Chương 1: Lý luận tổng quát về các chế tài đối với vi phạm hợp đồng thương mại. Chương 2: Thực trạng pháp luật Việt Nam về các thể loại chế tài đối với vi phạm hợp đồng thương mại Chương 3: Kiến nghị định hướng và giải pháp hoàn thiện pháp luật Việt Nam về thể loại chế tài đối với vi phạm hợp đồng thương mại. 8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com CHƢƠNG 1 LÝ LUẬN TỔNG QUÁT VỀ CÁC THỂ LOẠI CHẾ TÀI ĐỐI VỚI VI PHẠM HỢP ĐỒNG THƢƠNG MẠI 1. Khái niệm, bản chất, ý nghĩa và các đặc điểm của chế tài đối với vi phạm hợp đồng thƣơng mại 1.
Khái niệm hợp đồng thƣơng mại và các đặc điểm liên quan của hợp đồng thƣơng mại với các loại chế tài Hợp đồng luôn luôn được hiểu trong tất cả các nền tài phán là sự thỏa thuận hay thống nhất ý chí nhằm xác lập nên một hậu quả pháp lý, hay nói cách khác làm phát sinh, thay đổi hay chấm dứt một quan hệ pháp luật. Hợp đồng được phân loại theo nhiều căn cứ phân loại khác nhau. Có một căn cứ phân loại liên quan tới đề tài Luận văn này là căn cứ vào pháp luật điều chỉnh quan hệ hợp đồng. Với căn cứ này, hợp đồng được chia thành hợp đồng dân sự, hợp đồng thương mại và hợp đồng hành chính.
Hợp đồng là một loại hành vi pháp lý, có nghĩa là hành vi pháp lý được chia thành hợp đồng (sự thống nhất ý chí) và hành vi pháp lý đơn phương (sự thể hiện ý chí đơn phương). Do đó khi phân biệt giữa hợp đồng dân sự và hợp đồng thương mại, người ta thường dựa vào lý thuyết phân biệt giữa hành vi dân sự và hành vi thương mại. Ngô Huy Cương cho rằng có ba cách để phân biệt giữa hành vi dân sự và hành vi thương mại như sau: Cách thứ nhất, lấy công thức T - H - T’ của kinh tế chính trị để phân biệt. Theo công thức này hành vi thương mại khác với hành vi dân sự ở chỗ nó nhằm tới ∆T = T’ – T.
9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Cách thứ hai, phân loại hành vi thương mại để phân biệt với hành vi dân sự. Hành vi thương mại có thể được chia thành hành vi thương mại do bản chất, hành vi thương mại do hình thức, và hành vi thuơng mại do phụ thuộc. Hành vi thương mại do bản chất là loại hành vi có bản chất nhằm tới ∆T. Còn hành vi thương mại do hình thức là loại hành vi mà có hình thức khiến người ta cho rằng nó nhằm tới ∆T.
Cách thứ ba, lấy các thành tố mua vào, bán ra của tư bản thương mại để xác định. Mua vào là một yếu tố khởi đầu để tạo nên hành vi thương mại. Người ta có thể mua vào hàng hóa rồi bán ra chính hàng hóa đó hoặc có thể gia công thêm như bao gói, chia nhỏ, chế biến, sửa chữa, bồi đắp, hoặc gia cố lại … rồi bán. Người ta cũng có thể mua vào vật liệu, sức lao động, công cụ để làm ra dịch vụ để bán ra.
Nếu một người mua hàng hoá về để tiêu dùng thì hành vi này không có tính cách thương mại mà là hành vi dân sự. Thuật ngữ bán ra ở đây phải được hiểu theo nghĩa rộng bao gồm cả việc cho thuê các đồ vật mà người cho thuê đã mua vào hay đã thuê về nhằm mục đích kiếm lời. Đôi khi người ta bắt gặp cả đối tượng của sự thuê mướn là các tài sản vô hình là các quyền. Vậy hành vi thuê lại (sub- lease) thường là hành vi thương mại [3, tr.
Qua các phân tích trên, có thể hiểu: hợp đồng thương mại là loại hành vi thương mại chủ yếu được giao kết giữa thương nhân với thương nhân, hoặc giữa thương nhân với người không phải là thương nhân, hoặc giữa những người không phải là thương nhân với nhau đều nhằm mục tiêu lợi nhuận. Lưu ý rằng trong các hợp đồng giao kết giữa thương nhân và người không phải là thương nhân phần nhiều là hợp đồng hỗn hợp, có nghĩa là hành vi thương mại và dân sự hỗn hợp. Liên quan tới loại hành vi hỗn hợp này, Điều 1, khoản 3 của Luật Thương mại 2005 10 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com cho phép bên không phải là thương nhân có quyền lựa chọn áp dụng luật thương mại hoặc luật dân sự. Sự phân biệt giữa hợp đồng dân sự và hợp đồng thương mại có ý nghĩa trong những nền tài phán có sự pháp điển hóa riêng biệt giữa luật dân sự và luật thương mại bởi sự phân biệt này có thể dẫn đến sự tách bạch các chế tài đối với các vi phạm hợp đồng dân sự và các chế tài đối với các vi phạm hợp đồng thương mại.
Hợp đồng thương mại có các đặc điểm khác biệt so với hợp đồng dân sự. Tất cả các hợp đồng thương mại đều là hợp đồng song vụ có đền bù bởi mục tiêu lợi nhuận của hành vi thương mại. Còn đối với hợp đồng dân sự thì không phải tất cả các hợp đồng dân sự đều là hợp đồng song vụ có đền bù. Chẳng hạn hợp đồng tặng cho, hợp đồng gửi giữ không có đối khoản không phải là hợp đồng có đền bù vì người tặng cho, người nhận gửi giữ không nhận lại một lợi ích nào từ người được tặng cho hay người gửi giữ.
Từ đặc điểm khác biệt này của hợp đồng thương mại làm phát sinh ra một hệ quả là, ngoài các chế tài chung đối với các vi phạm các loại hợp đồng nói chung, có các thể loại chế tài áp dụng riêng cho hợp đồng thương mại, chẳng hạn như chế tài tạm ngừng thực hiện hợp đồng, đình chỉ thực hiện hợp đồng, hủy bỏ hợp đồng. Các loại chế tài này không áp dụng cho các loại hợp đồng đơn vụ, không có đền bù. Khái niệm và bản chất của chế tài đối với vi phạm hợp đồng thƣơng mại Hợp đồng là một chế định trung tâm của luật dân sự, cũng như luật thương mại. Hoạt động chủ yếu của thương nhân là việc giao kết và thực hiện hợp đồng như: hợp đồng thuê trụ sở; hợp đồng thuê lao động; 11 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com hợp đồng mua sắm trang thiết bị; hợp đồng mua dịch vụ điện, nước, viễn thông; hợp đồng mua nguyên, nhiên, vật liệu; hợp đồng bán hàng hóa, dịch vụ… Thực hiện đúng và đầy đủ hợp đồng khiến các bên đạt được những lợi ích mà mình nhằm tới.
Tuy nhiên do những nguyên nhân hoặc khách quan hoặc chủ quan hợp đồng có thể bị vi phạm, có nghĩa là không thực hiện đúng và đầy đủ nghĩa vụ theo hợp đồng. Sự vi phạm có thể gây thiệt hại cho bên bị vi phạm. Ngoài ra sự vi phạm đó còn có thể gây ảnh hưởng tới sự ổn định của các quan hệ xã hội, trật tự của các giao dịch thương mại, sự phát triển bình thường nền kinh tế. Bộ luật Dân sự Pháp tại Điều 1134 tuyên bố một nguyên tắc quan trọng cho việc thi hành các hợp đồng là: “Hợp đồng được giao kết hợp pháp có giá trị như luật đối với các bên giao kết”.
Do đó hợp đồng một khi đã được giao kết hợp pháp có hiệu lực ràng buộc như pháp luật đối với các bên gioa kết, có nghĩa là các bên phải thực hiện đúng và đầy đủ những nghĩa vụ được thoả thuận trong hợp đồng [13, tr48]. Vì thế bên vi phạm hợp đồng sẽ phải chịu trách nhiệm pháp lý do vi phạm hợp đồng đối với bên bị vi phạm. Để bảo vệ bên bị vi phạm, cũng như để làm bình ổn các quan hệ thương mại, pháp luật đặt ra các chế tài đối với bên vi phạm, có nghĩa là bắt bên vi phạm phải gánh chịu các hậu quả pháp lý bất lợi do sự kiện vi phạm hợp đồng. Chế tài đối với vi phạm hợp đồng thương mại theo tinh thần của Luật Thương mại 2005 (Điều 292) là biện pháp pháp lý mà bên bị vi phạm, toà án, hay trọng tài áp dụng đối với bên vi phạm do việc không thực hiện, thực hiện không đúng hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ theo hợp đồng hoặc theo quy định của pháp luật liên quan.
Ngô Huy Cương cho rằng: “Trong nghĩa vụ hợp đồng, nếu một bên 12 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com không tự nguyện thực hiện, thì tố quyền đối với vi phạm nghĩa vụ là cần thiết; và pháp luật cần dự liệu các loại chế tài khác nhau để trái chủ tìm kiếm sự cưỡng bức thi hành nghĩa vụ” [2, tr. Như vậy chế tài trước hết gắn với quyền khởi kiện, và bảo đảm thi hành nghĩa vụ hợp đồng. Có quan điểm cho rằng: trách nhiệm dân sự nói chung là một chế tài của ngành luật dân sự và trách nhiệm dân sự do vi phạm nghĩa vụ là một chế tài trong nghĩa vụ [12, tr 46]. Như vậy theo quan điểm này, chế tài và trách nhiệm dân sự do vi phạm nghĩa vụ hợp đồng là đồng nhất.
Trong khi đó quan điểm khác lại cho rằng không có sự đồng nhất như vậy, và cho rằng xem xét bản chất trách nhiệm dân sự, cần tính đến một thực tế là những xử sự trái với yêu cầu của pháp luật dân sự và/hoặc cam kết đã thoả thuận sẽ dẫn một loạt các chế tài cho bên vi phạm, nhưng trong đó không phải chế tài nào cũng là biện pháp của trách nhiệm dân sự [7, tr. Một số quan điểm thuộc pháp luật của nước Nga cho rằng: Trách nhiệm dân sự không phải chỉ là chế tài dân sự thuần tuý đối với hành vi vi phạm mà phải là loại chế tài dẫn tới sự tước đoạt mang tính chất tài sản hoặc nhân thân đối với bản thân người vi phạm [6, tr 95]. Như vậy theo quan điểm này thì có sự khác biệt, không phải chế tài nào cũng là biện pháp của trách nhiệm dân sự mà trách nhiệm dân sự- là những chế tài đối với vi phạm nghĩa vụ mà việc áp dụng những chế tài đó sẽ dẫn đến hậu quả pháp lý bất lợi cho bên vi phạm dưói hình thức tước quyền dân sự và/ hoặc đặt ra những nghĩa vụ mới hoặc nghĩa vụ bổ xung như bồi thường thiệt hại, nộp phạt vi phạm hoặc trả tiền lãi đối với khoản tiền trả chậm [6, tr. Trách nhiệm dân sự là nguồn gốc của nghĩa vụ dân sự không căn cứ vào ý chí của các đương sự muốn tạo lập ra nghĩa vụ, nguồn gốc này căn cứ vào hành vi mà 13 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com dân luật coi như trái luật.