phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, kết cấu của luận văn đƣợc chia thành 4 chƣơng: Chƣơng 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu và cơ sở lý luận Chƣơng 2. Phƣơng pháp và thiết kế nghiên cứu Chƣơng 3. Thực trạng văn hóa ứng xử tại Công ty Cổ phần Giải pháp tòa nhà thông minh.
Một số giải pháp xây dựng và triển khai văn hóa ứng xử tại Công ty Cổ phần Giải pháp tòa nhà thông minh 3 z CHƢƠNG 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu Văn hóa doanh nghiệp (VHDN) là tài sản tinh thần của doanh nghiệp, là nguồn lực quan trọng thúc đẩy doanh nghiệp phát triển bền vững. VHDN có vai trò không chỉ đối với việc nâng cao hiệu quả hoạt động toàn diện của doanh nghiệp mà còn là một giải pháp để nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp. Trên thế giới, đã có nhiều công trình nghiên cứu về văn hóa doanh nghiệp độc đáo, đƣợc nhiều ngƣời, nhiều tổ chức công nhận và đƣa vào áp dụng.
Trong cuốn “Organizational Culture and Leadership” xuất bản năm 1992, Edgar Schein đã đƣa ra định nghĩa và chia văn hóa tổ chức thành 03 tầng bao gồm: các thực thể hữu hình; các niềm tin và giá trị đƣợc đồng thuận; các giả định căn bản. Trong khi đó, Stephen Covey chia thành 04 tầng: biểu tƣợng, những hành vi của tổ chức; các chuẩn mực; những giá trị; những giả định cốt lõi, niềm tin, triết lý về cuộc sống.Cameron và Robert E.Quinn, trong cuốn “Diagnosing and changing organisational culture” năm 2006 đã giới thiệu phƣơng pháp nhận diện, phân tích 04 mô hình văn hóa tổ chức bằng bộ công cụ OCAI và MSAI, đồng thời đƣa ra quy trình 09 bƣớc nhằm thay đổi văn hóa một tổ chức. Trong cuốn “Văn hóa và tổ chức: Phần mềm tư duy” của tác giả Geert Hofstede, Gert Jan Hofstede và Michael Minkov, đƣợc dịch từ tiếng Anh bởi Đinh Việt Hòa và Nhóm dịch Pailema (2010), tác giả đã đƣa ra khái niệm về 05 chiều văn hóa thể hiện sự hòa hợp, xung đột giữa các nền văn hóa trong tổ chức. 4 z Nhận thức đƣợc tầm quan trọng của văn hóa doanh nghiệp trong sự phát triển bền vững của tổ chức, các học giả Việt Nam cũng có nhiều công trình nghiên cứu về lĩnh vực này và gặt hái đƣợc những thành công nhất định.
Cuốn sách chuyên khảo “Văn hóa kinh doanh và Triết lý kinh doanh” của tác giả Đỗ Minh Cƣơng (Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2001) là một công trình đầu tiên ở nƣớc ta trình bày có hệ thống về các vấn đề văn hóa kinh doanh, VHDN, triết lý kinh doanh… từ phƣơng diện cơ sở lý luận và thực tiễn của thế giới và Việt Nam. Khi nghiên cứu Luận văn, tác giả đã kế thừa quan điểm về vai trò của nhân tố văn hoá trong quá trình sản xuất - kinh doanh của doanh nghiệp, trong đó có bộ phận và lĩnh vực văn hoá giao tiếp, ứng xử. Tuy nhiên cuốn sách này chƣa đi sâu vào lĩnh vực này nhất là trong lĩnh vực dịch vụ phục vụ toà nhà. Tác giả Nguyễn Mạnh Quân với “Đạo đức kinh doanh và VHDN” xuất bản năm 2004, đã trình bày rõ khái niệm, biểu hiện, các dạng VHDN, nhấn tố tạo lập VHDN.
Đây là một trong những giáo trình đƣợc giảng dạy tại Trƣờng Đại học Kinh tế Quốc dân Cuốn “Đạo đức kinh doanh và VHDN” xuất bản tại Nhà xuất bản Thông tin và truyền thông, năm 2006 của tác giả Bùi Xuân Phong là cuốn sách trình bày khái niệm, đặc điểm, biểu hiện của VHDN, các nhân tố tạo lập VHDN; nguyên tắc và quy trình xây dựng VHDN. Ngoài ra công trình cũng trình bày văn hóa trong các hoạt động kinh doanh nhƣ hoạt động marketing, văn hóa trong ứng xử, trong đàm phán và thƣơng lƣợng. Cuốn “Văn hóa kinh doanh” xuất bản năm 2011 của tác giả Dƣơng Thị Liễu cũng là một giáo trình của Trƣờng Đại học kinh tế quốc dân. Công trình này đi sâu vào những lý luận cơ bản về văn hóa, văn hóa kinh doanh, các biểu hiện của văn hóa kinh doanh cũng nhƣ văn hóa kinh doanh tại Việt Nam.
5 z Bên cạnh đó, nhiều tác phẩm, tài liệu nghiên cứu về ứng xử cũng đã có mặt ở Việt Nam. Đó là các cuốn sách viết về cung cách ứng xử nhƣ: Cuốn “Tâm lý học ứng xử” của tác giả Lê Thị Bừng, xuất bản năm 2001 của NXB Giáo Dục. Cuốn “Tâm lý và nghệ thuật giao tiếp, ứng xử trong kinh doanh du lịch” của PTS Nguyễn Văn Đính, Nguyễn Văn Mạnh chủ biên, NXB Thống kê, năm 1995. Nhóm tác giả Nguyễn Ngọc Nam, Nguyễn Công Khanh, Nguyễn Hồng Ngọc với “Nghệ thuật ứng xử và sự thành công của mỗi người” của NXB Thanh niên, năm 1995.
Cuốn “Giao tiếp - ứng xử trong hoạt động kinh doanh” do PGS, TS. Bùi Tiến Quý chủ biên năm 2001 của NXB Khoa học và kỹ thuật. Cuốn “Giao tiếp trong kinh doanh” của PTS. Vũ Thị Phƣợng – Dƣơng Quang Huy, NXB Thống kê năm 1998.
Về luận văn thạc sỹ, hiện có một số nghiên cứu đề cập đến văn hóa ứng xử, văn hóa doanh nghiệp nhƣ: - Nguyễn Thị Hoa -“Văn hóa doanh nghiệp tại VNPT Bắc Giang” (2012). - Vũ Tuấn - “Xây dựng văn hóa ứng xử trong doanh nghiệp tại Công ty lâm nông sản thực phẩm Yên Bái” (2013). - Trần Thị Thu Hà - “Văn hoá doanh nghiệp Công ty Vinaphone” (2012) Nhƣ vậy, sau quá trình tham khảo, chọn lọc, nghiên cứu và kế thừa, cho đến nay, chƣa có một công trình nào nghiên cứu hệ thống chuyên sâu về vấn đề văn hóa ứng xử tại Công ty Cổ phần Giải pháp tòa nhà thông minh để từ đó đƣa ra biện pháp xây dựng và triển khai nó. Đây chính là đối tƣợng và mục đích nghiên cứu của Luận văn.
Văn hóa Văn hóa là sản phẩm do con ngƣời sáng tạo, có từ thuở bình minh của xã hội loài ngƣời. Có rất nhiều định nghĩa về “văn hóa”, nhƣ theo UNESCO: “Văn hóa là một phức thể, tổng thể các đặc trƣng, diện mạo về tinh thần, vật chất, tri thức, linh cảm. khắc họa nên bản sắc của một cộng đồng gia đình, xóm làng, quốc gia, xã hội… Văn hóa không chỉ bao gồm nghệ thuật, văn chƣơng mà cả những lối sống, những quyền cơ bản của con ngƣời, những hệ giá trị, những truyền thống, tín ngƣỡng.TSKH Trần Ngọc Thêm: “Văn hóa hiểu theo nghĩa rộng là lối sống, lối nghĩ, lối ứng xử … văn hóa hiểu theo nghĩa hẹp nhƣ văn học, văn nghệ, học vấn…” [12] Còn theo Bác Hồ: “Vì lẽ sinh tồn cũng như vì mục đích cuộc sống, loài người mới sáng tạo và phát minh ra ngôn ngữ, chữ viết, đạo đức, pháp luật, khoa học, tôn giáo, văn học nghệ thuật, những công cụ cho sinh hoạt hàng ngày về mặc, ăn, ở và các phương tiện, phương thức. Sử dụng toàn bộ những sáng tạo và phát minh đó tức là văn hoá.
Văn hoá là sự tổng hợp của mọi phương thức sinh hoạt cùng với biểu hiện của nó mà loài người đã sản sinh ra nhằm thích ứng những nhu cầu đời sống và đòi hỏi của sự sinh tồn” [8] Tựu chung lại, văn hoá là tất cả những gì con ngƣời sáng tạo nên theo dòng chảy của thời gian và sự khác biệt về không gian. Trong quá trình phát triển và tiếp biến với các nền văn hoá khác, những giá trị phù hợp với thời đại sẽ đƣợc giữ lại và tiếp tục phát huy, ngƣợc lại những giá trị không phù hợp sẽ tự biến mất hoặc trở thành những “hủ tục”. Nhƣng tất cả những giá trị văn hoá độc đáo ấy chỉ đƣợc hình thành khi có sự giao tiếp, 7 z ứng xử khéo léo, trao đổi qua lại giữa con ngƣời với con ngƣời, giữa con ngƣời với tất cả các thành phần khác trong tự nhiên và xã hội, nhằm mục đích phát triển bản thân, xây dựng các mối quan hệ, lao động sáng tạo và xây dựng một thế giới ngày càng tốt đẹp hơn. Khái niệm văn hóa doanh nghiệp VHDN đã đƣợc nhiều học giả, giới doanh nhân đƣa ra bàn luận từ khá lâu, song cho đến nay khái niệm về VHDN vẫn chƣa có một định nghĩa nào đƣợc công nhận thống nhất.
Theo Schneider - một trong những học giả đầu tiên đi sâu nghiên cứu về văn hoá doanh nghiệp, “văn hoá doanh nghiệp là chất keo kết dính toàn bộ tổ chức lại với nhau bằng cách cung cấp sự cố kết và liên kết mạch lạc giữa từng bộ phận nhỏ của doanh nghiệp”. [15] Theo Deal và Kennedy, “văn hóa doanh nghiệp đơn giản là cách thức mà doanh nghiệp triển khai hoạt động kinh doanh của mình”. Đỗ Minh Cƣơng thì định nghĩa: “Văn hoá doanh nghiệp (văn hoá công ty) là một dạng văn hoá tổ chức bao gồm những giá trị, những nhân tố văn hoá mà doanh nghiệp làm ra trong quá trình sản xuất, kinh doanh, tạo nên cái bản sắc của doanh nghiệp và tác động tới tình cảm, lý trí và hành vi của tất cả các thành viên của nó”. Dƣơng Thị Liễu: “Văn hoá doanh nghiệp là một hệ thống các giá trị, các chuẩn mực, các quan niệm và hành vi của doanh nghiệp, chi phối hoạt động của mọi thành viên trong doanh nghiệp và tạo nên bản sắc kinh doanh riêng của doanh nghiệp”.
[7] Tuy nhiên, định nghĩa phổ biến và đƣợc chấp nhận rộng rãi nhất là định nghĩa của chuyên gia nghiên cứu các tổ chức Edgar Schein: “Văn hóa công ty là tổng hợp các quan niệm chung mà các thành viên trong công ty 8 z học đƣợc trong quá trình giải quyết các vấn đề nội bộ và xử lý với các môi trƣờng xung quanh”. [14] Nhƣ vậy, trên cơ sở kế thừa những nghiên cứu của các học giả và hệ thống nghiên cứu logic về văn hoá và văn hoá kinh doanh, tác giả cho rằng: “VHDN là toàn bộ những nhân tố và giá trị văn hoá được doanh nghiệp chọn lọc, tạo ra, sử dụng và biểu hiện trong hoạt động kinh doanh, tạo nên bản sắc trong kinh doanh và sinh hoạt của doanh nghiệp đó”. Các cấp độ của một hệ thống văn hoá doanh nghiệp Theo các nhà nghiên cứu phân tích, các cấp độ văn hóa của doanh nghiệp đƣợc thể hiện mô hình tảng băng văn hóa, với phần nổi bên trên là những quá trình và cấu trúc hữu hình của doanh nghiệp, cấp độ tiếp theo là phần chìm của tảng băng - phần vô hình của văn hóa doanh nghiệp, phần sâu nhất chính là các yếu tố tạo nên bản sắc riêng cho doanh nghiệp. Schien, cấu trúc của một hệ thống VHDN - văn hóa công ty có thể chia làm ba mức độ (level) khác nhau.