CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CÔNG TÁC QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ ĐẤT ĐAI 1.1 Khái niệm, đặc điểm, vai trò của quản lý nhà nước về đất đai 1.1 Khái niệm, đặc điểm, vai trò của đất đai * Khái niệm đất đai: Trong bốn nguồn lực đầu vào cho nền kinh tế, xã hội gồm: Đất đai, lao động, vốn, công nghệ thì đất đai là loại tài nguyên vô cùng quý giá do thiên nhiên ban tặng cho loài người. Đất đai gắn liền với mọi hoạt động, đời sống kinh tế, văn hóa - xã hội của con người. Đất đai là tư liệu sản xuất đặc biệt không có gì thay thế trong sản xuất nông nghiệp, là nhu cầu bức thiết về an cư lập nghiệp, là thành phần quan trọng hàng đầu của môi trường sống, là địa bàn phân bố các khu dân cư, xây dựng các cơ sở kinh tế, văn hóa, xã hội, an ninh quốc phòng. Đất đai còn là cơ sở để phát triển hệ sinh thái môi trường, dung hòa sự sống của con người và sinh vật.
Đất đai có vai trò hết sức quan trọng, là vấn đề sống còn của mỗi quốc gia, mỗi dân tộc. * Đặc điểm của đất đai: Nhìn từ góc độ quản lý Nhà nước, có thể nhấn mạnh một số đặc điểm của đất đai như sau: - Giới hạn về diện tích: Đất đai bị giới hạn về mặt diện tích hay nói cách khác nó bị cố định về số lượng. Đây là đặc điểm đặc biệt quan trọng của đất đai. Trong tương quan với dân số và của cải làm ra ngày càng tăng lên, tính giới hạn khiến cho đất đai trở thành nguồn lực rất khan hiếm, ngày càng trở nên quý giá hơn đối với con người.
Diện tích đất cố định trong phạm vi bề mặt trái đất, được cố định trong biên giới từng quốc gia. Đặc điểm này của đất đai đặt ra yêu cầu và những vấn đề lớn trong quá trình sử dụng, quản lý phải đảm bảo tiết kiệm, có hiệu quả, phải xem xét kỹ lưỡng khi bố trí sử dụng các loại đất nhưng cũng phải đảm bảo tính cân bằng tương đối về cung cho các loại đất. - Vị trí cố định: Đất đai gắn liền với một vị trí cố định, một không gian nhất định, không thể di chuyển từ chỗ này sang chỗ khác. Tính cố định của đất đai đồng thời quy định tính giới hạn về không gian gắn liền với môi trường mà đất đai chịu sự chi phối 4 (nguồn gốc hình thành, khí hậu sinh thái và những tác động khác của thiên nhiên).
Đặc điểm này đã khiến cho giá trị kinh tế của đất đai phụ thuộc rất lớn vào vị trí của đất. Trong quản lý nhà nước, cần hết sức lưu ý đặc điểm này khi định giá đất đai. - Đất không bị mất đi khi sử dụng: Trừ trường hợp bị thiên tai huỷ hoại, mặt đất tự nhiên với tư cách là địa bàn hoạt động của con người không có đặc trưng của hàng hoá thông thường, có nghĩa là con người không thể tạo ra đất và đất không bị mất đi trong quá trình sử dụng. Đất đai là tư liệu sản xuất vĩnh cửu (không phụ thuộc vào tác động của thời gian, của quá trình sử dụng).
Khả năng tăng năng lực sản xuất của đất tuỳ thuộc vào phương thức sử dụng đất. Đây là đặc điểm không tư liệu sản xuất nào khác có được. - Giá cả đất đai phụ thuộc vào hiệu quả sử dụng đất (hay thu nhập có được từ việc sử dụng đất): Để xác định giá cả của đất, người ta thường dựa vào khả năng sinh lời của đất khi được đem ra sử dụng. Đặc điểm này đặt ra yêu cầu cần đưa ra các tiêu chí cụ thể, có phương pháp tính toán khả năng sinh lời của đất từ đó định lượng hiệu quả sử dụng đất mới có thể xác định được giá cả đất đai.
- Đất đai vừa là đối tượng lao động, vừa là tư liệu lao động: Trong quá trình sản xuất, con người sử dụng những đặc tính của đất đai để tác động vào cây trồng làm tăng năng suất, giá trị sản lượng, khi đó đất đai là tư liệu lao động, nhưng cũng có khi con người lại thực hiện các hoạt động kinh tế xã hội trên đất, lúc đó đất đai là đối tượng lao động. Đất đai là sản phẩm của tự nhiên nhưng lại là một tư liệu sản xuất gắn liền với hoạt động của con người. Trong quá trình hoạt động sản xuất, đất đai trở thành tư liệu không thể thiếu được. Tác động của con người vào đất đai thông qua hoạt động sản xuất rất đa dạng, trực tiếp hay gián tiếp nhằm khai thác triệt để nguồn tài nguyên thiên nhiên này.
Tất cả những tác động ấy của con người làm cho đất đai, vốn dĩ là sản phẩm của tự nhiên, đã trở thành một sản phẩm của lao động. - Tính đa dạng và phong phú của đất đai: Do đặc tính tự nhiên của đất đai và phân bố cố định trên từng vùng lãnh thổ nhất định gắn liền với điều kiện hình thành đất quyết định, mặt khác do yêu cầu, đặc điểm, mục đích sử dụng các loại đất khác nhau. Đặc điểm này đòi hỏi quá trình quản lý, sử dụng phải biết khai thác triệt để lợi thế của mỗi 5 loại đất. Để làm được điều đó phải xây dựng một quy hoạch sử dụng đát tổng thể và chi tiết trong cả nước và từng vùng lãnh thổ.
- Các quan hệ đất đai vừa mang tính kinh tế, vừa mang tính xã hội sâu sắc: Đất đai là một tài sản có giá trị kinh tế lớn, tuy nhiên, về mặt xã hội, quan hệ đất đai có nhiều ý nghĩa. Thực tế quá trình quản lý cho thấy, nhiều khiếu kiện về đất đai (có trường hợp đối tượng khiếu kiện là tập thể) không chỉ mang ý nghĩa kinh tế mà còn mang ý nghĩa tinh thần rất lớn như việc đòi đất tôn giáo, việc tranh chấp đất làm nghĩa địa. * Vai trò của đất đai: Những tổng kết lịch sử này tuy vào những nơi và những lúc khác nhau nhưng đều có chung nhận thức về vai trò của đất đai trong quá trình phát triển của xã hội loài người – nó trở thành yếu tố không thể bỏ qua khi nghiên cứu tính chất của mọi thời đại và nhất là khi cần đánh giá mức độ phát triển về chính trị, kinh tế của một nhà nước. Đất đai là tài nguyên đặc biệt.
Trong nền kinh tế thị trường, người ta coi đất đai là hàng hóa đặc biệt. Trước khi trở thành hàng hóa đặc biệt thì từ hàng triệu năm qua đất đai là tài nguyên đặc biệt, trước hết bởi đất đai có nguồn gốc tự nhiên, là tặng vật tự nhiên dành cho con người, tiếp đến mới là thành quả do tác động khai phá của con người. Tính chất vô cùng đặc biệt của đất đai ở chỗ tính chất tự nhiên và tính chất xã hội đan quyện vào nhau. Đất đai quý giá còn bởi con người không thể làm nó sinh sản, nở thêm, ngoài diện tích tự nhiên vốn có của đất.
Tài nguyên đất của thế giới theo thống kê hiện nay có tổng diện tích 14.777 triệu ha, với 1.527 triệu ha đất đóng băng và 13.251 triệu ha đất không phủ băng. Trong đó, 12% tổng diện tích là đất canh tác, 24% là đồng cỏ, 32% là đất rừng và 32% là đất cư trú, đầm lầy. Diện tích đất có khả năng canh tác là 3.200 triệu ha, hiện mới khai thác được 1. Tỷ trọng đất đang canh tác trên đất có khả năng canh tác ở các nước phát triển là 70%, ở các nước đang phát triển là 36%.
Những con số này cho ta thấy phần nào vai trò của đất đai. Đất đai là một tài nguyên thiên nhiên quý giá của mỗi quốc gia và nó cũng là yếu tố mang tính quyết định sự tồn tại và phát triển của con người và các sinh vật khác trên 6 Trái đất. Đất đai tham gia vào tất cả các ngành kinh tế của xã hội. Tuy vậy, đối với từng ngành cụ thể đất đai có vị trí khác nhau.
Trong công nghiệp và các ngành khác ngoài nông nghiệp, trừ công nghiệp khai khoáng, đất đai nói chung làm nền móng, làm địa điểm, làm cơ sở để tiến hành các thao tác. Trái lại, trong nông nghiệp đặc biệt là trong ngành trồng trọt, đất đai là tư liệu sản xuất chủ yếu, vừa là đối tượng lao động, vừa là tư liệu lao động. Luật đất đai năm 1993 của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam có ghi: “Đất đai là tài nguyên quốc gia vô cùng quý giá, là tư liệu sản xuất đặc biệt, là thành phần quan trọng hàng đầu của môi trường sống, là địa bàn phân bố các khu dân cư, xây dựng các cơ sở kinh tế, văn hóa xã hội, an ninh quốc phòng. Trải qua nhiều thế hệ nhân dân ta đã tốn bao công sức, xương máu mới tạo lập, bảo vệ được vốn đất đai như ngày nay”.
Bởi vậy, việc sử dụng đất tiết kiệm, hiệu quả và bảo vệ lâu bền nguồn tài nguyên vô giá này là nhiệm vụ quan trọng và cấp bách đối với mỗi quốc gia. Do đó việc quản lý nhà nước đối với đất đai là hết sức cần thiết, vừa đảm bảo khai thác tốt tiềm năng đất đai với vai trò là một nguồn lực, lại vừa đảm bảo mục tiêu giữ gìn môi trường sống cho toàn xã hội.2 Khái niệm, đặc điểm của quản lý nhà nước cấp huyện về đất đai * Khái niệm quản lý nhà nước Quản lý nhà nước là sự tác động có định hướng của chủ thể quản lý (cơ quan Nhà nước, tổ chức chính trị xã hội được Nhà nước giao quyền và cá nhân có thẩm quyền) lên các đối tượng quản lý (các khách thể) nhằm đạt được mục đích Nhà nước mong muốn. * Khái niệm quản lý nhà nước về đất đai Theo nghĩa chung nhất, quản lý nhà nước về đất đai là tổng hợp các hoạt động của các cơ quan nhà nước có thẩm quyền để thực hiện và bảo vệ quyền sở hữu của Nhà nước đối với đất đai; đó là các hoạt động nắm chắc tình hình sử dụng đất; phân phối và phân phối lại quỹ đất đai theo quy hoạch, kế hoạch; kiểm tra giám sát quá trình quản lý và sử dụng đất; điều tiết các nguồn lợi từ đất đai. 7 Không có nước nào Nhà nước không tham gia quản lý đất đai.
Tuy nhiên, do phụ thuộc vào chế độ sở hữu, trình độ phát triển KT-XH và quyền hạn của Nhà nước, quản lý nhà nước về đất đai ở các nước khác nhau khá khác nhau.