm cơ sở đánh giá các hoạt động Tăng sự hiện tại mà Giáo hội Phật giáo Việt Nam thành phố Cần Thơ 12 đang thực hiện. Căn cứ vào sách Đức Phật và Phật Pháp của Narada, Đời Sống Đức Điều Ngự của Minh Phát, Tăng Già Thời Đức Phật của Thích Chơn Thiện, Kinh Kim Cang trong Tam Tạng. Hoạt động của Đức Phật hằng ngày được thực hiện như một quy luật, buổi sáng, trưa, canh đầu, canh giữa, canh cuối.
Những hoạt động của Đức Phật - Buổi sáng: Hừng sáng thì Đức Phật đi truyền đạo và đi trì bình khất thực trên các nẻo đường, khi đi một mình, khi đi cùng với Tăng đoàn. Theo Trường Bộ Kinh(Digha Nikaya) bài kinh số 9. Kinh Potthapàda (Bố-sá-bà-lâu) (Potthapàda sutta) có nói đến sinh hoạt buổi sáng của Đức Phật như sau: “Như vầy tôi nghe. Một thời Thế Tôn ở tại Sàvatthi (Xá-vệ), rừng Jetavana (Kỳ viên), vườn Anàthapindika (Cấp Cô Ðộc).
Lúc bấy giờ, du sĩ ngoại đạo Potthapada (Bố-sá-bà- lâu) cùng với đại chúng du sĩ ngoại đạo khoảng ba trăm vị, ở tại vườn của hoàng hậu Mallika (Mạt-lê-viên) tên là Ekasàlaka có hàng rào cây tinduka, một hội thảo trường luận bàn về chánh kiến, tà kiến. Lúc bấy giờ Thế Tôn, vào buổi sáng đắp y cầm bát vào Sàvatthi khất thực. Rồi Thế Tôn tự nghĩ: "Nay còn quá sớm để đi khất thực tại Sàvatthi, Ta hãy đi đến vườn của hoàng hậu Mallika tên là Ekasàlaka, có hàng rào cây tinduka, một hội thảo trường luận bàn chánh kiến, tà kiến, để gặp du sĩ ngoại đạo Potthapàda". Và Thế Tôn đi đến vườn của hoàng hậu Mallika…” [44, tr.
Một đoạn kinh khác cũng tả lại cảnh buổi sáng thường nhật của Đức Phật: “Như vậy tôi nghe. Một thời Thế Tôn sống ở Ràjagaha (Vương Xá thành), tại Veluvana (Trúc Lâm), Kalandakanivàpa (chỗ tìm ăn của loài sóc). Lúc bấy giờ, Singàlaka (Thi-ca-la-việt), gia chủ tử, dậy sớm, ra khỏi thành Vương Xá, với áo thấm nước, với tóc thấm nước, chấp tay đảnh lễ các phương hướng, hướng Ðông, hướng Nam, hướng Tây, hướng Bắc, hướng Hạ, hướng Thượng. Rồi Thế Tôn buổi sáng đắp y, cầm y bát vào thành Vương Xá khất thực.
Thế Tôn thấy Singàlaka, gia chủ tử, dậy sớm, ra khỏi thành Vương Xá, với áo thấm nước, với tóc thấm nước…Này Gia chủ tử, vì sao Ngươi dậy sớm, ra khỏi thành Vương Xá, với áo thấm ướt, với tóc thấm ướt chấp tay đảnh lễ các 13 phương hướng, hướng Ðông. hướng Thượng? Bạch Thế Tôn, thân phụ con khi gần chết có dặn con: "Này con thân yêu, hãy đảnh lễ các phương hướng". Bạch Thế Tôn, con kính tín, cung kính, tôn trọng, đảnh lễ lời nói của thân phụ con, buổi sáng dậy sớm, ra khỏi thành Vương Xá, với áo thấm ướt, với tóc thấm ướt, chấp tay đảnh lễ các phương hướng, hướng Ðông. hướng Thượng.
Này Gia chủ tử, trong luật pháp của bậc Thánh, lễ bái sáu phương không phải như vậy. Bạch Thế Tôn, trong luật pháp của bậc Thánh, thế nào là lễ bái sáu phương? Bạch Thế Tôn, trong luật pháp của bậc Thánh, đảnh lễ sáu phương phải như thế nào? Lành thay! Thế Tôn hãy giảng pháp ấy cho con! Này Gia chủ tử, hãy nghe và suy nghiệm kỹ, Ta sẽ giảng. Thưa vâng, bạch Thế Tôn. Singàlaka, gia chủ tử vâng lời Thế Tôn.
Thế Tôn giảng như sau: Này Gia chủ tử, đối với vị Thánh đệ tử, bốn nghiệp phiền não được diệt trừ, không làm ác nghiệp theo bốn lý do, không theo sáu nguyên nhân để phung phí tài sản. Vị này, nhờ từ bỏ mười bốn ác pháp, trở thành vị che chở sáu phương; vị này đã thực hành để chiến thắng hai đời, vị này đã chiến thắng đời này và đời sau. Sau khi thân hoại mạng chung, vị này sanh ở thiện thú, Thiên giới. 621,622] Còn nhiều đoạn kinh mô tả về hoạt động buổi sáng của Ngài, những hoạt động này mang tính chất như một quy luật không thay đổi trong đời sống của Ngài.
Đó là: vào buổi sáng đắp y cầm bát vào làng xóm khất thực, để hóa độ người bằng những lời khuyên, lời giảng dạy về phương pháp sống như thế nào để có hạnh phúc cho một con người và mọi loài xung quanh. - Buổi trưa và chiều: theo quyển Đức Phật và Phật Pháp, của Narada, “Đức Phật thọ thực trước giờ ngọ(11giờ - 13giờ). Sau đó chư vị Tỳ khưu hợp lại nghe Ngài thuyết một bài Pháp ngắn. Sau thời pháp, Đức Phật ban lễ quy y Tam Bảo, truyền Ngũ Giới, và nếu có vị nào đạt đến tình độ tinh thần đầy đủ, Ngài chỉ dẫn vào Thánh Đạo, Con Đường Giải Thoát.
Một vài vị đến gần để xin đề mục hành thiền thích hợp theo tâm tánh mình. Nếu có lời thỉnh nguyện, đôi khi Ngài cũng ban hành lễ xuất gia. Một quy luật trình tự về thường nhật của Đức Phật được ghi lại trong kinh Trung Bộ - Majjhima Nikaya, tập 1, bài kinh số 14 18. Kinh Mật hoàn (Madhupindika sutta): “Tôi nghe như vầy: Một thời, Thế Tôn sống giữa các vị dòng họ Sakya (Thích-ca), tại Kapilavatthu (Ca-tỳ-la-vệ), ở vườn Nigrodharama.
Rồi Thế Tôn vào buổi sáng, đắp y, cầm y bát vào thành Kapilavatthu để khất thực. Sau khi khất thực ở Kapilavatthu, khi ăn xong, trên đường khất thực trở về, Thế Tôn đi đến Ðại Lâm để nghỉ trưa. Sau khi vào rừng Ðại Lâm, Ngài ngồi nghỉ trưa dưới gốc cây beluvalatthika. Có vị Gậy cầm tay (Dandapani) Sakya (Thích-ca), … Gậy cầm tay Sakya nói với Thế Tôn: "Sa-môn có quan điểm thế nào, giảng thuyết những gì?" Này Hiền giả, theo lời dạy của Ta,…Rồi Thế Tôn vào buổi chiều từ Thiền tịnh độc cư đứng dậy, đi đến vườn Nigrodha, khi đến xong, ngồi trên chỗ đã soạn sẵn.
Sau khi ngồi, Thế Tôn gọi các Tỷ-kheo: Chư Tỷ-kheo, ở đây, Ta vào buổi sáng, đắp y, cầm y bát vào thành Kapilavatthu để khất thực. …Khi nghe nói vậy, một Tỷ-kheo bạch Thế Tôn: … Này Tỷ-kheo, do bất cứ nhân duyên gì, một số hý luận vọng tưởng ám ảnh một người. … Chính ở đây, những ác, bất thiện pháp này đều được tiêu diệt, không còn dư tàn ” [ 38, tr. Ở một đoạn kinh Màgandiya (Màgandiya sutta) “Một thời Thế Tôn trú giữa dân chúng Kuru, tại thị trấn của dân chúng Kuru tên là Kammasadhamma, trên thảm cỏ trong nhà lửa của một Bà-la-môn thuộc dòng họ Bharadvaji.
Rồi Thế Tôn vào buổi sáng đắp y, cầm y bát, vào Kammasadhamma để khất thực. Ði khất thực ở Kammasadhamma xong, sau bữa ăn, trên đường khi khất thực về, Thế Tôn đi đến một khu rừng để nghỉ trưa. Sau khi đi sâu vào khu rừng ấy, Thế Tôn đến ngồi dưới một gốc cây để nghỉ trưa. …Thế Tôn với thiên nhĩ thanh tịnh siêu nhân nghe được câu chuyện giữa Bà-la-môn thuộc dòng họ Bharadvaja và du sĩ Magandiya.
Và Thế Tôn vào buổi chiều, từ Thiền tịnh độc cư đứng dậy, đi đến nhà lửa của Bà-la-môn thuộc dòng họ Bharadvaja, sau khi đến liền ngồi trên thảm cỏ đã soạn sẵn…Rồi Thế Tôn nói với Bà-la-môn thuộc dòng họ Bharadvaja đang ngồi một bên:” Trong đoạn kinh này có tiếp nối thời khóa biểu buổi sáng là thời ăn cơm trưa, và sau đó là một bài pháp ngắn dành cho những người có thắt mắc đối với giáo lý, xong thời giảng là lúc nghĩ trưa. 15 Xong thời nghĩ trưa là sinh hoạt buổi chiều giảng dạy giáo lý cho học trò tu sĩ của Ngài. - Ban ngày đã dần khép lại, để mở ra thời khóa bắt đầu canh một từ lúc 18 giờ đến 20 giờ. “Đức Phật dành riêng để các vị tỳ khưu được tự do thỉnh cầu Ngài rọi sáng những hoài nghi của mình, hỏi về những điểm phức tạp trong Giáo Pháp, xin đề mục hành thiền, và lắng nghe thuyết giảng.
”[11] - Khung giờ khoảng từ 20 giờ đến 2 giờ sáng hôm sau là thời gian Đức Phật dành cho những vị trời - Phạm Thiên là những sinh vật được xuất phát từ trời xuống mà mắt người không thể trông thấy, đến hầu Phật và hỏi Ngài về Giáo Pháp. Nhiều bài kinh và nhiều lời vấn đáp được ghi lại trong bộ Samyutta Nikaya (Kinh Tạp A Hàm) có một đoạn, thường được nhắc đi lặp lại như sau: “Lúc bấy giờ đêm đã khuya, một vị Trời có hào quang rực rỡ đến gần Đức Phật, cung kính đảnh lễ và đứng lại một bên”. Trong Kinh Ðại Ðiển Tôn (Mahàgovinda sutta): “Như vậy tôi nghe. Một thời Thế Tôn ở tại Vương Xá, núi Linh Thứu.
Khi đêm đã gần mãn, Pancasikha (Ngũ Kế), thuộc giòng họ Càn- thát-bà (Gandhabba), với dung mạo đoan chánh, chói sáng toàn vùng núi Linh Thứu, đến tại chỗ Thế Tôn, sau khi đến, đảnh lễ Ngài và đứng một bên. Sau khi đứng một bên, Pancasikha, thuộc giòng họ Càn-thát-bà bạch Thế Tôn: Bạch Thế Tôn, những điều con đã tự thân nghe và chấp nhận trước mặt chư Thiên ở Tam thập tam thiên, bạch Thế Tôn con muốn bạch lại Thế Tôn” [ 47, tr.