CHƯƠNG 1 LÝ LUẬN VÀ KINH NGHIỆM THỰC TIỄN VỀ VĂN HÓA DOANH NGHIỆP 1. Lý luận về văn hóa doanh nghiệp 1. Khái niệm văn hóa doanh nghiệp Văn hóa là một khái niệm có nội hàm rộng, nó được giải thích bằng nhiều cách khác nhau liên quan đến mọi mặt đời sống vật chất và tinh thần của con người. Theo thống kê đến nay có hơn 400 khái niệm về văn hóa, các khác niệm được nhìn nhận dưới mỗi góc độ, khía cạnh và hướng nghiên cứu khác nhau.
Chủ tịch Hồ Chí Minh nêu quan niệm về văn hóa: “Vì lẽ sinh tồn cũng như mục đích của cuộc sống, loài người mới sáng tạo và phát minh ra ngôn ngữ, chữ viết, đạo đức, pháp luật, khoa học, tôn giáo, văn học, nghệ thuật, những công cụ cho sinh hoạt hằng ngày về mặc, ăn, ở và các phương thức sử dụng. Toàn bộ những sáng tạo và phát minh đó tức là văn hóa. Văn hóa là sự tổng hợp của mọi phương thức sinh hoạt cùng với biểu hiện của nó mà loài người đã sản sinh ra nhằm thích ứng những nhu cầu đời sống và đòi hỏi của sự sinh tồn”.431] Trong cuốn Tìm về bản sắc văn hóa Việt Nam, GS. TSKH Trần Ngọc Thêm cho rằng: “Văn hóa là hệ thống hữu cơ các giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo và tích lũy qua quá trình hoạt động thực tiễn trong sự tương tác giữa con người với môi trường tự nhiên và xã hội”.
10] Trong Từ điển tiếng Việt của Viện Ngôn ngữ học, do NXB Đã Nẵng và trung tâm từ điển học xuất bản năm 2014 đưa ra quan niệm: Văn hóa là tổng thể nói chung những giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo ra trong quá trình lịch sử. Văn hóa là một hệ thống hữu cơ các giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo, tích lũy qua quá trình hoạt động thực tiễn, trong sự tương tác giữa con người với môi trường tự nhiên, xã hội. Các nhà xã hội học chia văn hóa thành hai dạng: Văn hóa cá nhân và văn hóa cộng đồng. Văn hóa cá nhân là toàn bộ vốn tri thức, kinh nghiệm tích lũy vào 10 mỗi cá nhân, biểu hiện ở hệ thống quan điểm và hành xử của cá nhân ấy trong đời sống thực tiễn.
Văn hóa cộng đồng là văn hóa của một nhóm xã hội, nó không phải là số cộng giản đơn của văn hóa cá nhân – thành viên của cộng đồng xã hội ấy. Trong hoạt động của doanh nghiệp thì văn hóa doanh nhân và dạng văn hóa cá nhân còn văn hóa doanh nghiệp là một dạng văn hóa cộng đồng. Từ những quan điểm khác nhau về văn hóa trên đây, luận văn đề xuất khái niệm về văn hóa như sau: Văn hóa là một hệ thống hữu cơ các giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo và tích lũy trong quá trình hoạt động thực tiễn, trong sự tương tác giữa con người với môi trường tự nhiên, xã hội. Theo tổ chức Lao động quốc tế (ILO) thì: “VHDN là sự trộn lẫn đặc biệt các giá trị, các tiêu chuẩn, thói quen và truyền thống, những thái độ ứng xử và lễ nghi mà toàn bộ chúng là duy nhất đối với một tổ chức đã biết”.
Ông Georges De Saite Maire, chuyên gia người Pháp về doanh nghiệp vừa và nhỏ đưa ra định nghĩa như sau: “VHDN là tổng hợp các giá trị, các biểu tượng, huyền thoại, nghi thức, các điều cấm kỵ, các quan điểm triết học, đạo đức tạo thành nền móng sâu xa của doanh nghiệp”. Văn hóa doanh nghiệp nhìn từ góc độ xã hội, là một nguồn vốn phát triển của doanh nghiệp cần được tạo dựng và phát triển, là một tài sản của doanh nghiệp cần được sử dụng và phát huy nhằm đóng góp tạo ra hiệu quả cao cho hoạt động sản xuất kinh doanh và vốn này đang ngày càng trở thành một nhân tố quan trọng cho sự phát triển bền vững của doanh nghiệp, không kém phần quan trọng so với các nguồn vốn khác (lao động, tài chính, vật chất…). Theo Tiến sỹ Hoàng Đình Phi - Chủ tịch HĐQT Tập đoàn Sannam VNN – (www.vn) giá trị văn hóa của doanh nghiệp bao gồm các biểu trưng trực quan và các biểu trưng phi trực quan như sau: Các biểu trưng trực quan: Trong nhóm các yếu tố nền tảng của trình độ văn hóa doanh nghiệp, người ta có thể dễ dàng nhận ra các yếu tố hữu hình của văn hóa như: Kiến trúc trụ sở, văn phòng, biểu hiệu, tên gọi, khẩu hiệu, trang phục, ngôn ngữ sử dụng….Đây chính là hình thức thể hiện bên ngoài của văn hóa. 11 Các biểu trưng phi trực quan: Được thể hiện thông qua các đặc trưng của hành vi giao tiếp, ứng xử trong giao dịch (lịch sự, ân cần, tận tình, chu đáo…), lòng tin (sự tin cậy, tính nhất quán trong hành động…).
sự gắn bó cộng đồng (tính tập thể, tính cộng đồng, tình thương yêu, giúp đỡ lẫn nhau…), uy tín của doanh nghiệp (sự tín nhiệm, sự trung thực, sự minh bạch…). Văn hóa doanh nghiệp luôn là sự thống nhất và tương hỗ hữu cơ, hài hòa của các biểu trưng trực quan và phi trực quan, trong đó các biểu trưng trực quan là hình thức thể hiện bản chất; cốt lõi bên trong là các biểu trưng phi trực quan. Hệ thống các biểu trưng trực quan và phi trực quan trở thành động lực và chủ yếu nhất để thúc đẩy mọi người làm việc, là hạt nhân liên kết mọi người trong doanh nghiệp với nhau, liên kết doanh nghiệp và xã hội. Văn hóa doanh nghiệp tạo được nét bản sắc riêng, phân biệt doanh nghiệp này với doanh nghiệp khác.
Chính nhờ bản sắc này mà doanh nghiệp được xã hội chấp nhận và có được sức mạnh cũng như lợi thế cạnh tranh. Nó trở thành truyền thống, có giá trị lâu bền và được lưu luyến qua nhiều thế hệ nhân viên làm việc trong doanh nghiệp. Từ những phân tích trên có thể hiểu: “Văn hóa doanh nghiệp là toàn bộ những yếu tố biểu trưng trực quan và phi trực quan được doanh nghiệp chọn lọc, tạo ra, sử dụng và biểu hiện trong hoạt động kinh doanh, tạo nên bản sắc của doanh nghiệp”. Với sự cấu thành của những yếu tố riêng có của doanh nghiệp, văn hóa doanh nghiệp mang những đặc điểm như: Văn hoá doanh nghiệp có tính thực chứng; có tính tập thể; có tính quy phạm; có tính độc đáo và tính thực tiễn.
Cấu trúc của văn hóa doanh nghiệp Có nhiều định nghĩa, quan niệm khác nhau về VHDN, do vậy mỗi người nghiên cứu đứng ở góc độ, từng khía cạnh định nghĩa lại có một dạng cấu trúc văn hóa doanh nghiệp tương ứng. Nghiên cứu cấu trúc của VHDN dựa vào các thành tố cấu thành của nó là cách được nhiều nhà nghiên cứu lựa chọn. Cấu trúc của VHDN gồm 2 bộ phận: Các giá trị trực quan – hữu hình và các giá trị phi trực quan – vô hình. Các giá trị trực quan - hữu hình Các biểu hiện trực quan của VHDN là cái dễ được nhận thấy, nó được ví như “phần nổi của tảng băng” đó là: Kiến trúc tòa nhà, văn phòng, không gian làm việc, cây xanh, cách thức bài trí, sản phẩm, máy móc, thiết bị.
hoặc nghi thức, nghi lễ, lễ hội, trang phục, slogan, logo, ấn phẩm tiêu biểu. Đây là cấp độ văn hóa dễ nhận biết nhất, dễ cảm nhận nhận nhất mà ta có thể nhận thấy ngay trong lần tiếp xúc đầu tiên thông qua các yếu tố vật chất. Cấp độ văn hóa này chịu ảnh hưởng nhiều bởi tính chất công việc, ngành nghề kinh doanh của doanh nghiệp và quan điểm của người lãnh đạo, cấp độ văn hóa này dễ thay đổi và thể hiện không đầy đủ, sâu sắc về VHDN, có quan điểm cho rằng cấp độ văn hóa này chỉ thể hiện và phản ảnh khoảng 13% đến 20% giá trị văn hóa doanh nghiệp. - Kiến trúc của doanh nghiệp: Kiến trúc của doanh nghiệp bao gồm kiến trúc nội thất và kiến trúc ngoại thất Kiến trúc ngoại thất bao gồm mặt bằng, cổng, kiến trúc tòa nhà, lối đi,.
kiến trúc ngoại thất thường chứa đựng những giá trị lịch sử gắn liền với sự ra đời và trưởng thành của doanh nghiệp cùng các thế hệ CBNV. Kiến trúc nội thất cũng được các công ty, tổ chức quan tâm từ vấn đề lớn như kiểu dáng của bàn ghế, quầy, kệ, bố trí đồ vật, mầu sơn. đến những chi tiết nhỏ nhặt. Tất cả đều được sử dụng để tạo ấn tượng thân quen, chuyên nghiệp, tiện lợi và hợp tác.
Ví dụ như trường hợp của cafe Cộng, bất kỳ ai đi ngang qua hay ghé thăm cafe Cộng đều nhận ra kiến trúc cũng như nội thất rất đặc biệt của hãng cafe này mà không thể nhầm lẫn với bất kỳ hãng cafe nào khác. Kiến trúc và đồ vật của thời đã xa, tới Cộng để lại với ngày bao cấp xưa giữa những hối hả của cuộc sống hiện đại, một mầu xanh đặc trưng của lớp sơn cũ, mầu xanh áo lính không khuất phục, dàn mũ cối hiên ngang, bàn ghế thô thô, chăn con công, những chiếc xe đạp Thống nhất, Phượng Hoàng, đèn bão, một góc ty vi đỏ đỏ, quạt tai voi. - Biểu tượng thương hiệu (logo): hình dáng, mầu sắc, ý nghĩa 13 Biểu tượng thương hiệu (logo) là một phần từ đồ họa, ký hiệu, hoặc biểu tượng (icon) của một thương hiệu hoặc nhãn hiệu và đi cùng mặt chữ kiểu của nó, tức là được xếp bộ trong một mặt chữ độc đáo hoặc xếp đặt trong một cách cá biệt. Một biểu tượng thương hiệu tiêu biểu được thiết kế nhằm tạo ngay ấn tượng trước mắt của người xem.
Biểu tượng thương hiệu đó là một khía cạnh nhãn hiệu của một công ty hoặc tổ chức kinh tế, những hình thù, mầu sắc, phông chữ và hình ảnh thường khác với những cái khác trong một thị trường tương đương. Những biểu tượng này có thể dùng để nhận dạng các tổ chức hoặc những thực thể trong những văn cảnh ngoài mục đích kinh tế. Logo của doanh nghiệp là loại biểu tượng đơn giản nhưng lại có ý nghĩa lớn, chứa đựng nhiều thông điệp vì vậy các doanh nghiệp rất chú trọng đầu tư vào việc thiết kế logo cho doanh nghiệp mình. Logo thể hiện hình tượng về doanh nghiệp bằng ngôn ngữ của nghệ thuật tạo hình, logo thường đơn giản và dễ nhớ.
Một điển hình cho việc đầu tư, thiết kế, xây dựng và quảng bá logo ở Việt Nam là tập đoàn Viễn thông Quân đội Viettel, Logo của Viettel, rất đặc biệt và có ý nghĩa vô cùng sâu sắc. Về hình dáng, Logo Viettel được thiết kế dựa trên ý tưởng cội nguồn, lấy từ hình tượng hai dấu nháy đơn.