Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ DOANH NGHIỆP VÀ PHÁP LUẬT VỀ DOANH NGHIỆP 1. Lý luận về doanh nghiệp 1. Khái niệm và đặc điểm của doanh nghiệp Sự hình thành các doanh nghiệp là quy luật tất yếu khách quan của nền kinh tế. Sản xuất hàng hoá khi phát triển đến một mức độ nhất định sẽ tất yếu nảy sinh nhu cầu mở rộng kinh doanh.
Chính nhu cầu về vốn và nhu cầu chia sẻ rủi ro đã thúc đẩy các nhà đầu tư liên kết lại với nhau, tổ chức theo một cấu trúc nhất định để tiến hành sản xuất kinh doanh. Nhưng không chỉ là quy luật khách quan của nền kinh tế, sự hình thành và phát triển của các doanh nghiệp còn bị tác động bởi yếu tố chủ quan, tuỳ thuộc vào điều kiện chính trị - xã hội khác nhau trong từng thời kỳ lịch sử. Theo đó, khái niệm doanh nghiệp, tương ứng với mỗi giai đoạn, mỗi quốc gia, mỗi khu vực lại có những cách hiểu không đồng nhất. Hiện nay, trong điều kiện đất nước ta đang tiến vào thời kỳ hội nhập, với ý nghĩa tạo tiền đề lý luận cho việc xây dựng và hoàn thiện pháp luật về doanh nghiệp, quan điểm về doanh nghiệp cần được tiếp cận phù hợp với xu hướng phổ biến, đáp ứng đòi hỏi của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa.
Để thống nhất cách hiểu về doanh nghiệp, chúng ta cần xem xét khái niệm doanh nghiệp từ hai góc độ: kinh tế - xã hội và pháp lý, gắn với những yếu tố của nền kinh tế thị trường. Dưới góc độ kinh tế - xã hội, các doanh nghiệp được coi là thành tố cơ bản của hệ thống kinh tế - xã hội, tuy nhiên dưới góc độ này khái niệm doanh nghiệp cũng được hiểu theo nhiều cách khác nhau. Trong tiếng Anh, theo từ điển Black’ law dictionary “doanh nghiệp (Enterprise)” có nghĩa là hoạt động 4 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com kinh doanh”. Như vậy, cách hiểu này mới chỉ đề cập đến khía cạnh thương mại của doanh nghiệp chứ chưa thực sự nhìn nhận bản chất của doanh nghiệp dưới góc độ là những thực thể kinh tế - xã hội độc lập mà ở đó hoạt động kinh doanh chỉ là chức năng đầu tiên và chủ yếu.
Từ điển Tiếng Việt định nghĩa “doanh nghiệp là một hình thức tổ chức kinh tế làm công việc kinh doanh”. Theo đó, xét về mặt bản chất, doanh nghiệp là một loại hình tổ chức nên mang những đặc điểm chung như bao gồm nhiều thành viên, có một cấu trúc rõ ràng để các thành viên thực hiện phần việc của mình. Có thể nói, đặc trưng riêng có của doanh nghiệp, phân biệt doanh nghiệp với các đơn vị khác như cơ quan nhà nước, tổ chức xã hội, trường học, bệnh viện. chính là mục tiêu mà doanh nghiệp luôn hướng tới: lợi nhuận từ hoạt động sản xuất kinh doanh.
Theo đó, kinh doanh là một phạm trù gắn liền với sản xuất hàng hoá, là tổng thể các hình thức, phương pháp, biện pháp nhằm tổ chức các hoạt động kinh tế, phản ánh mối quan hệ giữa người với người trong quá trình sản xuất, phân phối, trao đổi, tiêu dùng của cải vật chất xã hội nhằm thu về một giá trị lớn hơn giá trị đã bỏ ra ban đầu [8]. Như vậy, dưới góc độ kinh tế - xã hội, doanh nghiệp được tổ chức theo một cấu trúc nhất định để sử dụng vốn, bộ máy quản lý, lực lượng lao động nhằm thu lợi nhuận sau một thời gian hoạt động. Với cách hiểu trên đây, khái niệm doanh nghiệp ở Việt Nam không đồng nghĩa với khái niệm chủ thể kinh doanh theo quan niệm phổ biến ở nhiều nước trên thế giới, coi doanh nghiệp là chủ thể pháp luật bao gồm cả cá nhân và tổ chức. Theo đó, doanh nghiệp ở Việt Nam chỉ là một trong rất nhiều chủ thể kinh doanh được pháp luật ghi nhận để điều chỉnh.
Có thể khẳng định rằng, với những đặc điểm nêu trên, doanh nghiệp chỉ thực sự phát huy lợi thế trong nền kinh tế thị trường. Theo kinh nghiệm phát 5 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com triển kinh tế của Việt Nam trước đây, trong cơ chế kế hoạch hoá tập trung, các doanh nghiệp chịu ảnh hưởng nhiều từ phía Nhà nước về nguồn vốn cũng như mục tiêu, kế hoạch sản xuất, kinh doanh. Với mô hình này, Nhà nước chứ không phải là các doanh nghiệp đóng vai trò trung tâm của nền kinh tế. Bước sang nền kinh tế thị trường, doanh nghiệp chủ yếu hoạt động theo những quy luật kinh tế cơ bản (quy luật cạnh tranh, quy luật giá trị, quy luật cung - cầu) nên tất yếu có quyền tự chủ rất cao.
Xuất phát từ mục tiêu xây dựng một nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, ở Việt Nam hiện nay, khái niệm doanh nghiệp và các yếu tố ảnh hưởng đến việc thành lập, hoạt động của doanh nghiệp không những bị chi phối bởi những quy luật của nền kinh tế thị trường mà còn bị chi phối bởi định hướng xây dựng xã hội chủ nghĩa. Dưới góc độ pháp lý, khái niệm doanh nghiệp được pháp luật nhìn nhận với những đặc trưng riêng. Theo Luật Công ty năm 1990 thì doanh nghiệp được định nghĩa là “một đơn vị kinh doanh được thành lập nhằm mục đích chủ yếu là thực hiện các hoạt động kinh doanh”. Khái niệm này có nội hàm khá rộng, theo đó tất cả những đơn vị kinh doanh có hoạt động kinh doanh sẽ được công nhận là doanh nghiệp.
Tuy nhiên, khái niệm trong Luật Công ty năm 1990 chưa thể hiện được những đặc điểm pháp lý của doanh nghiệp. Đến khi Luật Doanh nghiệp năm 1999 và Luật Doanh nghiệp năm 2005 được ban hành, các nhà làm luật đã đưa ra khái niệm doanh nghiệp một cách cụ thể và đầy đủ hơn “Doanh nghiệp là một tổ chức kinh tế có tên riêng, có tài sản, có trụ sở giao dịch ổn định, được đăng ký kinh doanh theo quy định của pháp luật nhằm mục đích thực hiện các hoạt động kinh doanh” (Khoản 1 Điều 4 Luật Doanh nghiệp năm 2005). Trong khuôn khổ luận văn này, tôi sẽ nghiên cứu doanh nghiệp dưới góc độ pháp lý với những đặc điểm pháp lý cơ bản sau: 6 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Thứ nhất, doanh nghiệp là một loại chủ thể pháp luật. Có thể nói, việc pháp luật công nhận hay không công nhận tư cách chủ thể pháp luật cho tổ chức, cá nhân có ý nghĩa vô cùng to lớn, là cơ sở để tổ chức, cá nhân đó tiến hành mọi hoạt động nhân danh mình, đồng thời được pháp luật bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp.
Tư cách chủ thể pháp lý độc lập của doanh nghiệp cho phép doanh nghiệp có quyền tự chủ, đồng thời phải tự chịu trách nhiệm trong việc tổ chức hoạt động. Trách nhiệm pháp lý cơ bản của doanh nghiệp về hoạt động kinh doanh thể hiện ở chỗ doanh nghiệp phải chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình, thậm chí vượt ra khỏi phạm vi những tài sản đó về những cam kết tài chính, nợ nần trong kinh doanh. Trước đây, pháp luật về doanh nghiệp đã công nhận tư cách chủ thể của doanh nghiệp nhà nước; công ty trách nhiệm hữu hạn; công ty cổ phần; công ty hợp danh; doanh nghiệp tư nhân; doanh nghiệp liên doanh; doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài. Sau này, khi thống nhất các loại hình doanh nghiệp theo Luật Doanh nghiệp năm 2005, pháp luật chỉ công nhận tư cách chủ thể cho bốn loại hình doanh nghiệp: công ty trách nhiệm hữu hạn; công ty cổ phần; công ty hợp danh và doanh nghiệp tư nhân.
Dù thuộc bất kỳ thành phần kinh tế nào thì khi thành lập doanh nghiệp, các nhà đầu tư cũng chỉ được thành lập một trong bốn loại hình doanh nghiệp đó. Kết quả là khái niệm doanh nghiệp nhà nước, doanh nghiệp liên doanh, doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài đã được thay thế bằng những khái niệm chính xác hơn như doanh nghiệp có vốn nhà nước hay doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài. Đây là tên gọi chung cho các doanh nghiệp được tổ chức theo một trong bốn hình thức nêu trên mà Nhà nước hoặc tổ chức, cá nhân nước ngoài bỏ vốn thành lập. Bên cạnh đó, khi nói đến doanh nghiệp, có một loại chủ thể luôn được đề cập đến với hai quan điểm khác nhau về bản chất và tư cách chủ thể - đó chính là hợp tác xã.
7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Quan điểm thứ nhất cho rằng, hợp tác xã là một loại hình doanh nghiệp. Quan điểm này giải thích lý do là: Hợp tác xã có tổ chức rõ ràng, có bộ máy điều hành gồm hội đồng xã viên, ban quản trị hợp tác xã, ban kiểm soát; đồng thời cũng có quy định về góp vốn và cơ chế huy động vốn tương tự như doanh nghiệp. Vì vậy, hợp tác xã phải là một loại hình doanh nghiệp được điều chỉnh bằng luật riêng - Luật Hợp tác xã, cũng giống như doanh nghiệp nhà nước được quy định trong Luật Doanh nghiệp nhà nước năm 2003; công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty cổ phần, công ty hợp danh, doanh nghiệp tư nhân được quy định trong Luật Doanh nghiệp năm 1999 hay doanh nghiệp liên doanh, doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài được quy định trong Luật Đầu tư nước ngoài tại Việt Nam [6]. Quan điểm thứ hai cho rằng, hợp tác xã không phải là một loại hình doanh nghiệp.
Quan điểm này giải thích lý do là: Hợp tác xã có những nét tương đồng với doanh nghiệp là vì “Hợp tác xã hoạt động như một loại hình doanh nghiệp” nhưng điểm khác nhau cơ bản giữa hợp tác xã và doanh nghiệp chính là yếu tố tự nguyện trong việc tham gia hay rút khỏi hợp tác xã và tính xã hội, tương trợ cộng đồng rất cao của xã viên. Trong công ty, những điều kiện ràng buộc giữa các thành viên công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty cổ phần, công ty hợp danh với nhau và giữa các thành viên với công ty liên quan đến việc chuyển nhượng phần vốn góp hay cổ phần bao giờ cũng phức tạp hơn so với các trường hợp tương tự trong hợp tác xã. Đồng thời, không giống như doanh nghiệp chỉ hoạt động trước hết và chủ yếu vì mục tiêu lợi nhuận, hợp tác xã còn luôn hướng đến việc phát huy sức mạnh tập thể của từng xã viên, cùng giúp nhau thực hiện có hiệu quả hoạt động sản xuất, kinh doanh [6]. Mặc dù tồn tại với những lý lẽ khá thuyết phục, quan điểm thứ nhất về tư cách doanh nghiệp của hợp tác xã cũng không được ghi nhận trong luật.
8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.