CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ QUẢN LÝ NGÂN SÁCH XÃ 1. Lý luận chung về Ngân sách xã 1. Sơ lược quá trình hình thành và phát triển Ngân sách xã * Nước ta, đã có hàng nghìn năm lịch sử tồn tại và phát triển gắn liền với các triều đại phong kiến và cùng đó là sự hình thành và phát triển của xã. Thời triều đại nhà Đường thống trị nước ta vào thế kỷ VII tổng quản Khâu Hòa là người đầu tiên đặt định cấp xã.
Đất An Nam ngày ấy có 12 “châu”, 59 “huyện” và dưới huyện là “hương” và “xã”. Thế là từ việc đặt định và quản lý làng xã từ thời xa xưa, thực thể làng xã và văn minh làng xã đã hiện hình: Từ quá trình định cư và cộng cư của người việt lấy trồng trọt làm nông nghiệp lúa nước là chủ lực, Nhà nước qua các triều đại từ tự chủ đến đô hộ trải qua các đời trong đó các vấn đề thu chi - ngân sách - thuế khóa tiền tệ… trong lịch sử là một trong những đặc trưng quan trọng của làng xã và văn minh làng xã. Với đặc trưng cơ bản riêng có, xã là một khu vực có đặc điểm riêng biệt về mặt địa lý, lãnh thổ, kết cấu hạ tầng, các hoạt động kinh tế - xã hội và cộng đồng dân cư. Là một đơn vị hành chính cấp cơ sở xã cũng có bộ máy đại diện quản lý đảm bảo ổn định chính trị, xã hội.
* Theo nhà sử học Lê Văn Lan, Ngân sách xã ở Việt Nam có quá trình phát triển từ rất lâu đời. Bản “hương ước” của làng phú thôn, tổng phú lão, huyện Vụ Bản, tỉnh Nam Định ngày trước ghi: “Nước có thuế nước, như thuế đinh điền, môn bài để chi công việc công ích trong nước. Dân phải đóng thuế ở dân như thuế: trâu, bò, ngựa, nhà cửa để lo công việc cho dân”. Ở đây thuật ngữ và khái niệm “Dân” chính là dùng cho làng xã.
Câu văn cổ này chính là một tuyên ngôn cho sự ra đời và tồn tại Ngân sách xã trong xã hội và văn minh làng xã ngày xưa. Với lý do: làng xã là một đơn vị có 5 tính tự tôn - tự trị - tự quản cao, nên cũng cần phải có quỹ làng xã, sự ra đời và tồn tại “ngân sách” hiển nhiên là một tất yếu truyền thống. Theo luật NSNN năm 2015 và các văn bản hướng dẫn thực hiện (NĐ số 163/2016/NĐ – CP ngày 21/12/2016 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành luật NSNN; Thông tư số 312/2016/TT – BTC ngày 30/12/2016 của Bộ Tài chính quy định chi tiết và hướng dẫn thực thi hành một số điều của Nghị định số 163/2016/NĐ – CP) NSX là một bộ phận của NSNN, là hệ thống các mối quan hệ kinh tế giữa chính quyền Nhà nước cấp xã với nhân dân phát sinh trong quá trình huy động và sử dụng các nguồn tài chính nhằm đảm bảo yêu cầu thực hiện các chức năng quản lý, điều hành nền kinh tế - xã hội trên địa bàn xã. NSX là ngân sách của chính quyền nhà nước cấp xã, do ủy ban nhân dân xã xây dựng quản lý, điều hành, được HĐND xã quyết định và giám sát thực hiện.
Theo quy định của nhà nước thì NSX có những đặc điểm chung cơ bản sau: - Về mặt sở hữu: NSX là một loại quỹ tiền tệ của Nhà nước, do chính quyền cấp cơ sở quản lý và điều hành. Xã là một cấp ngân sách, vừa là một đơn vị dự toán đặc biệt bên dưới không có đơn vị dự toán nào trực thuộc. Ngân sách cấp xã có quyền tự chủ nhất định về nguồn thu và nhiệm vụ chi được quy định trong các văn bản pháp luật về tài chính, tuy nhiên tính độc lập của NSX lại là tương đối do nguồn thu của xã có hạn và còn phải nhận trợ cấp của ngân sách cấp trên và phụ thuộc vào ngân sách ngân sách cấp trên. Do vậy NSX được coi là đơn vị dự toán cuối cùng và đó là một đặc trưng cơ bản của NSX khác so với các cấp ngân sách khác.
- Về chủ thể: trong các hoạt động thu chi bằng tiền hình thành quỹ ngân sách được các chủ thể công tiến hành, mà chủ thể công ở đây chính là chính quyền Nhà nước cấp xã. - Về mặt pháp luật: quan hệ tài chính phát sinh trong quá trình thu chi NSX là quan hệ lợi ích giữa hai bên, một bên là lợi ích chung của cộng đồng cấp cơ sở đại diện là chính quyền xã với một bên là lợi ích chung của các chủ thể kinh tế khác. Là một đơn vị hành chính cấp cơ sở đại diện là chính quyền xã vừa chịu trách nhiệm trước dân trong địa giới hành chính của mình, vừa chịu trách nhiệm trước 6 chính quyền cấp trên. Do vậy NSX không chỉ có mối quan hệ với các chủ thể công trong địa giới hành chính xã mà còn quan hệ nhất định với các chủ thể của chính quyền cấp trên, các quan hệ này luôn chịu sự điều chỉnh bởi các luật công, dựa trên các quy phạm pháp luật mệnh lệnh, quyền uy.
Như vậy, quá trình hình thành quỹ NSX luôn gắn chặt với bộ máy chính quyền cấp xã nhằm duy trì sự tồn tại và phát huy hiệu lực của bộ máy chính quyền xã, thực hiện các nhiệm vụ kinh tế - xã hội mà chính quyền cấp xã đảm nhận trong từng thời kỳ do HĐND xã giao cho. * Quá trình phát triển NSX gắn liền với quá trình phát triển của các hình thái kinh tế - chính trị - xã hội qua từng thời đại. - Giai đoạn từ sau Cách mạng tháng 8/1945 đến năm 1971: giai đoạn này NSX là một bộ phận hợp thành của hệ thống Ngân sách. NSX góp phần quan trọng trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ miền Bắc, giải phóng miền Nam trong chiến tranh chống Pháp.
NSX đã trở thành công cụ, phương tiện vật chất có tác dụng to lớn trong sự nghiệp cách mạng giải phóng dân tộc và xây dựng đất nước. Trong thời kỳ này nhà nước đã ban hành các văn bản quy định nội dung cơ cấu thu, chi NSX vào những năm 1946, 1952, 1958. Song việc ban hành quy định chưa gắn liền với cơ chế quản lý và trách nhiệm của xã đối với quản lý khai thác nguồn thu tại chổ, quản lý chế độ chi NSX, mối quan hệ giữa UBND xã và hợp tác xã, sự nhất trí lợi ích của xã hội với lợi ích hợp tác xã còn quy định chung chung, chưa xác định rỏ ràng cụ thể. Bên cạnh đó việc phân cấp giữa NSX, thị trấn với Ngân sách huyện, Ngân sách tỉnh cũng chưa được xác định rõ ràng, rành mạch, cụ thể.
- Giai đoạn từ năm 1972 đến 1983: giai đoạn này NSX đã thực sự quản lý theo luật lệ thống nhất của Nhà nước, góp phần quan trọng trong sự nghiệp giải phóng miền Nam, xây dựng miền Bắc xã hội chủ nghĩa. Tháng 4/1972, với việc Chính phủ ban hành Nghị định 64/CP về điều lệ NSX, tiếp theo đó Bộ Tài chính ban hành thông tư số 14 – TC/TDT hướng dẫn việc thi hành điều lệ NSX. Nghị định 64/CP đã quy định cụ thể nội dung của NSX gồm hai phần đó là: Thu và chi thường xuyên; thu và chi không thường xuyên. Kèm theo 7 đó là nội dung cụ thể cũng như nguyên tắc quản lý của thu và chi thường xuyên với thu và chi không thường xuyên.
Đồng thời, cũng đã xác định được quyền hạn trách nhiệm của từng cấp trong chính quyền trong việc xây dựng quản lý NSX. Đến tháng 5/1978 Hội đồng Chính phủ ban hành Nghị quyết 108/CP về trách nhiệm quyền hạn quản lý tài chính và Ngân sách của chính quyền cấp tỉnh và cấp huyện. Nghị quyết Đại hội lần thứ IV của Đảng cộng sản Việt Nam đã xác định: NSX là một cấp NSNN nhưng tạm thời chưa tổng hợp thu chi NSX vào Ngân sách huyện. Các khoản trợ cấp NSX do Ngân sách huyện giải quyết.
- Giai đoạn từ năm 1983 đến 1996: Cuối năm 1983 Hội đông Bộ trưởng nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (nay là Chính phủ) đã có quyết định hoàn thiện cơ cấu hệ thống Ngân sách và phân cấp Ngân sách. Theo Nghị quyết 138/HĐBT ban hành ngày 19/11/1983 về cải tiến chế độ phân cấp quản lý Ngân sách cho địa phương, NSX lúc này đã là khâu độc lập trong hệ thống được thống nhất chung với hệ thống NSNN gồm bốn cấp: Trung ương - Tỉnh - huyện - Xã. Nhưng dự toán và quyết toán NSX vẫn thực hiện theo mục lục Ngân sách riêng và hạch toán theo chế độ kế toán NSX. Trong điều kiện thực hiện đổi mới về kinh tế, phát triển kinh tế nhiều thành phần theo cơ chế thị trường, công tác quản lý Ngân sách có nhiều thay đổi liên quan tới hoạt động thu chi.
Trước tình hình đó, Bộ Tài chính đã ban hành tạm thời công văn số 35/TC-NSNN vào tháng 5/1990 hướng dẫn sử dụng kế toán NSX nhằm tăng cường công tác quản lý NSX. Đây là bước đệm quan trọng trong công tác quản lý Ngân sách, tạo điều kiện cho các địa phương thoát khỏi sự ràng buộc của cơ chế cũ, đội ngũ cán bộ làm công tác kế toán Ngân sách cấp xã từng bước được làm quen và áp dụng công tác quản lý NSX trong điều kiện mới. - Giai đoạn từ năm 1996 đến nay: Để đáp ứng yêu cầu quản lý NSNN nói chung và NSX nói riêng. Quốc hội đã ban hành Luật NSNN ngày 20/3/1996.
Theo luật NSNN quy định: NSNN bao gồm NS Trung ương và NS các cấp chính quyền địa phương (Ngân sách địa phương). Luật đã khẳng định NSX là một trong bốn cấp NS mang tính độc lập, là một phần 8 của NSNN, nó là phương tiện vật chất để chính quyền cấp xã thực hiện các chức năng nhiệm vụ do pháp luật quy định. Sự ra đời của Luật NSNN, Nghị định của Chính phủ, các thông tư hướng dẫn của Bộ Tài chính là căn cứ pháp lý đáp ứng cho nhu cầu quản lý, đầu tiên phải kể đến Thông tư số 14/TC-NSNN ngày 28/3/1997, hướng dẫn về thu chi NSX. Tiếp theo đó là Thông tư số 01/1999/TT-BTC ngày 4/1/1999 ra đời thay thế cho thông tư số 14/TC-NSNN ngày 28/3/1997 hướng dẫn quản lý thu chi NSX, để dáp ứng yêu cầu quản lý NSX trong điều kiện hiện nay.
Bộ Tài chính ban hành Thông tư số 118/2000/ TT-BTC ngày 22/12/2000 nhằm thực hiện nội dung quản lý thu chi NSX.