Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo, Phụ lục, nội dung luận văn gồm 3 chương: 4 - Chƣơng 1: Những vấn đề lý luận chung về công ty xuyên quốc gia và kinh nghiệm quốc tế trong việc thu hút và sử dụng công ty xuyên quốc gia. - Chƣơng 2: Thực trạng hoạt động của các công ty xuyên quốc gia ở Việt Nam. - Chƣơng 3: Quan điểm định hướng và giải pháp thu hút, sử dụng các công ty xuyên quốc gia ở Việt Nam. CHƢƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ CÔNG TY XUYÊN QUỐC GIA VÀ KINH NGHIỆM QUỐC TẾ TRONG VIỆC THU HÚT VÀ SỬ DỤNG CÁC CÔNG TY XUYÊN QUỐC GIA 1.1 Lý luận chung về công ty xuyên quốc gia 1.1 Khái niệm Khi một công ty thực hiện việc sản xuất kinh doanh ở ngoài quốc gia của mình thông qua việc thiết lập các chi nhánh ở nhiều nước khác nhau thì công ty đó được gọi là công ty xuyên quốc gia (viết tắt là TNCs).
Để có thể hiểu hơn về các TNCs, trước hết chúng ta cần nghiên cứu những quan niệm và một số định nghĩa xung quanh thuật ngữ công ty xuyên quốc gia. Sự phát triển liên tục của TNCs về quy mô, cơ cấu tổ chức, phương thức sở hữu từ sau chiến tranh thế giới lần thứ hai đến nay đã làm nảy sinh rất nhiều quan niệm và định nghĩa khác nhau về TNCs. Mặc dù đều thừa nhận rằng, các TNCs phải là những công ty độc quyền lớn, hoạt động trên phạm vi quốc tế và có thể gọi là công ty đa quốc gia hay công ty xuyên quốc gia, tuỳ theo tiến trình phát triển nhận thức chung về loại hình công ty này, nhưng chúng ta có thể nhận thấy về cơ bản có hai loại quan niệm chính như sau: Thứ nhất: Quan niệm về công ty quốc tế (International Corporation), trong đó bao gồm cả công ty toàn cầu, công ty xuyên quốc gia, công ty đa quốc gia, công ty siêu quốc gia. Những người theo quan niệm này không quan tâm đến nguồn gốc tư bản sở hữu, cũng như tính quốc tịch của công ty, không chú ý đến bản chất quan hệ sản xuất của quốc gia có công ty đó hay các chi nhánh của nó.
Nói chung, họ chỉ quan tâm đến mặt hoạt động sản xuất, kinh doanh, thương 5 mại-đầu tư quốc tế của các TNCs. Nghĩa là họ chỉ chú ý đến mặt quốc tế hoá hoạt động kinh doanh của các công ty mà thôi. Thứ hai: Quan niệm về công ty xuyên quốc gia (Transnational Corporations), là công ty tư bản độc quyền, có tư bản thuộc về chủ tư bản của một nước nhất định nào đó. Ở đây, người ta chú ý đến tính chất sở hữu và tính quốc tịch của tư bản: vốn đầu tư kinh doanh là của ai, ở đâu.
Chủ tư bản ở một nước cụ thể nào đó có công ty mẹ đóng tại nước đó và thực hiện kinh doanh trong và ngoài nước, bằng cách lập các công ty con ở nước ngoài là hình thức điển hình của loại hình này. Ví dụ, công ty Sony của Nhật Bản, công ty Ford của Mỹ trong quá trình sản xuất, kinh doanh đã dần dần trở thành những công ty khổng lồ của thế giới (tài sản tương ứng của 2 công ty này là: Sony 85 tỷ USD và Ford 304 tỷ USD, chúng đã thiết lập các chi nhánh ở nhiều nơi trên thế giới, kể cả ở Việt Nam và đều là những công ty xuyên quốc gia theo loại hình này (Xem phụ lục 1). Từ điển Bách khoa viết về công ty xuyên quốc gia: Thuật ngữ “công ty xuyên quốc gia” được sử dụng để chỉ “Một tổ chức kinh doanh gồm nhiều thực thể nằm ở hai hay nhiều nước, không xét đến hình thức pháp lý và lĩnh vực hoạt động, miễn là các thực thể này vận động theo một hệ thống ra quyết định, một chế độ chính sách và một chiến lược chung. Qua đó, các thực thể này là những mắt xích của một chế độ sở hữu, chúng ảnh hưởng đến hoạt động của nhau.
Đặc biệt chúng có chung một nguồn tri thức, nguồn vốn và trách nhiệm trong việc thực hiện mục tiêu cuối cùng”. Điều gây tranh cãi nhiều nhất trong định nghĩa này là cụm từ “không xét đến hình thức pháp lý và lĩnh vực hoạt động”. Ở đây Liên Hiệp Quốc muốn áp dụng định nghĩa này cho các tổ chức kinh doanh Nhà nước thuộc các nước XHCN trước đây, cũng như các doanh nghiệp nhà nước của các nước TBCN tham gia vào nền thương mại quốc tế.[31] Một số học giả hiểu rằng: các công ty xuyên quốc gia là các công ty liên kết chặt chẽ hoặc không chặt chẽ, bao gồm các công ty mẹ và các công ty con ở nước ngoài. Một công ty mẹ là một công ty quản lý tài sản được sử dụng để sản xuất tại nước ngoài.
Một công ty con (công ty có sở hữu phần lớn hoặc nhỏ) là một doanh nghiệp liên kết chặt chẽ hoặc không chặt chẽ tại một nước (tiếp nhận 6 đầu tư), trong đó một doanh nghiệp đặt tại nước khác (nước đi đầu tư) có cổ phần cho phép quản lý doanh nghiệp đó. Gần đây nhất, năm 1998, trong Báo cáo Đầu tư thế giới, các chuyên gia của Liên Hiệp Quốc đã nêu định nghĩa về công ty xuyên quốc gia cụ thể hơn như sau: Các công ty xuyên quốc gia là những công ty trách nhiệm hữu hạn hoặc vô hạn bao gồm các công ty mẹ và các chi nhánh nước ngoài của chúng. Các công ty mẹ được định nghĩa như là các công ty mà việc kiểm soát tài sản của các thực thể kinh tế khác ở nước ngoài, thường được thực hiện thông qua việc góp vốn tư bản cổ phần của chúng. Mức góp vốn cổ phần với 10% hoặc cao hơn, các loại cổ phiếu thường hoặc cổ phiếu có quyền biểu quyết đối với loại công ty TNHH, hoặc tương đương với công ty trách nhiệm vô hạn, thường được xem như là ngưỡng đối với quyền kiểm soát tài sản của các công ty khác.
Các chi nhánh nước ngoài (cũng được gọi là công ty con) là các công ty TNHH hoặc vô hạn, trong đó chủ đầu tư là người sống ở nước khác, có mức góp vốn cho phép có được lợi ích lâu dài trong việc quản lý công ty đó (mức góp vốn cổ phần 10% đối với công ty TNHH hoặc tương đương đối với công ty trách nhệm vô hạn). Trong “Báo cáo Đầu tư Thế giới” của Liên Hiệp Quốc, công ty con (Subsidiary Enterprise), công ty liên kết (Associate Enterprise), công ty nhánh (Branches) đều được gọi chung là chi nhánh nước ngoài (Foreign Affiliates), hay các chi nhánh (Afiliates). Mặc dù được gọi chung như nhau, đều là chi nhánh nước ngoài, nhưng mỗi loại trên đây được “Báo cáo Đầu tư Thế giới” định nghĩa cụ thể như sau: - Công ty con (Subsidiary Enterprise) là công ty TNHH ở nước chủ nhà (Host Country), (là nước có công ty con của TNCs hoạt động), trong đó các thực thể kinh tế khác trực tiếp có quyền sở hữu trên một nửa quyền biểu quyết của các cổ đông và có quyền đình chỉ hay bãi miễn phần lớn thành viên của ban giám đốc, ban quản lý hay thanh tra. - Các công ty liên kết (Associate Enterprise) là công ty TNHH ở nước chủ nhà, trong đó nhà đầu tư có sở hữu ít nhất là 10%, nhưng không lớn hơn một nửa quyền biểu quyết của các cổ đông.
- Công ty nhánh (Branch Enterprise) là công ty trách nhiệm vô hạn có toàn bộ vốn hoặc góp vốn ở nước chủ nhà với một trong những hình thức sau: 7 + Được thành lập một cách lâu dài, hoặc là văn phòng của nhà đầu tư nước ngoài. Công ty trách nhiệm vô hạn hay công ty liên doanh giữa nhà đầu tư trực tiếp nước ngoài với một hoặc nhiều thành viên. + Đất, các kết cấu kiến trúc (trừ các kết cấu kiến trúc thuộc sở hữu của các thực thể kinh tế của Nhà nước), hoặc thiết bị bất động sản và các đối tượng sở hữu trực tiếp của nước ngoài. + Thiết bị có động cơ (như: tàu biển, máy bay, thiết bị khoan dầu khí) được vận hành với nước khác nước chủ đầu tư nước ngoài ít nhất là một năm.
Trong số các khái niệm về công ty, còn có một khái niệm cần chú ý, đó là “Holding Company”. Thường đó là công ty mẹ của một nhóm (tập đoàn) các công ty, có quyền sở hữu trực tiếp, hoặc gián tiếp các công ty trong nhóm. Trong cơ cấu nhóm như vậy, các công ty con trong đó có thể trở thành Holding Company đối với các công ty con khác. Holding Company trong tập đoàn có thể tự thực hiện các hoạt động, hoặc thông thường hơn, nó chỉ hoạt động như là phương tiện sở hữu cổ phần trong tập đoàn các công ty, trong đó tập đoàn cũng như toàn bộ hoạt động đều có tính “quốc tịch” (Nationali) vì nhiều mục đích khác nhau (như kiểm tra giám sát của Chính phủ) và để đánh thuế theo những hoạt động mà chúng chịu trách nhiệm.
Những định nghĩa trên cho thấy, công ty xuyên quốc gia – Công ty mẹ, phải là công ty cư trú ở một nước nhất định, với các chủ sở hữu của một quốc gia nhất định được gọi là Parent Company. Công ty đó tiến hành đầu tư, hoạt động thương mại ở nước ngoài, có thể là trực tiếp hoặc thông qua hệ thống chi nhánh được gọi là Foreign Affiliate. Các chi nhánh – Công ty con có thể là công ty 100% vốn của công ty mẹ chuyển đến hoặc có tỷ lệ vốn do công ty mẹ góp vào ít hơn nếu là liên doanh với các đối tác của nước sở tại. Nếu thực hiện liên doanh, khả năng bành trướng, khả năng chi phối thị trường của công ty mẹ sẽ rất lớn hơn.
Giữa công ty mẹ và công ty con có rất nhiều mối quan hệ, trước tiên là về tài chính, công nghệ và thị trường tiêu thụ sản phẩm, nhãn hiệu,… Theo nhiều chuyên gia thì dùng thuật ngữ TNCs để chỉ tất cả các công ty hoạt động trên phạm vi quốc tế là hợp lý vì nó không chỉ nêu được đặc trưng kinh tế nổi bật của công ty trong thời đại quốc tế hoá đời sống kinh tế đang diễn ra mạnh mẽ hiện nay, và phản ánh đúng tính chất hoạt động của công ty trong 8 thực tế, mà còn thể hiện rõ bản chất cốt lõi của nền sản xuất xã hội. Đó là quyền sở hữu thuộc về ai và ai là người quyết định, chi phối toàn bộ giá trị tư bản được sở hữu đó, được tập trung lại đó (cũng như số lợi nhuận được sinh ra từ nguồn tư bản đó).