phần mở đầu và kết luận, luận văn kết cấu gồm 3 chương: CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN CHUNG VỀ CÔNG TÁC QUẢN TRỊ NGUỒN NHÂN LỰC TRONG DOANH NGHIỆP 1. Một số vấn đề chung về nguồn nhân lực và quản trị nguồn nhân lực Nguồn nhân lực của một tổ chức được hình thành trên cơ sở của các cá nhân có vai trò khác nhau và được liên kết với nhau theo những mục tiêu nhất định. Nguồn nhân lực khác với các nguồn lực khác của doanh nghiệp do chính bản chất của con người. Nhân viên có các năng lực đặc điểm cá nhân khác nhau, có tiềm năng phát triển, có khả năng hình thành các nhóm hội, các tổ chức công đoàn để bảo vệ quyền lợi của họ, có thể đánh giá và đặt câu hỏi đối với hoạt động của các quản trị gia, hành vi của họ có thể thay đổi phụ thuộc vào chính bản thân họ hoặc sự tác động của môi trường xung quanh.
Do đó, quản trị nguồn nhân lực khó khăn và phức tạp hơn nhiều so với quản trị các yếu tố khác của quá trình sản xuất kinh doanh. Khái niệm quản trị nguồn nhân lực Khái niệm nguồn nhân lực: Nguồn lực về con người được nghiên cứu dưới nhiều khía cạnh. Trước hết với tư cách là nguồn cung cấp sức lao động cho toàn xã hội, nguồn nhân lực bao gồm toàn bộ dân cư trong độ tuổi, có khả năng lao động, là một trong ba yếu tố cơ bản của tái sản xuất xã hội (công cụ lao động, đối tượng lao động và sức lao động). Với cách hiểu này nguồn nhân lực tương đương với nguồn lao động.
Nguồn nhân lực (tài nguyên nhân lực) là thuật ngữ chung dùng để chỉ tất cả người làm của một tổ chức hay tất cả lao động trong một xã hội. Nguồn nhân lực còn có thể hiểu là tổng hợp cá nhân những con người cụ thể tham gia vào quá trình lao động, là tổng thể các yếu tố về thể chất và tinh thần được huy động vào quá trình lao động. Với cách hiểu này, nguồn nhân lực bao gồm những người trong độ tuổi lao động trở lên. Trong doanh nghiệp nguồn nhân lực được hiểu như sau: nguồn nhân lực được hình thành trên cơ sở của các cá nhân có vai trò khác nhau, với những đặc điểm cá nhân, năng lực, tiềm tàng phát triển, kinh nghiệm.
khác nhau và được sắp xếp và đảm nhận các vị trí khác nhau theo một cơ cấu tổ chức nhất định, liên kết với nhau theo những mục tiêu chung, chiến lược chung. Nguồn nhân lực khác với các nguồn lực 1 khác của doanh nghiệp là do chính bản chất của con người, vừa là chủ thể tác động, vừa là đối tượng bị tác động. Nhân viên có khả năng hình thành các nhóm, hội, các tổ chức công đoàn để bảo vệ quyền lợi của họ, hành vi của họ có thể thay đổi phụ thuộc vào chính bản thân họ hoặc sự tác động của môi trường xung quanh. Hai yếu tố chính cấu thành nguồn nhân lực là số lượng và chất lượng nguồn nhân lực.
Số lượng nguồn nhân lực được biểu hiện thông qua các chỉ tiêu quy mô và tốc độ phát triển nguồn nhân lực. Chất lượng nguồn nhân lực được xem xét trên các mặt thể lực và trí lực. Thể lực phụ thuộc vào tình trạng sức khoẻ, mức sống, thu nhập, chế độ ăn uống, chế độ làm việc, nghỉ ngơi, chế độ y tế, tuổi tác, thời gian công tác, giới tính. Trí lực bao gồm tài năng, năng khiếu cũng như quan điểm, lòng tin, nhân cách.
còn ở mức mới mẻ, chưa bao giờ cạn kiệt, vì đây là kho tàng còn nhiều bí ẩn trong mỗi con người. Khái niệm quản trị nguồn nhân lực: Quản trị nguồn nhân lực chính là khoa học đồng thời là nghệ thuật trong việc tuyển dụng, đào tạo, sử dụng, phát triển và duy trì con người trong tổ chức có hiệu quả nhất, nhằm đạt tới kết quả tối ưu cho cả tổ chức lẫn nhân viên. Quản trị nguồn nhân lực là một hoạt động của tổ chức, thông qua hoạt động này nhằm tối đa hoá kết quả sử dụng các nguồn lực khác của tổ chức; hoặc tối thiểu hoá các chi phí. Do đó, trong quá trình sử dụng nguồn nhân lực phải thường xuyên đánh giá kết quả đạt được, kiểm tra, kiểm soát, tìm nguyên nhân ảnh hưởng tới kết quả, vạch rõ tiềm năng chưa được sử dụng và đề ra các biện pháp khắc phục, xử lý và sử dụng kịp thời để không ngừng nâng cao hiệu quả hoạt động của tổ chức.
Hoạt động sử dụng nguồn nhân lực phải tuân theo hệ thống pháp luật hiện hành. Quản trị nguồn nhân lực khó khăn và phức tạp hơn nhiều so với các yếu tố khác của quá trình sản xuất kinh doanh. Vì vậy, quản trị nguồn nhân lực hiện nay trong các doanh nghiệp Việt Nam là một vấn đề quan trọng mang tính cấp bách. Nó đòi hỏi các nhà quản trị phải có cách tiếp cận mới về quản trị con người trong doanh nghiệp, đó là những hoạt động trong doanh nghiệp thực hiện việc thu hút, tuyển dụng, đào tạo phát triển và duy trì nguồn nhân lực.
Các chức năng cơ bản của quản trị nguồn nhân lực: Có ba nhóm chức năng chủ yếu sau đây: 1. Nhóm chức năng thu hút nguồn nhân lực: 2 Nhóm chức năng này chú trọng vấn đề bảo đảm có đủ số lượng nhân viên với các phẩm chất phù hợp cho công việc của doanh nghiệp. Để có thể tuyển được đúng người cho đúng việc, trước hết doanh nghiệp phải căn cứ vào kế hoạch sản xuất, kinh doanh và thực trạng sử dụng nhân viên trong doanh nghiệp nhằm xác định được những công việc nào cần tuyển thêm người. Nhóm chức năng đào tạo, phát triển: Nhóm chức năng này chú trọng việc nâng cao năng lực của nhân viên, đảm bảo cho nhân viên trong doanh nghiệp có các kỹ năng, trình độ lành nghề cần thiết để hoàn thành tốt công việc được giao và tạo điều kiện cho nhân viên được phát triển tối đa các năng lực cá nhân.
Doanh nghiệp đào tạo cho nhân viên mới nhằm xác định năng lực thực tế của nhân viên và giúp nhân viên làm quen với công việc của doanh nghiệp. Đồng thời, doanh nghiệp cũng thường lập các kế hoạch đào tạo, huấn luyện và đào tạo lại nhân viên mỗi khi có sự thay đổi về nhu cầu sản xuất kinh doanh hoặc quy trình công nghệ, kỹ thuật. Nhóm chức năng duy trì nguồn nhân lực: Nhóm chức năng này chú trọng đến việc duy trì và sử dụng có hiệu quả nguồn nhân lực trong doanh nghiệp. Nhóm chức năng này gồm hai chức năng nhỏ hơn là kích thích, động viên nhân viên và duy trì, phát triển các mối quan hệ lao động tốt đẹp trong doanh nghiệp.
Mô hình quản trị nguồn nhân lực: Phác thảo mô hình quản trị nguồn nhân lực của Việt Nam Mô hình quản trị nguồn nhân lực của Việt Nam dựa trên các ý tưởng: Quản trị nguồn nhân lực sẽ được thực hiện như một chiến lược chức năng. Ba nhóm chức năng: thu hút, đào tạo - phát triển và duy trì nguồn nhân lực có tầm quan trọng như nhau, có mối quan hệ chặt chẽ và ảnh hưởng trực tiếp lẫn nhau, phục vụ cho mục tiêu của quản trị nguồn nhân lực. Yếu tố chỉ huy trong mô hình này là sứ mạng mục tiêu của doanh nghiệp. Từ sứ mạng, mục tiêu của doanh nghiệp sẽ có mục tiêu của quản trị nguồn nhân lực.
Từ mục tiêu của quản trị nguồn nhân lực sẽ có các hoạt động chức năng tương ứng. Hệ thống quản trị nguồn nhân lực có mối quan hệ chặt chẽ, đồng bộ với văn hoá và cơ chế tổ chức và chịu sự tác động mạnh mẽ của các yếu tố môi trường vĩ mô như hệ thống chính trị, luật pháp; mức độ phát triển kinh tế - xã hội; trình độ công 3 nghệ - kỹ thuật, điều kiện tự nhiên. Đặc biệt, từ cơ chế kinh doanh và văn hoá dân tộc nói chung, mỗi doanh nghiệp sẽ có cơ chế tổ chức và văn hoá tổ chức riêng, tác động lẫn nhau và phối hợp cùng với quản trị nguồn nhân lực để tạo nên hình ảnh, phong cách riêng cho doanh nghiệp của mình. Cơ chế Thu hút tổ chức nhân lực sứ mạng Mục mục tiêu doanh tiêu nghiệp QTNNL Văn Quản trị Đào tạo Duy trì hóa tổ nguồn phát nguồn chức nhân lực triển nhân lực nhân lực Cụng nghệ tự nhiên Các yếu tố thành phần chức năng QTNNL và các yếu tố môi trường Hình 1.1: Mô hình quản trị nguồn nhân lực 1.
Mục tiêu và vai trò của quản trị nguồn nhân lực 1. Mục tiêu quản trị nguồn nhân lực: Quản trị nguồn nhân lực nghiên cứu các vấn đề về quản trị con người trong doanh nghiệp nhằm các mục tiêu sau: - Mục tiêu kinh tế: sử dụng có hiệu quả nhất sức lao động nhằm tăng NSLĐ, tạo điều kiện tăng thu nhập quốc dân - tạo tích luỹ cho Nhà nước và doanh nghiệp - thoả mãn nhu cầu trang trải chi phí, tái sản xuất giản đơn và mở rộng sức lao động - ổn định kinh tế gia đình. - Mục tiêu xã hội: Tạo công ăn việc làm, giáo dục, động viên người lao động phát triển văn hoá, nghề nghiệp, phù hợp với sự tiến bộ xã hội, làm trong sạch môi trường xã hội. - Mục tiêu củng cố và phát triển tổ chức: quản trị nguồn nhân lực là một lĩnh vực quản trị doanh nghiệp và cũng còn là phương tiện để khai thác và sử dụng có hiệu quả nguồn nội lực, là nhân tố khẳng định giá trị vô hình của tổ chức, thực hiện mục tiêu kinh doanh.
4 - Mục tiêu thực hiện các chức năng, nhiệm vụ tổ chức: Mỗi doanh nghiệp đều có một cơ cấu tổ chức bộ máy quản trị mà sự thống nhất về tổ chức và hiệu lực của bộ máy phụ thuộc chủ yếu vào năng lực, trình độ tổ chức của các quản trị gia cấp cao, cấp trung và nhân viên thực hiện. Ngoài những mục tiêu chung, quản trị nguồn nhân lực còn thực hiện mục tiêu cá nhân. Thông qua hoạt động quản trị nguồn nhân lực, nhà quản trị có khả năng giúp cho người lao động thực hiện được mục tiêu của cá nhân họ về việc làm, thăng tiến, lợi ích kinh tế và xã hội, phát triển nhân cách. Hoạt động quản trị nguồn nhân lực chỉ đạt được hiệu quả khi nhà quản trị nhận thức đúng việc đáp ứng mục tiêu cá nhân, các hoạt động hỗ trợ cần thiết, đánh giá, đào tạo, bố trí sử dụng, phát triển, thù lao và kiểm tra.