Chương I: Thanh niên và lối sống thanh niên: Cơ sở lý luận, phương pháp nghiên cứu và cách tiếp cận; Chương II: Tình hình thanh niên Việt Nam hiện nay; Chương III: Xu hướng biến đổi lối sống chủ yếu của thanh niên Việt Nam trong những năm đầu thế kỷ XXI; Chương IV: Những nhân tố tác động, định hướng và giải pháp nhằm xây dựng lối sống của thanh niên Việt Nam trong những thập kỷ tới. 17 - Nguyễn Hải Hữu, “Một số vấn đề về phát triển nguồn nhân lực ở Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào” [39]. Cuốn sách đã nêu quan điểm về phát triển nguồn nhân lực ở CHDCND Lào; nhấn mạnh những thay đổi cơ bản về nhận thức và tư duy đối với phát triển nguồn nhân lực trong thời kỳ đổi mới (1986 - 2009). Bài viết nhấn mạnh công cuộc đổi mới ở CHDCND Lào đã đạt được những thành tựu rất to lớn, góp phần đưa đất nước Lào đi nhanh hơn vào quá trình CNH, HĐH nhưng gặp không ít khó khăn, thách thức, nhất là vấn đề phát triển nguồn nhân lực.
Lực lượng lao động qua đào tạo nghề còn thấp chưa đáp ứng được nhu cầu phát triển của nền kinh tế, là lực cản đối với sự phát triển. Tác giả nhấn mạnh để quá trình CNH, HĐH được đẩy mạnh và phát triển thì nguồn nhân lực nói chung và NLTN nói riêng ở CHDCND Lào cần được chú trọng phát triển hơn. NHỮNG CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN GIẢI PHÁP PHÁT HUY NGUỒN NHÂN LỰC VÀ NGUỒN LỰC THANH NIÊN TRONG QUÁ TRÌNH CÔNG NGHIỆP HÓA, HIỆN ĐẠI HÓA - Phạm Văn Mợi, “Giải pháp phát triển nhân lực khoa học và công nghệ ở Hải Phòng phục vụ công nghiệp hóa, hiện đại hóa” [55]. Luận án có 4 chương, gồm các nội dung: Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận án.
Cơ sở lý luận và thực tiễn về phát triển nhân lực khoa học và công nghệ phục vụ CNH, HĐH. Thực trạng phát triển nhân lực khoa học và công nghệ ở thành phố Hải Phòng. Quan điểm, mục tiêu và những giải pháp chủ yếu phát triển nhân lực khoa học và công nghệ ở Hải Phòng phục vụ CNH, HĐH đến năm 2020. Tác giả đã tham khảo và tiếp thu tư tưởng của tác giả Phạm Văn Mợi liên quan tới luận án như khái niệm nhân lực khoa học- công nghệ, cơ sở lý luận, thực tiễn và quan điểm, mục tiêu, giải pháp chủ yếu phát triển nhân lực khoa học - công nghệ phục vụ sự nghiệp CNH, HĐH.
18 - Vũ Thị Phương Mai, “Phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao qua thực tiễn công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở một số nước” [52]. Tác giả đã nêu rõ kinh nghiệm phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao ở một số nước như Mỹ, Nhật, trong đó có cả các nước công nghiệp hóa mới Đông Á. - Lê Văn Phục, “Kinh nghiệm phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao của một số nước trên thế giới” [64]. Bài viết đã trình bày kinh nghiệm phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao của các nước trên thế giới: Singapo, Đài Loan, Nhật Bản, Hàn Quốc, Mỹ và các nước Tây Âu.
Các quốc gia đều coi trọng, phát triển nền giáo dục - đào tạo, và chú ý đến chính sách thu hút sử dụng nhân tài. Sau đó đã đề ra một số ý kiến tham khảo cho Việt Nam. - Trần Văn Tùng, “Đào tạo, bồi dưỡng và sử dụng nguồn nhân lực tài năng - kinh nghiệm của thế giới” [81]. Nội dung của cuốn sách này bàn về kinh nghiệm phát triển, đào tạo và sử dụng tài năng khoa học - công nghệ, sản xuất kinh doanh, quản lý của Mỹ và một số nước châu Âu, châu Á; chính sách đào tạo, bồi dưỡng và sử dụng nguồn nhân lực tài năng hiện có của Việt Nam trong quá trình CNH, HĐH.
- Tăng Minh Lộc, “Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực nông thôn” [49]. Tác giả khẳng định, hiện nay nông nghiệp, nông thôn ở Việt Nam còn nhiều mảng yếu. Trong quá trình tác động của CNH, HĐH trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế, những mảng yếu đó càng bộc lộ rõ hơn và chỉ rõ một trong những mảng yếu đó là chất lượng nguồn nhân lực chưa đáp ứng được yêu cầu của sự phát triển. Từ đó tác giả đi sâu vào phân tích tìm ra nguyên nhân và đưa ra một số giải pháp để nâng cao chất lượng nguồn nhân lực ở nông thôn.
- Nguyễn Trọng Bảo, "Xây dựng đội ngũ cán bộ và cán bộ quản lý kinh doanh thời công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước" [5]. Đây là một trong những cuốn sách bước đầu đề cập đến xây dựng cán bộ lãnh đạo, quản lý nhằm nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, trong đó gắn với yêu cầu của việc nâng 19 cao chất lượng của đội ngũ cán bộ đáp ứng với yêu cầu của thời kỳ đổi mới, thực hiện công nghiệp hoá, hiện đại hóa đất nước ở Việt Nam. - Nguyễn Đình Cử, “Những giải pháp góp phần thực hiện đột phá: Phát triển tài nguyên con người nhằm thúc đẩy sự phát triển nhanh và bền vững ở nước Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào” [13]. Trong bài viết tác giả đã phân tích thực trạng chất lượng dân số, chất lượng nguồn nhân lực, nhằm làm rõ vì sao phát triển nguồn tài nguyên con người lại được lựa chọn là một trong những khâu đột phá ở nước CHDCND Lào.
Qua đó tác giả đưa ra một số kết luận về nguyên nhân dẫn đến chất lượng nguồn nhân lực chưa cao và đề xuất một số giải pháp góp phần thực hiện có hiệu quả khâu đột phá nói trên. - Trần Đình Hoan, "Đánh giá, quy hoạch, luân chuyển cán bộ lãnh đạo, quản lý thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước" [35]. Đây là kết quả nghiên cứu của đề tài khoa học, những vấn đề lý luận và thực tiễn về đánh giá, quy hoạch, luân chuyển cán bộ lãnh đạo, quản lý trong thời kỳ CNH, HĐH đất nước ở Việt Nam hiện nay. Cuốn sách gồm các nội dung cơ bản như: Trình bày những vấn đề lý luận về đánh giá, quy hoạch, luân chuyển cán bộ lãnh đạo, quản lý trong sự nghiệp CNH, HĐH đất nước; Bàn về quá trình thực hiện công tác đánh giá, quy hoạch, luân chuyển cán bộ trong thời gian qua và tình hình hiện nay; Quan điểm và giải pháp đổi mới nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác đánh giá, quy hoạch, luân chuyển cán bộ lãnh đạo, quản lý ở Việt Nam hiện nay.
Cuốn sách khẳng định, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam do Chủ tịch Hồ Chí Minh sáng lập và rèn luyện gần 80 năm qua, cách mạng Việt Nam đã giành được nhiều thắng lợi vẻ vang. Từ một nước nô lệ, Việt Nam đã trở thành một quốc gia dân tộc, là ngọn cờ tiên phong trong phong trào giải phóng dân tộc. Trong hơn hai mươi năm qua, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam công cuộc đổi mới đã giành được nhiều thành tựu to lớn và quan 20 trọng, đã tạo điều kiện và cơ sở vững chắc cho quá trình phát triển đất nước trong những năm tiếp theo. Sự nghiệp đổi mới đã có những thành công đó là nhờ có đường lối, chủ trương, chính sách đúng đắn, do Hồ Chí Minh và Đảng Cộng sản Việt Nam đã dày công xây dựng đội ngũ cán bộ, công nhân viên chức đáp ứng những yêu cầu và nhiệm vụ của mỗi giai đoạn cách mạng.
Quan điểm của Hồ Chí Minh cho rằng, cán bộ là cái gốc của mọi công việc, mọi việc sẽ thành công hay thất bại đều do cán bộ tốt hay kém. Quan điểm này từ trước đến nay luôn được Đảng Cộng sản Việt Nam quán triệt và thực hiện. Đây là một đề tài còn khá mới mẻ đề cập đến một số khâu trong công tác cán bộ, đặc biệt là khâu đánh giá, quy hoạch, luân chuyển cán bộ lãnh đạo, quản lý trong thời kỳ CNH, HĐH đất nước nói chung, trong điều kiện đổi mới và hòa nhập kinh tế quốc tế ở Việt Nam hiện nay nói riêng. Cuốn sách còn là một tài liệu bổ ích cho chính luận án, làm cơ sở cho việc phát huy NLTN trong quá trình CNH, HĐH, chủ yếu là các khâu quy hoạch, đánh giá, luân chuyển các bộ trong điều kiện hiện nay ở Lào.
- Ban Tổ chức Trung ương Đảng, “Công tác phát triển nguồn nhân lực đối với 8 tỉnh miền Bắc và 9 tỉnh miền Trung, Nam nước Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào” [86]. Đề tài do Ban tổ chức Trung ương Đảng làm chủ nhiệm thuộc Chương trình Khoa học Công nghệ cấp Nhà nước thời kỳ từ năm 2005 - 2008. Đề tài nghiên cứu thực trạng nguồn nhân lực của CHDCND Lào, đề xuất các quan điểm, chính sách và giải pháp phát triển nguồn nhân lực. Trong đó chỉ rõ giáo dục đào tạo có vai trò quyết định trong quá trình phát triển nguồn nhân lực của Lào.
Đề tài đề xuất chính sách nhằm phát triển nguồn nhân lực trong thời kỳ từ năm 2008 - 2009. Trong đó vấn đề chung là chính sách phát triển con người toàn diện, có lòng yêu nước, yêu chế độ dân chủ nhân dân, yêu CNXH; đưa ra kiến nghị và giải pháp nhằm nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, đầu tư nhiều hơn vào giáo dục - đào tạo để nâng cao chất lượng các bậc học; đảm bảo dịch 21 vụ y tế và bảo hiểm xã hội cho nhân dân các dân tộc Lào, đặc biệt là những người nghèo và gia đình khó khăn; đầu tư nhiều hơn nữa xây dựng các trường trung học chuyên nghiệp trên cả nước và đào tạo nghề cho người lao động. - Sổmphavăn Xútthiphông, "Nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ tòa án nhân dân Thủ đô Viêng Chăn" [120]. Luận văn trình bày một số khái niệm về cán bộ và chất lượng đội ngũ cán bộ tòa án nhân dân; trình bày vị trí, vai trò, tầm quan trọng của việc nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ tòa án nhân dân Thủ đô Viêng Chăn; nêu những quan điểm của Đảng NDCM Lào, chính sách của Nhà nước Lào về việc nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ tòa án nhân dân Thủ đô Viêng Chăn; nêu một số nội dung, hình thức trong việc nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ tòa án nhân dân Thủ đô Viêng Chăn; nêu ra những kinh nghiệm của tỉnh Chăm Pa Sắc và Việt Nam về việc nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ tòa án nhân dân; khái quát đặc điểm chính trị, KT-XH của Thủ đô Viêng Chăn; phân tích thực trạng của đội ngũ cán bộ tòa án nhân dân Thủ đô Viêng Chăn.