Thực trạng lạm dụng điện thoại và lo âu, trầm cảm ở sinh viên Phenikaa

Lạm dụng điện thoại có thể dẫn đến lo âu và trầm cảm ở sinh viên. Tìm hiểu nguyên nhân, tác hại và giải pháp giúp cải thiện sức khỏe tinh thần.

Trường đại học

Trường Đại Học Phenikaa

Chuyên ngành

Điều Dưỡng

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Khóa luận tốt nghiệp

2023

90
0
0

Phí lưu trữ

30 Point

Tóm tắt

I. Thực trạng lạm dụng điện thoại ở sinh viên hiện nay

Theo nghiên cứu khoa học từ Trường Đại học Phenikaa, lạm dụng điện thoại thông minh (ĐTTM) đã trở thành một vấn đề nghiêm trọng trong cộng đồng sinh viên. Kết quả khảo sát 300 sinh viên cho thấy tỷ lệ lạm dụng ĐTTM chiếm 63,2%, con số này rất đáng lo ngại. Đặc biệt, sinh viên năm thứ nhất có tỷ lệ lạm dụng cao nhất đạt 76,4%, cho thấy sự phụ thuộc vào thiết bị di động tăng đột biến ở giai đoạn bước vào đại học. Lạm dụng điện thoại không chỉ ảnh hưởng đến thời gian học tập mà còn tác động tiêu cực đến sức khỏe tâm thần của sinh viên. Các yếu tố như giới tính, tuổi tác, năm học và tình trạng kinh tế đều có mối liên quan có ý nghĩa thống kê với thực trạng lạm dụng ĐTTM. Điều này cho thấy cần phải có những biện pháp can thiệp kịp thời để giảm thiểu tác hại của việc sử dụng quá mức điện thoại thông minh.

1.1. Định nghĩa lạm dụng điện thoại thông minh

Lạm dụng điện thoại thông minh được định nghĩa là sử dụng quá mức thiết bị di động, ảnh hưởng tiêu cực đến hoạt động học tập, sinh hoạt hàng ngày và sức khỏe tâm thần. Đây không chỉ là vấn đề cá nhân mà còn là một hiện tượng xã hội phổ biến trong thế hệ trẻ. Sự phát triển của công nghệ đã làm tăng khả năng nghiện ĐTTM, khi các ứng dụng được thiết kế để giữ cho người dùng quay trở lại liên tục.

1.2. Các nhóm sinh viên dễ lạm dụng điện thoại nhất

Theo nghiên cứu, sinh viên năm thứ nhất, những người có tuổi từ 18-20 tuổi và những sinh viên có tình trạng kinh tế khó khăn dễ rơi vào tình trạng lạm dụng ĐTTM hơn. Nữ sinh viên có xu hướng lạm dụng điện thoại cao hơn nam sinh viên (OR=1,8). Các nhóm này cần được quan tâm và hỗ trợ đặc biệt để hạn chế sử dụng quá mức.

II. Mối liên quan giữa lạm dụng điện thoại và lo âu trầm cảm

Nghiên cứu cho thấy mối liên quan mật thiết giữa lạm dụng điện thoại và các vấn đề về sức khỏe tâm thần như lo âutrầm cảm ở sinh viên. Khi sử dụng điện thoại quá mức, não bộ sinh viên bị kích thích liên tục bởi thông tin, hình ảnh và các thông báo, dẫn đến mất cân bằng hóa chất trong não, từ đó gây ra lo âutrầm cảm. Các tác động tiêu cực bao gồm: mất ngủ, căng thẳng, giảm khả năng tập trung, cảm giác cô lập xã hội dù đang "kết nối" với mạng xã hội. Lạm dụng ĐTTM làm cho sinh viên tránh né các tương tác xã hội thực tế, từ đó tăng cảm giác lonely và trầm cảm. Các chuyên gia sức khỏe tâm thần khuyến cáo sinh viên nên hạn chế thời gian sử dụng điện thoại để bảo vệ sức khỏe tinh thần.

2.1. Cơ chế tâm lý của lo âu liên quan lạm dụng điện thoại

Lo âu từ lạm dụng ĐTTM xuất phát từ việc liên tục kiểm tra điện thoại, sợ bỏ lỡ tin nhắn (FOMO - Fear Of Missing Out) và so sánh bản thân với người khác trên mạng xã hội. Khi không có điện thoại, sinh viên cảm thấy bồn chồn, lo lắng. Áp lực từ những bình luận tiêu cực trực tuyến cũng gây ra lo âu dai dẳng.

2.2. Tác động của lạm dụng điện thoại đến trầm cảm sinh viên

Trầm cảm được gây ra bởi sử dụng quá mức ĐTTM thông qua cô lập xã hội, mất ngủ, và sự thay đổi nhận thức về bản thân. Những so sánh cuộc sống không tích cực trên mạng xã hội dẫn đến cảm giác bất lực và tuyệt vọng. Sinh viên lạm dụng ĐTTM có nguy cơ trầm cảm cao hơn 2-3 lần so với những người sử dụng hợp lý.

III. Các yếu tố ảnh hưởng đến lạm dụng điện thoại ở sinh viên

Nhiều yếu tố khác nhau ảnh hưởng đến mức độ lạm dụng điện thoại ở sinh viên. Theo kết quả nghiên cứu, giới tính là một yếu tố quan trọng (OR=1,8; p<0,05), nữ sinh viên có tỷ lệ lạm dụng cao hơn nam sinh viên. Tuổi cũng là một yếu tố đáng kể (OR=2,3; p<0,05), các sinh viên trẻ tuổi hơn dễ rơi vào tình trạng lạm dụng ĐTTM. Năm học ảnh hưởng lớn, với sinh viên năm thứ nhất có tỷ lệ cao nhất. Tình trạng kinh tế cũng đóng vai trò, những sinh viên có điều kiện kinh tế tốt hơn có xu hướng sở hữu và sử dụng điện thoại cao cấp hơn. Tuy nhiên, nơi ở (thành phố hay nông thôn) không có mối liên quan thống kê đáng kể với lạm dụng ĐTTM.

3.1. Tác động của giới tính và tuổi đến lạm dụng điện thoại

Nữ sinh viên có xu hướng sử dụng mạng xã hội nhiều hơn để duy trì mối quan hệ và tìm kiếm sự xác nhận từ bạn bè. Lạm dụng ĐTTM ở lứa tuổi 18-20 cao hơn vì đây là giai đoạn phát triển tâm lý, cần tìm kiếm bản sắc và kết nối. Tuổi càng nhỏ, khả năng tự kiểm soát càng kém, dẫn đến lạm dụng ĐTTM dễ dàng hơn.

3.2. Năm học và tình trạng kinh tế ảnh hưởng đến lạm dụng ĐTTM

Sinh viên năm thứ nhất vừa vào học, cần thời gian thích ứng, dễ sử dụng điện thoại để giải tỏa căng thẳng và xây dựng mối quan hệ mới. Sinh viên có điều kiện kinh tế tốt hơn thường sở hữu điện thoại cao cấp với nhiều tính năng hơn, từ đó dễ rơi vào lạm dụng ĐTTM hơn những sinh viên khác.

IV. Giải pháp giảm thiểu lạm dụng điện thoại và bảo vệ sức khỏe tâm thần

Để giảm thiểu lạm dụng điện thoại và bảo vệ sức khỏe tâm thần, sinh viên cần có kế hoạch sử dụng ĐTTM hợp lý. Trước tiên, cần quản lý thời gian sử dụng điện thoại, đặt giới hạn cụ thể hàng ngày (ví dụ: 2-3 giờ/ngày). Thứ hai, sinh viên nên tham gia các hoạt động ngoài trời và các câu lạc bộ để giảm phụ thuộc vào điện thoại. Thứ ba, xây dựng thói quen lành mạnh như tắt thông báo, không sử dụng điện thoại trước khi ngủ. Các trường đại học nên tổ chức các chương trình tuyên truyền về tác hại của lạm dụng ĐTTM và cung cấp dịch vụ hỗ trợ tâm lý cho sinh viên. Gia đình cũng nên theo dõi và hướng dẫn con em sử dụng điện thoại cách hợp lý. Cuối cùng, sinh viên cần tìm kiếm giúp đỡ chuyên môn nếu có dấu hiệu lo âu hoặc trầm cảm liên quan đến lạm dụng ĐTTM.

4.1. Quản lý thời gian và hạn chế sử dụng điện thoại

Sinh viên nên sử dụng ứng dụng quản lý thời gian để theo dõi lượng thời gian sử dụng ĐTTM. Đặt ra những khung giờ không sử dụng (ví dụ: trong bữa ăn, trước khi ngủ, giờ học). Hạn chế sử dụng điện thoại bằng cách để ngoài tầm tay khi học tập hoặc làm việc quan trọng. Sử dụng chế độ "Không làm phiền" để giảm số thông báo làm x分散 sự chú ý.

4.2. Vai trò của trường học gia đình và hỗ trợ tâm lý

Trường đại học nên tổ chức các khóa tập huấn về cách sử dụng ĐTTM an toàn và tác hại của lạm dụng điện thoại. Gia đình cần quan tâm theo dõi thói quen sử dụng ĐTTM của con em. Các dịch vụ tư vấn tâm lý tại trường nên được tăng cường để giúp sinh viên có vấn đề về lo âutrầm cảm. Tạo môi trường hỗ trợ và không kỳ thị cho những sinh viên đang phục hồi từ lạm dụng ĐTTM.

28/12/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Điện thoại thông minh Điện thoại di động là một thiết bị có thể gọi và nhận điện thoại qua các liên kết vô tuyến xung quanh một khu vực địa lý rộng, bằng cách kết nối với mạng di động cho phép điện thoại di động vào mạng điện thoại công cộng [5]. Điện thoại di động được sử dụng với mục đích chính là một phương tiện liên lạc. Điện thoại thông minh là một thiết bị tiến xa hơn so với điện thoại di động vì ĐTTM có thể truy cập internet.

Do đó, ĐTTM có tất cả các nội dung hấp dẫn mang đến sự hài lòng nhiều hơn với đa dạng ứng dụng như truy cập các mạng xã hội, nhắn tin, gọi điện, e mail, chơi game, nghe nhạc, xem phim, chụp ảnh, tìm kiếm thông tin. Theo Joans, Abdullah (2015) điện thoại thông minh là một thiết bị giúp cho sinh viên kết nối với nhau và mọi người xung quanh dễ dàng hơn. Sinh viên cũng sử dụng thiết bị này như là một công cụ hỗ trợ cho việc học tập như tìm kiếm tài liệu tham khảo, đọc các trang tạp chí, bách khoa toàn thư trực tuyến. Theo Lusekelo và Juma (2015), điện thoại thông minh là một thiết bị có tính năng của cả máy tính và điện thoại di động.

Nó có hệ điều hành và có thể cài đặt các ứng dụng, hoạt động như các máy tính, có khả năng truy cập internet và giải trí ở bất kì nơi đâu như: chụp hình, xem video, nghe nhạc, lướt web [6]. Như vậy, điện thoại thông minh là một thiết bị hiện đại có khả năng truy cập internet, từ đó giúp mọi người có thể dễ dàng kết nối và sử dụng thêm nhiều ứng dụng, tiện ích ở bất cứ đâu. Lạm dụng điện thoại thông minh Khái niệm hay các tiêu chí xác định hành vi lạm dụng điện thoại cho đến nay vẫn còn chưa thống nhất. Một số nhà nhà nghiên cứu gọi hiện tượng này là “ có vấn đề về sử dụng ĐTTM” hay “problematic smartphone use/ usage” [7, 8].

Theo Võ Quỳnh Anh (2023), lạm dụng ĐTTM ở sinh viên đại học là việc sử dụng quá mức, không kiểm soát được điện thoại thông minh của sinh viên, đòi hỏi sinh viên thường xuyên phải sử dụng các ứng dụng trên điện thoại thông minh một cách 5 quá mức với mức độ dung nạp ngày càng tăng, dẫn đến việc mất kiểm soát bản thân và ảnh hưởng tiêu cực đến nhiều lĩnh vực khác nhau trong cuộc sống như công việc, cuộc sống gia đình, sức khỏe tâm thần, thể chất và các mối quan hệ xã hội của một người [1]. Mặc dù một đặc tính của ĐTTM là việc sử dụng các ứng dụng dựa trên internet, tính di động của ĐTTM và khả năng cài đặt các ứng dụng thích hợp với nhu cầu cá nhân và lối sống làm cho nó một đối tượng đa năng linh hoạt thích hợp mang theo mọi lúc mọi nơi. Do đó, các triệu chứng lạm dụng ĐTTM có thể khác với những người lạm dụng internet. Lo âu Theo MSD Manual, lo âu là một trạng thái cảm xúc căng thẳng, khó chịu của sự lo sợ và không thoải mái; nguyên nhân thường không rõ ràng.

Lo âu ít gắn liền với thời gian chính xác của một mối đe dọa; tồn tại sau khi một mối đe dọa đã trôi qua, hoặc xảy ra mà không có một mối đe dọa có thể nhận biết được [9]. Lo âu có hai thành phần chính: Các biểu hiện báo trước của cảm giác cơ thể (khô miệng, đánh trống ngực.), và trải nghiệm các cảm giác khiếp sợ. Lo âu cũng ảnh hưởng đến tư duy, phân tích, tri giác và học tập. Có sự liên quan giữa lo âu và hoạt động trí óc và cơ thể.

Lúc ban đầu, khi lo âu vừa mới được khuấy động lên thể hoạt động được cải thiện tốt lên: đó là thời kỳ hoạt bát, và khi lo âu trở nên quá mức làm hao tổn nhiều năng lượng thì chuyển sang thời kỳ suy yếu, làm giảm khả năng của các động tác vận động khéo léo và các nhiệm vụ trí tuệ phức tạp. Những người có lo âu lâm sàng bị các ảnh hưởng này. Lo âu trở thành lo âu lâm sàng khi nó xuất hiện không có liên quan tới một mối đe dọa rõ ràng nào, mức độ lo âu không cân xứng với bất kì một mối đe dọa nào để có thể tồn tại hoặc kéo dài [10]. Trầm cảm Trầm cảm là hiện tượng ức chế của các quá trình hoạt động tâm thần.

Theo tổ chức y tế thế giới (WHO), dựa trên bảng phân loại thống kê quốc tế về các bệnh tật và vấn đề sức khỏe liên quan phiên bản thứ 10 (ICD- 10), bệnh cảnh lâm sàng của trầm cảm gồm các triệu chứng thường gặp như: khí sắc trầm (nét mặt buồn rầu, ủ rũ.); mất hoặc giảm mọi quan tâm thích thú ngay cả những đam mê thích 6 thú cũ; giảm năng lượng dẫn đến tăng mệt mỏi và giảm hoạt động [11] cùng với các triệu chứng phổ biến khác như giảm sút sự tập chung chú ý, mất hoặc giảm tính tự trọng và lòng tin, tự đánh giá thấp mình. Quá trình suy nghĩ chậm chạp, ý tưởng nghèo nàn, tự cho mình có tội, bi quan về tương lai. Một số trường hợp trầm cảm nặng, bệnh nhân có thể có ý nghĩ hoặc hành vi tự sát. Trong trầm cảm thường có các triệu chứng của cơ thể như: mất ngủ (thường là mất ngủ cuối giấc, thức dậy sớm), hồi hộp, đánh trống ngực, cơ khớp, sút cân mạch nhanh, giảm hoạt động tình dục.

Thực trạng sử dụng điện thoại thông minh Thời gian gần đây ĐTTM được sử dụng nhiều hơn so với các thập kỷ trước và được sử dụng rộng rãi để nhắn tin gọi điện và trở thành một phần không thể thiếu để kết nối với nửa còn lại của thế giới. Điện thoại thông minh đã được sử dụng thay thế cho điện thoại di động. Việc thực hiện các cuộc gọi và gửi tin nhắn SMS được thực hiện hằng ngày giúp việc trao đổi thông tin thêm thuận tiện. Trong nghiên cứu của Hàn Quốc, kết quả cho thấy 84% sinh viên đại học ở Hàn Quốc sử dụng ĐTTM trong năm 2011 [12], năm 2018 dân số sử dụng điện thoại thông minh chiếm đến 85% [3].

Năm 2014 tại Thổ Nhĩ Kỳ là 78 % [13] và 91,7% trong năm 2016 [14]. Tại Việt Nam tỷ lệ SV sử dụng ĐTTM là 70,5% trong năm 2015 [15]. Không thể phủ nhận những lợi ích mà ĐTTM đem lại, tuy nhiên việc sử dụng ĐTTM quá mức có thể ảnh hưởng đến sức khỏe và khả năng giao tiếp của sinh viên. Điều này xảy ra khi mỗi sinh viên dành nhiều thời gian với ĐTTM của họ, tình trạng này dễ thấy ở các nơi công cộng như xe bus, quán cafe, quán ăn.

Mọi hành động của họ đều gắn với chiếc ĐTTM từ khi họ thức dậy vào buổi sáng đến khi họ ở trên giường vào ban đêm trước khi đi ngủ. Trong nghiên cứu của Shailesh và cộng sự (2016) kết quả cho thấy, có 32,67% SV sử dụng điện thoại thông minh ít hơn 2 giờ, 40 % SV sử dụng ĐTTM 2- 4 giờ, 23.33% SV sử dụng điện thoại thông minh từ 4-6 giờ và chỉ có 4% SV sử dụng điện thoại thông minh trên 6 giờ và 52,67% sinh viên sử dụng điện thoại để truy cập mạng xã hội [16]. Theo Kiran S và cộng sự (2018), thời gian trung bình 7 sinh viên sử dụng điện thoại thông minh 1- 2 giờ là 33%, SV sử dụng ĐTTM 3- 4 giờ là 31,1%, 11,7% SV sử dụng điện thoại thông minh 5- 6 giờ và 8,2% sinh viên sử dụng điện thoại trên 6 giờ [17]. Trong nghiên cứu của Lê Minh Luận (2017), nghiên cứu về vấn đề nghiện điện thoại thông minh và một số yếu tố liên quan ở sinh viên trường Cao đẳng y tế Đồng Tháp năm 2017 kết quả cho thấy thời gian sử dụng điện thoại của sinh viên trung bình trong một ngày từ trên 4-6 giờ chiếm tỷ lệ 42,0%, từ 1-3 giờ chiếm tỷ lệ 31,1%, trên 6 giờ chiếm tỷ lệ 19,5% và dưới 1 giờ 7,5% [18].

Nghiên cứu của nhóm tác giả Nguyễn Phúc Thành Nhân về thực trạng sử dụng điện thoại di động và mối liên quan đến rối loạn giấc ngủ, tâm lý và kết quả học tập ở sinh viên trường Đại học Y dược Huế năm 2015 cho thấy thời gian sử dụng điện thoại của sinh viên trung bình là 3,58 giờ/ngày, thời gian sử dụng điện thoại nhiều nhất là 7,5 giờ/ngày [15]. Như vậy, điện thoại thông minh đã trở thành một phần của cuộc sống sinh viên, như một “ vật bất ly thân” không thể tách rời của sinh viên 1. Thực trạng lạm dụng điện thoại thông minh ở người trẻ tuổi Khi ĐTTM còn chưa phổ biến, công dụng chính của điện thoại di động thường được sử dụng để nhắn tin, gọi điện. Nhưng khi ĐTTM được kết nối với internet, tính năng của nó cho phép người dùng thực hiện thêm nhiều thao tác khác: xem phim, lướt web, chơi game, truy cập vào các website, mạng xã hội,.Vì vậy, hầu hết những thanh niên niên từ 10- 19 tuổi coi ĐTTM như một vật không thể thiếu trong cuộc sống hàng ngày [19].

Nhiều người ngày càng cảm thấy lệ thuộc vào các sản phẩm này và có thể gọi là “nghiện”. Thậm chí, để nói đến trạng thái căng thẳng, bứt rứt hay bất an, buồn chán khi không có điện thoại di động hay ĐTTM bên cạnh còn có một từ ngữ riêng để ám chỉ, “Nomophobia” viết tắt từ “no mobile- phone phobia”. Theo nghiên cứu của Nguyễn Thị Ngọc bé và cộng sự (2021) về chứng sợ thiếu điện thoại di động của học sinh trung học phổ thông thị xã Hương Thủy, tỉnh Thừa Thiên Huế cho thấy có đến 99,3% học sinh sợ thiếu điện thoại di động ở các mức độ khác nhau, mức độ sự thiết điện thoại di động ở 8 mức nhẹ là 12,2%, mức độ sợ thiếu điện thoại di động ở mức trung bình là 63,5% và mức độ sợ thiếu điện thoại di động ở mức độ nặng là 23,6% [20]. Một nghiên cứu tại Anh cho thấy 37% người lớn và 60% thiếu niên thừa nhận họ rất nghiện điện thoại thông minh của họ, 23% người lớn và 34% thiếu niên đã sử dụng điện thoại thông minh của họ trong giờ ăn và 22% người lớn và 47% thiếu niên thừa nhận sử dụng hoặc trả lời điện thoại thông minh của họ trong khi ở phòng tắm [21].

Nghiên cứu khác tại một trường đại học Mỹ chỉ ra 60% sinh viên thừa nhận rằng họ có thể bị nghiện điện thoại di động [19].

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ