Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu
Sự phát triển nhanh chóng của công nghệ thông tin và mạng Internet di động đã biến điện thoại thông minh (ĐTTM) trở thành một thiết bị phổ biến trong đời sống hàng ngày của giới trẻ, đặc biệt là nhóm đối tượng học sinh, sinh viên. Tại Việt Nam, độ tuổi tiếp cận và sở hữu ĐTTM ngày càng trẻ hóa; 100% học sinh trong các khảo sát thực tế đều sở hữu thiết bị di động, trong đó có 23,6% đã sử dụng từ 5 năm trở lên. ĐTTM đáp ứng nhu cầu kết nối xã hội, tìm kiếm tài liệu học tập, giải trí và duy trì giao tiếp. Tuy nhiên, tình trạng sử dụng quá mức và mất kiểm soát đã dẫn đến hiện tượng lạm dụng ĐTTM (problematic smartphone use) hay phụ thuộc tâm lý - hành vi vào thiết bị.
Nhiều công trình dịch tễ học và tâm lý học ghi nhận việc lạm dụng ĐTTM làm gia tăng hội chứng sợ thiếu điện thoại (Nomophobia), gây gián đoạn khả năng tập trung học tập, rối loạn giấc ngủ và tác động tiêu cực đến sức khỏe tâm thần, điển hình là các triệu chứng lo âu, căng thẳng và trầm cảm. Trường Đại học Phenikaa nằm trên địa bàn quận Hà Đông, thành phố Hà Nội – khu vực có tốc độ đô thị hóa và phát triển kinh tế - xã hội nhanh, mức sống sinh viên tương đối cao, cùng hệ thống hạ tầng mạng không dây phủ sóng toàn trường. Môi trường thuận lợi cho việc tiếp cận thiết bị số cũng đồng thời làm tăng nguy cơ lạm dụng ĐTTM ở sinh viên. Do đó, việc nghiên cứu thực trạng và đánh giá mối liên quan giữa lạm dụng ĐTTM với tình trạng lo âu, trầm cảm tại cơ sở đào tạo này là yêu cầu cấp thiết.
Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Lưu Quỳnh Trang (ngành Điều dưỡng, Trường Đại học Phenikaa) tập trung giải quyết 2 mục tiêu nghiên cứu cụ thể:
- Mô tả thực trạng lạm dụng điện thoại thông minh (ĐTTM) ở sinh viên Trường Đại học Phenikaa.
- Xác định mối liên quan giữa lạm dụng điện thoại thông minh và một số yếu tố (đặc điểm nhân khẩu học, tình trạng lo âu, trầm cảm).
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu được xác định cụ thể:
- Đối tượng nghiên cứu: Sinh viên hệ đại học chính quy đang theo học tại Trường Đại học Phenikaa.
- Tiêu chuẩn lựa chọn: Sinh viên hệ đại học chính quy đang học tập tại trường, tự nguyện đồng ý tham gia nghiên cứu, có thời gian sử dụng ĐTTM từ 3 tháng trở lên.
- Tiêu chuẩn loại trừ: Sinh viên không thuộc hệ đại học chính quy, cựu sinh viên, sinh viên có thời gian sử dụng ĐTTM dưới 3 tháng.
- Phạm vi không gian: Trường Đại học Phenikaa, quận Hà Đông, thành phố Hà Nội.
- Phạm vi thời gian: Quá trình thu thập và phân tích dữ liệu thực hiện từ tháng 07/2023 đến tháng 09/2023.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp
Khóa luận xây dựng trên hệ thống lý thuyết về hành vi phụ thuộc công nghệ và các tiêu chuẩn đánh giá sức khỏe tâm thần quốc tế:
- Khái niệm điện thoại thông minh và lạm dụng ĐTTM: Tác giả kế thừa định nghĩa của Joans & Abdullah (2015), Lusekelo & Juma (2015) về đặc tính tích hợp hệ điều hành và kết nối Internet của ĐTTM. Khái niệm lạm dụng ĐTTM được xác định theo Võ Quỳnh Anh (2023) là hành vi sử dụng quá mức, không kiểm soát, tăng dung nạp thời gian sử dụng dẫn đến tổn hại các chức năng xã hội, học tập, thể chất và tâm lý.
- Khái niệm Lo âu và Trầm cảm: Lo âu được định nghĩa theo cẩm nang MSD Manual là trạng thái cảm xúc căng thẳng, khó chịu của sự lo sợ không rõ nguyên nhân, vượt khỏi mức độ tương xứng với mối đe dọa thực tế. Trầm cảm được xác định dựa trên Bảng phân loại thống kê quốc tế về bệnh tật và các vấn đề sức khỏe liên quan phiên bản thứ 10 (ICD-10) của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO), đặc trưng bởi khí sắc trầm, mất quan tâm thích thú, giảm năng lượng và suy giảm hoạt động chức năng.
Phương pháp nghiên cứu và công cụ thu thập số liệu bao gồm:
- Thiết kế nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả cắt ngang (cross-sectional descriptive study).
- Cỡ mẫu và công thức tính: Cỡ mẫu được tính theo công thức ước lượng một tỷ lệ trong quần thể:
$$n = Z^2_{1-\alpha/2} \frac{p(1-p)}{d^2}$$
Trong đó: Hệ số tin cậy $Z_{1-\alpha/2} = 1,96$ (ứng với độ tin cậy 95%, $\alpha = 0,05$); sai số tuyệt đối cho phép $d = 0,06$; tỷ lệ ước đoán sinh viên lạm dụng ĐTTM lấy từ nghiên cứu của Nguyễn Minh Tâm và cộng sự là $p = 0,601$. Cỡ mẫu lý thuyết tính được là 256 sinh viên. Dự trù 15% sai số và từ chối tham gia, cỡ mẫu thực tế được xác định là 294 và làm tròn thành 300 sinh viên.
- Phương pháp chọn mẫu: Chọn mẫu thuận tiện (convenience sampling).
- Bộ công cụ thu thập dữ liệu:
- Bộ câu hỏi thông tin chung: Khảo sát các biến số nhân khẩu học gồm tuổi, giới tính, năm học, nơi ở hiện tại và hoàn cảnh kinh tế gia đình.
- Thang đo mức độ nghiện ĐTTM phiên bản rút gọn (SAS-SV - Smartphone Addiction Scale Short Version): Do Kwon và cộng sự (2013) phát triển, hệ số tin cậy Cronbach's alpha đạt 0,911. Thang đo gồm 10 câu hỏi dạng Likert 6 mức độ (1 điểm: Rất không đồng ý đến 6 điểm: Hoàn toàn đồng ý). Điểm cắt (cut-off point) xác định lạm dụng ĐTTM là $\ge 31$ điểm đối với nam và $\ge 33$ điểm đối với nữ.
- Thang đo Lo âu, Trầm cảm, Stress DASS-21: Phiên bản rút gọn từ DASS-42 của Lovibond (1995), hệ số Cronbach's alpha đạt 0,88, đã được Viện Sức khỏe Tâm thần Quốc gia chuẩn hóa tại Việt Nam. Thang đo gồm 21 mục (7 mục đánh giá lo âu, 7 mục đánh giá trầm cảm, 7 mục đánh giá stress), tính điểm từ 0 đến 3 cho mỗi mục, tổng điểm từng phân nhóm nhân hệ số 2. Điểm cắt xác định tình trạng: Lo âu khi đạt $\ge 8$ điểm; Trầm cảm khi đạt $\ge 10$ điểm.
- Quy trình thu thập và xử lý số liệu: Phát phiếu hỏi tự điền trực tiếp tại các phòng học trước giờ học 15-25 phút hoặc vào giờ giải lao sau 2 tiết đầu. Số liệu được làm sạch và xử lý thống kê bằng phần mềm chuyên dụng, sử dụng tỷ lệ phần trăm, tỷ số chênh (OR), khoảng tin cậy 95% (95%CI) và kiểm định mức ý nghĩa thống kê với ngưỡng $p < 0,05$. Đề tài tuân thủ các nguyên tắc đạo đức nghiên cứu, bảo mật danh tính và đảm bảo quyền tự nguyện của đối tượng tham gia.
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Tổng quan tài liệu
Chương này tổng thuật toàn diện cơ sở lý luận và các bằng chứng thực nghiệm về việc sử dụng, lạm dụng ĐTTM và tác động của nó tới sức khỏe tâm thần:
- Tổng quan các định nghĩa kỹ thuật về ĐTTM, tính năng truy cập Internet đa phương tiện và sự chuyển dịch từ thiết bị liên lạc thuần túy sang công cụ hỗ trợ học tập, giải trí không thể tách rời của sinh viên.
- Phân tích thực trạng sử dụng và lạm dụng ĐTTM: Tỷ lệ sinh viên sử dụng ĐTTM trên thế giới đạt mức cao như tại Hàn Quốc (84% - 85%), Thổ Nhĩ Kỳ (78% - 91,7%), Việt Nam (70,5%). Nghiên cứu của các tác giả Shailesh (2016), Kiran S (2018), Lê Minh Luận (2017) chỉ ra thời lượng sử dụng ĐTTM hàng ngày tập trung phổ biến từ 2 đến 6 giờ.
- Hiện tượng tâm lý Nomophobia và tỷ lệ lạm dụng ĐTTM trong các nghiên cứu trước: Đinh Trọng Hà và cộng sự (2021) ghi nhận 55,56% sinh viên Hà Nội lạm dụng ĐTTM; Phạm Thị Thu Đông và cộng sự (2022) ghi nhận 65,3% sinh viên Điều dưỡng Đại học Y Dược TP.HCM lạm dụng thiết bị này; Nguyễn Phúc Thành Nhân (2015) ghi nhận tỷ lệ nghiện ĐTTM tại Đại học Y Dược Huế là 43,7%.
- Các yếu tố liên quan đến lạm dụng ĐTTM: Tổng quan các công trình của Park & Lee (2014), Cho & Kim (2014), Aljomaa (2016) cho thấy nữ giới có xu hướng lạm dụng ĐTTM cao hơn nam giới do mục đích duy trì quan hệ xã hội; nghiên cứu của Zulkefly & Baharudin (2009), Lê Minh Luận (2017) phân tích ảnh hưởng từ điều kiện kinh tế gia đình và độ tuổi bắt đầu sử dụng.
- Tác động tiêu cực của lạm dụng ĐTTM đến lo âu, trầm cảm: Các nghiên cứu của Yeon Jin Kim và cộng sự (2018), Nguyễn Minh Tâm (2015) khẳng định mối liên hệ hai chiều giữa rối loạn tâm lý và lạm dụng ĐTTM; sinh viên có xu hướng sử dụng thiết bị để giải tỏa cảm xúc tiêu cực, dẫn đến nguy cơ lo âu cao gấp 1,402 lần và trầm cảm cao gấp 1,337 lần.
- Giới thiệu sơ lược về địa bàn nghiên cứu: Quá trình thành lập và phát triển của Trường Đại học Phenikaa (tiền thân là Đại học Thành Tây), quy mô đào tạo gồm 14 khoa, 32 ngành/chương trình với hơn 20.000 sinh viên và học viên.
Chương 2: Đối tượng và phương pháp nghiên cứu
Chương 2 mô tả chi tiết quy trình thiết kế và triển khai phương pháp nghiên cứu trên thực địa:
- Xác lập tiêu chuẩn chọn mẫu và tiêu chuẩn loại trừ cụ thể đối với sinh viên chính quy Đại học Phenikaa.
- Trình bày công thức tính cỡ mẫu nghiên cứu mô tả một tỷ lệ ($n = 300$) dựa trên tỷ lệ tham chiếu $p = 60,1%$ từ y văn trong nước.
- Quy chuẩn hóa bộ công cụ thu thập thông tin: Thang đo SAS-SV (10 tiểu mục đánh giá hành vi lạm dụng, mất kiểm soát, ảnh hưởng sinh hoạt) và thang đo DASS-21 (21 tiểu mục đánh giá mức độ lo âu, trầm cảm).
- Bảng danh mục biến số nghiên cứu: Định nghĩa và phân loại cụ thể các nhóm biến độc lập (nhân khẩu học: tuổi, giới, năm học, nơi ở, kinh tế; hành vi sử dụng: mục đích, thời lượng, địa điểm sử dụng) và biến phụ thuộc (tình trạng lạm dụng ĐTTM, tình trạng lo âu, trầm cảm).
- Trình bày các bước trong quy trình phát vấn trực tiếp tại giảng đường và phương pháp xử lý số liệu bằng thống kê y sinh học.
Chương 3: Kết quả nghiên cứu
Phần kết quả của khóa luận (thể hiện qua phần tóm tắt và hệ thống bảng biểu số liệu) phản ánh các phát hiện định lượng trên 300 sinh viên:
- Đặc điểm chung của đối tượng nghiên cứu: Phân bố sinh viên theo giới tính, lứa tuổi, các năm học (từ năm thứ 1 đến năm thứ 4), nơi cư trú và điều kiện kinh tế gia đình.
- Thực trạng lạm dụng ĐTTM: Tỷ lệ sinh viên có tình trạng lạm dụng ĐTTM theo thang đo SAS-SV chiếm 63,2%. Khi phân tích theo khối năm học, sinh viên năm thứ 1 có tỷ lệ lạm dụng ĐTTM cao nhất với 76,4%.
- Các yếu tố liên quan đến lạm dụng ĐTTM:
- Giới tính: Có mối liên quan có ý nghĩa thống kê giữa giới tính và lạm dụng ĐTTM ($OR = 1,8$; $95%CI: 1,1 - 2,9$; $p < 0,05$).
- Độ tuổi: Có mối liên quan có ý nghĩa thống kê ($OR = 2,3$; $95%CI: 1,2 - 4,4$; $p < 0,05$).
- Năm học và kinh tế gia đình: Tồn tại mối liên quan có ý nghĩa thống kê với tình trạng lạm dụng ĐTTM ($p < 0,05$).
- Nơi ở và thời gian sử dụng ĐTTM trung bình/ngày: Không ghi nhận sự khác biệt có ý nghĩa thống kê ($p > 0,05$).
- Thực trạng và mối liên quan với lo âu, trầm cảm: Đánh giá tỷ lệ sinh viên mắc lo âu ($\ge 8$ điểm) và trầm cảm ($\ge 10$ điểm) qua thang đo DASS-21; kiểm định mối liên quan giữa điểm số lạm dụng ĐTTM với mức độ biểu hiện lo âu và trầm cảm ở đối tượng nghiên cứu.
Chương 4: Bàn luận
Chương 4 phân tích, so sánh các kết quả đạt được với các nghiên cứu tương đồng trong và ngoài nước:
- Bàn luận về tỷ lệ lạm dụng ĐTTM 63,2%: Mức độ lạm dụng tại Đại học Phenikaa tương đương với nghiên cứu của Phạm Thị Thu Đông trên sinh viên điều dưỡng (65,3%), cao hơn nghiên cứu của Đinh Trọng Hà trên sinh viên Hà Nội (55,56%) và Nguyễn Phúc Thành Nhân tại Huế (43,7%).
- Lý giải nguyên nhân tỷ lệ lạm dụng cao vượt trội ở sinh viên năm thứ 1 (76,4%): Do sự thay đổi môi trường học tập từ trung học phổ thông lên đại học, việc tự chủ thời gian sinh hoạt và nhu cầu thiết lập mạng lưới quan hệ bạn bè mới qua mạng xã hội.
- Phân tích mối liên quan giữa các yếu tố nhân khẩu học (giới tính, tuổi, năm học, kinh tế) và cơ chế dẫn đến lạm dụng ĐTTM.
- Đánh giá mối quan hệ giữa lạm dụng ĐTTM và các vấn đề sức khỏe tâm thần (lo âu, trầm cảm), làm rõ tính chất tương tác hai chiều giữa việc lạm dụng công nghệ số và sự suy giảm chất lượng đời sống tâm lý.
- Nêu rõ các hạn chế nội tại của nghiên cứu về mặt phương pháp luận và phạm vi chọn mẫu.
Kết quả và đóng góp
Khóa luận cung cấp các bằng chứng thực nghiệm định lượng về hành vi sử dụng thiết bị công nghệ và sức khỏe tâm thần của sinh viên Trường Đại học Phenikaa năm 2023.
| Nhóm chỉ số / Biến số nghiên cứu |
Kết quả định lượng ghi nhận |
Ý nghĩa thống kê ($p$, OR, 95%CI) |
| Tỷ lệ lạm dụng ĐTTM chung |
63,2% ($n = 300$) |
Tiêu chuẩn SAS-SV (Nam $\ge 31$, Nữ $\ge 33$) |
| Tỷ lệ lạm dụng ở SV năm thứ 1 |
76,4% |
Tỷ lệ cao nhất trong các năm học ($p < 0,05$) |
| Mối liên quan theo Giới tính |
Khác biệt giữa nam và nữ |
$OR = 1,8$; $95%CI: 1,1 - 2,9$; $p < 0,05$ |
| Mối liên quan theo Độ tuổi |
Khác biệt giữa các nhóm tuổi |
$OR = 2,3$; $95%CI: 1,2 - 4,4$; $p < 0,05$ |
| Mối liên quan theo Năm học |
Có sự khác biệt theo khối năm |
$p < 0,05$ |
| Mối liên quan theo Kinh tế gia đình |
Có sự khác biệt theo hoàn cảnh kinh tế |
$p < 0,05$ |
| Mối liên quan theo Nơi ở hiện tại |
Không có sự khác biệt |
$p > 0,05$ |
| Mối liên quan theo Thời gian sử dụng ĐTTM |
Không có sự khác biệt |
$p > 0,05$ |
Giải pháp và kiến nghị của tác giả:
- Sinh viên cần chủ động xây dựng kế hoạch và sắp xếp thời gian sử dụng ĐTTM hợp lý, cân đối giữa thời gian học tập, hoạt động thể chất và sinh hoạt thường nhật.
- Nhà trường và các tổ chức đoàn thể cần tăng cường truyền thông về tác hại của việc lạm dụng thiết bị số, đồng thời tổ chức các chương trình hỗ trợ tâm lý học đường nhằm phát hiện và can thiệp sớm các biểu hiện lo âu, trầm cảm ở sinh viên, đặc biệt là sinh viên năm thứ nhất.
Đóng góp của khóa luận:
Đề tài bổ sung nguồn dữ liệu thực nghiệm về thực trạng lạm dụng ĐTTM và mối liên quan với lo âu, trầm cảm tại một trường đại học ngoài công lập đa ngành ở khu vực Hà Nội. Khóa luận chuẩn hóa quy trình áp dụng hai bộ công cụ quốc tế SAS-SV và DASS-21 trên đối tượng sinh viên điều dưỡng và các khối ngành liên quan.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Khóa luận chỉ ra một số hạn chế trong quá trình thực hiện:
- Phương pháp chọn mẫu: Nghiên cứu áp dụng kỹ thuật chọn mẫu thuận tiện tại một trường đại học, do đó khả năng đại diện và suy rộng kết quả cho toàn thể sinh viên các trường đại học khác trên địa bàn Hà Nội còn hạn chế.
- Thiết kế nghiên cứu: Thiết kế mô tả cắt ngang chỉ cho phép ghi nhận mối liên quan tại một thời điểm nhất định, chưa thể xác lập mối quan hệ nhân quả tuyệt đối giữa lạm dụng ĐTTM và sự xuất hiện của các triệu chứng lo âu, trầm cảm.
- Phương pháp thu thập dữ liệu: Sử dụng bộ câu hỏi phát vấn tự điền (self-report) có thể chịu ảnh hưởng bởi sai số chủ quan từ phía người tham gia khảo sát.
Hướng nghiên cứu tiếp:
- Mở rộng quy mô mẫu và áp dụng phương pháp chọn mẫu xác suất ngẫu nhiên phân tầng tại nhiều trường đại học thuộc các khối ngành khác nhau.
- Tiến hành các nghiên cứu theo dõi dọc (longitudinal study) hoặc nghiên cứu can thiệp nhằm đánh giá sâu hơn mối quan hệ nhân quả và hiệu quả của các biện pháp điều chỉnh hành vi sử dụng thiết bị số đối với sức khỏe tâm thần sinh viên.
Giá trị tham khảo
Khóa luận là tài liệu tham khảo chuyên môn phù hợp cho:
- Sinh viên và học viên ngành Điều dưỡng, Y tế công cộng, Tâm lý học: Tham khảo khung lý thuyết, cách vận hành các thang đo tâm lý chuẩn hóa (SAS-SV, DASS-21) và phương pháp thiết kế nghiên cứu mô tả cắt ngang.
- Cán bộ quản lý đào tạo và công tác sinh viên: Sử dụng các chỉ số thực trạng để xây dựng các chương trình định hướng, quản trị lối sống số và tư vấn tâm lý học đường cho sinh viên mới nhập học.
- Nhà nghiên cứu về sức khỏe hành vi: Cung cấp số liệu so sánh đối chứng về tỷ lệ lạm dụng ĐTTM và các yếu tố nhân khẩu học liên quan tại Việt Nam năm 2023.
Câu hỏi thường gặp
1. Tỷ lệ sinh viên lạm dụng điện thoại thông minh tại Đại học Phenikaa trong nghiên cứu là bao nhiêu và nhóm đối tượng nào có tỷ lệ cao nhất?
Kết quả khảo sát trên 300 sinh viên cho thấy tỷ lệ lạm dụng ĐTTM chung là 63,2%. Sinh viên năm thứ 1 là nhóm có tỷ lệ lạm dụng ĐTTM cao nhất với 76,4%.
2. Tiêu chuẩn đánh giá một sinh viên có lạm dụng ĐTTM theo thang đo SAS-SV trong khóa luận là gì?
Nghiên cứu sử dụng thang đo SAS-SV gồm 10 câu hỏi (thang đo Likert từ 1 đến 6 điểm). Sinh viên được xác định là lạm dụng ĐTTM khi tổng điểm đạt từ 31 điểm trở lên đối với nam giới và từ 33 điểm trở lên đối với nữ giới.
3. Nghiên cứu ghi nhận những yếu tố nhân khẩu học nào có mối liên quan có ý nghĩa thống kê với lạm dụng ĐTTM?
Các yếu tố có mối liên quan có ý nghĩa thống kê ($p < 0,05$) bao gồm: giới tính ($OR = 1,8$; $95%CI: 1,1 - 2,9$), độ tuổi ($OR = 2,3$; $95%CI: 1,2 - 4,4$), năm học và tình trạng kinh tế gia đình. Yếu tố nơi ở và thời gian sử dụng ĐTTM trong ngày không ghi nhận sự khác biệt có ý nghĩa thống kê ($p > 0,05$).
4. Thang đo DASS-21 xác định ngưỡng điểm cắt (cut-off point) cho tình trạng lo âu và trầm cảm như thế nào?
Mỗi phân nhóm của thang đo DASS-21 gồm 7 câu hỏi (điểm 0 - 3), tổng điểm được nhân hệ số 2. Sinh viên được xác định có tình trạng lo âu khi điểm đạt từ 8 điểm trở lên và có tình trạng trầm cảm khi điểm đạt từ 10 điểm trở lên.
5. Cỡ mẫu 300 sinh viên của đề tài được xác định dựa trên cơ sở nào?
Cỡ mẫu được tính theo công thức ước lượng một tỷ lệ với độ tin cậy 95% ($Z = 1,96$), sai số cho phép $d = 0,06$ và tỷ lệ tham chiếu lạm dụng ĐTTM $p = 60,1%$ (theo nghiên cứu của Nguyễn Minh Tâm và cộng sự). Cỡ mẫu tính toán ra 256 người, cộng thêm 15% dự phòng thành 294 và làm tròn thành 300 sinh viên.
Kết luận
Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Lưu Quỳnh Trang đã xác định thực trạng lạm dụng điện thoại thông minh ở mức cao (63,2%) trong nhóm 300 sinh viên Trường Đại học Phenikaa năm 2023, trong đó sinh viên năm thứ 1 chiếm tỷ lệ cao nhất (76,4%). Nghiên cứu chỉ ra mối liên quan có ý nghĩa thống kê giữa hành vi lạm dụng ĐTTM với các yếu tố giới tính ($OR = 1,8$), độ tuổi ($OR = 2,3$), năm học, điều kiện kinh tế và các vấn đề sức khỏe tâm thần (lo âu, trầm cảm). Kết quả nghiên cứu cung cấp cơ sở thực nghiệm quan trọng cho việc định hướng quản lý thời gian sử dụng thiết bị số và chăm sóc sức khỏe tâm lý cho sinh viên đại học.