chương 1) Theo Luật thuế xuất khẩu nhập khẩu đã được Quốc hội khoá XI thông qua tại kì họp thứ 7, ngày 14 tháng 6 năm 2005, thì đối tượng chịu thuế, không chụi thuế, đối tượng nộp thuế được quy định tại Điều 2, Điều 3, và Điều 4. Trong đó, đối tượng chụi thuế bao gồm: “… 1. Hàng hoá xuất khẩu, nhập khẩu qua cửa khẩu, biên giới Việt Nam ; 2. Hàng hoá được đưa từ thị trường trong nước vào khu phi thuế quan và từ khu phi thuế quan vào thị trường trong nước.” Còn đối với các loại hàng hoá không được mang vào tiêu thụ trong nước, và chỉ mang tính hình thức vận chuyển qua cửa khẩu Việt Nam được quy định rõ trong Điều 3 thuế xuất nhập khẩu thì hoàn toàn không phải chịu loại thuế này.
Đối tượng nộp thuế là các tổ chức, cá nhân có hàng hóa xuất nhập khẩu thuộc đối tượng chịu thuế quy định tại Điều 2 của Luật thuế xuất nhập khẩu. Mà hầu hết là các tổ chức, cá nhân tham gia vào quá trình kinh doanh hay tiêu dùng hàng hóa tại thị trường trong nước. b) Cơ sở thuế “Cơ sở thuế là đối tượng tác động của một chính sách thuế”. Cơ sở thuế đối với hàng hoá xuất nhập khẩu là giá trị lô hàng tính theo giá của các cá nhân khai báo hoặc giá tính theo định giá Hải quan.
c) Thuế suất Thuế suất là mức thu ấn định trên một cơ sở thuế (giá trị hàng hoá) bằng những phương pháp tính toán thích hợp. Thuế suất là linh hồn của một sắc thuế, nó là quan điểm điều tiết của chính phủ về một ngành nghề, một loại hàng hoá cụ thể. Các yêu cầu chính sách thuế xuất nhập khẩu Thuế quan là một công cụ đắc lực góp phần thực hiện mục tiêu kinh tế vĩ mô trong quan hệ kinh tế đối ngoại nhằm cân bằng hoạt động ngoại thương và ổn định tỉ giá hối đoái. Chính vì vậy, việc xây dựng chính sách thuế xuất nhập khẩu cũng phải đảm bảo những tính chất sau: - Tiêu chuẩn công bằng trong chính sách đối với khu vực nhà nước và khu vực tư nhân; khu vực trong nước và khu vực ngoài nước…, là tiêu chuẩn để đánh giá sự tiến bộ trong chính sách.
Nếu không đảm bảo tính công bằng, chính sách thuế sẽ ảnh hưởng gián tiếp tới các hoạt động xuất nhập khẩu, không khuyến khích các nhà đầu tư kinh doanh vào Việt Nam. Người ta nói: hãy cắt lông cừu chứ đừng lột da nó, một phương thức thuế quan công bằng cũng tuân thủ mục tiêu giúp cho thuế quan phát triển và nôi dưỡng nguồn thu cho tương lai - Tiêu chuẩn thuận tiện trong chính sách. Thường được đánh giá qua các tiêu chí: dễ quản lý đối tượng nộp thuế, dễ thu, dễ kiểm tra, nội dung luật dễ hiểu, dễ thực hiện… Tiêu chuẩn hiệu quả chủ yếu thể hiện qua 2 tiêu chí: hiệu quản về kinh tế và hiệu quả về quản lý thu thuế là lớn nhất 1. Các dạng thuế xuất nhập khẩu a) Thuế quan theo mục đích bao gồm: dạng thuế quan theo mục đích ngân khố và dạng thuế quan theo mục đích bảo hộ - Dạng thuế quan theo mục đích ngân khố thường là một loại hàng hoá tiêu dùng đánh vào các hàng hoá xuất nhập khẩu mà trong nước chưa sản xuất được hay các loại hàng hoá theo yêu cầu của xã hội hạn chế các loại hàng hoá như rượu, bia, … - Dạng thuế quan bảo hộ là một dạng thuế được lập lên như một hàng rào bảo hộ mang tính chất thường xuyên đối với nền sản xuất công nghiệp và công nghiệp nội địa, là một công cụ giảm tiêu dùng hàng hoá xuất nhập khẩu trong trường hợp thiếu hụt cán cân thanh toán triền miên.
Thuế quan bảo hộ thường được dùng trong những trường hợp sau: + Bảo hộ hàng xuất bán với mức giá thấp hơn giá sản xuất trên thị trường quốc tế để đảm bảo ưu thế cạnh tranh. Tuy nhiên trong quá trình gia nhập thì điều này là một trong những điều kiện đầu tiên các quốc gia xoá bỏ khi đàm phán + Hạn chế việc nhập hàng hoá trên “quota” bằng việc đánh thuế suất cao + Phân biệt việc nhập hàng hoá theo các phương tiện vận chuyển khác nhau (đường hàng không, đường biển, đường bộ) thông qua các loại thuế suất khác nhau + Chủ trương của chính phủ là ưu tiên xuất khẩu hàng hóa vào thị trường đặc biệt để tăng khả năng cạnh tranh của hàng hóa sản xuất trong nước hoặc sử dụng chế độ ưu tiên thuế quan cho việc nhập nguyên nhiên vật liệu cần thiết cho hoạt động sản xuất trong nước + Thuế quan đàm phán và thương mại, loại thuế này thường được ấn định dựa trên mức độ cần thiết của mục tiêu bảo hộ nền sản xuất trong nước, cùng với lợi ích đạt được trong quá trình đàm phán + Thuế quan dùng để trừng phạt: loại thuế này thường được sử dụng khi trả đũa đối với sự phân biệt thuế quan hay do sự mâu thuẫn giữa hai nước hay là biện pháp cảnh cáo của một nước này so với nước khác. Các hàng hoá bị đánh ở mức thuế suất cao khi nhập khẩu trong các nước này. b) Thuế quan theo xu hướng vận động Xu hướng vận động của hàng hoá xuất nhập khẩu bao gồm : xuất, nhập và quá cảnh.
Theo xu hướng vận động, ta có thể phân thuế quan thành 3 loại sau: - Thuế xuất khẩu đánh vào hàng hoá xuất khẩu. thường có thuế suất thấp nhằm hỗ trợ xuất khẩu hàng hoá trong nước tuy nhiên ở một số nước phát triển, thuế xuất khẩu đối với nguyên nhiên vật liệu thường là rất cao - Thuế nhập khẩu đánh vào hàng hoá nhập khẩu với 2 mục đích chủ yếu là: bảo hộ nền sản xuất trong nước và khai thác nguồn thu cho ngân sách nhà nước - Thuế quá cảnh đánh vào những hàng hoá quá cảnh qua lãnh thổ. Ở Việt Nam, các hàng hoá quá cảnh qua cửa khẩu biên giới của Việt Nam không bị đánh thuế xuất nhập khẩu c) Thuế quan theo phạm vi áp dụng Hay tầm áp dụng của thuế quan, thường có 2 dạng thuế sau: - Thuế quan tự quản: là thuế quan thể hiện tính độc lập của một quốc gia, không phụ thuộc vào các hiệp định đã kí kết song phương hay đa phương - Thuế quan hiệp định: thuế này được ấn định thuế suất theo những khoản đã kí kết trong hiệp định song phương hay đa phương d) Thuế quan theo cách thức quy định Theo cách thức này thuế quan thường có những dạng cơ bản sau: - Thuế quan theo giá trị, mức thuế của loại thuế này được quy định bằng một số tuyệt đối cho mỗi đơn vị hàng hoá (số lượng, trọng lượng,kiện…) loại thuế quan này đảm bảo số thu cho ngân sách không chịu bất kì biến động nào của giá cả. - Thuế quan phân biệt có thể là thuế quan theo giá trị hoặc thuế quan đặc thù, nhưng thuế suất thường được chia thành bậc theo giá cả hàng hoá.
Quản lý thu thuế xuất nhập khẩu tại các Chi cục hải quan 1. Khái niệm Xét trên quan điểm vĩ mô, quản lý thu thuế xuất nhập khẩu thuộc một trong ba lĩnh vực là lập pháp, hành pháp, và tư pháp về thuế xuất nhập khẩu của công tác quản lý thu thuế. Công tác quản lý có một vị trí quan trọng trong quá trình thực hiện hay quá trình thực hiện các quy định của nhà nước về thuế xuất nhập khẩu. Nó là tiền đề quan trọng đánh giá việc thực hiện một chính sách thuế liệu có thành công hay không.
Bởi mục tiêu của một chính sách thuế xuất nhập khẩu đưa ra không nằm ngoài những mục tiêu về ngân sách, và tạo điều kiện thuận lợi cho nền kinh tế vĩ mô phát triển. Thứ nhất, thuế xuất nhập khẩu là nguồn thu lớn cho ngân sách nhà nước. Sau Đại hội Đảng VI đến nay, hoạt động trao đổi, giao thương buôn bán của Việt Nam phát triển nhanh chóng. Hàng năm tổng kim ngạch xuất nhập khẩu tăng, nguồn thu từ thuế xuất nhập khẩu đạt từ 20 – 23% tổng thu ngân sách về thuế.
Thứ hai, quản lý thu tốt là điều kiện cho chính sách kinh tế vĩ mô hiệu quả. Quản lý thu thuế hay tổ chức thực hiện luật thuế xuất nhập khẩu là một nhân tố không thể thiếu trong quá trình điều tiết kinh tế vĩ mô. Thuế xuất nhập khẩu là một trong những công cụ kinh tế đáng tin cậy và có hiệu quả. Thuế có thể hướng dẫn hay hạn chế tiêu dùng thông qua việc xây dựng biểu thuế, chính sách miễn giảm thuế.
Thông qua các chính sách này nhà nước có thể kiểm soát hoặc hướng dẫn các hoạt động xuất nhập khẩu, bảo hộ nền kinh tế trong nước, thực hiện các chính sách đối ngoại của Đảng và nhà nước trong quan hệ quốc tế, góp phần đảm bảo công bằng xã hội. Chính vì vậy quản lý thu thuế là điều kiện tiên quyết giúp cho quá trình điều tiết kinh tế vĩ mô có hiệu quả. Quản lý thu thuế như cánh tay, đôi chân và đôi mắt của quá trình phát triển của đất nước. Các hoạt động này không hiệu quả thì một bộ óc thông minh đến đâu cũng không thể hoàn thành tác phẩm của mình.
Căn cứ pháp lý của quản lý thu thuế xuất nhập khẩu Ngày 29/12/1987, Luật thuế xuất nhập khẩu Việt Nam lần đầu tiên được ban hành có tên gọi “Luật thuế xuất nhập khẩu hàng mậu dịch”. Trong xu thế hội nhập, nền kinh tế thế giới có nhiều biến động, sự tan rã của khối chủ nghĩa xã hội, mối quan hệ của Việt Nam với các nước Liên Xô và Đông Âu có nhiều thay đổi, chính sách xuất nhập khẩu được Đảng và Chính phủ hết sức quan tâm và cố gắng điều chỉnh cho phù hợp với tình hình thực tế. Có thể thấy, ngày 26/12/1991, Quốc hội thông qua “Luật thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu” lần nhất sửa đổi bổ sung ngày 5/7/1993; Ngày 14/06/2005, Quốc hội thông qua “Luật thuế xuất nhập khẩu” lần hai. Đây có thể coi là bước căn bản, là cơ sở của quá trình Việt Nam gia nhập nền kinh tế thế giới phù hợp với những thông lệ và điều ước quốc tế.