Tổng quan luận án
Hoạt động cho thuê tài chính nói chung và cho thuê tài chính theo hình thức hợp đồng bán và thuê lại nói riêng là một phương thức tài trợ vốn trung và dài hạn quan trọng đối với các chủ thể kinh doanh trong nền kinh tế thị trường. Tại Việt Nam, theo số liệu tổng điều tra kinh tế năm 2017 của Tổng cục Thống kê, số lượng doanh nghiệp lớn chỉ chiếm 1,9% tổng số doanh nghiệp, trong khi khối doanh nghiệp nhỏ, vừa và siêu nhỏ chiếm tới 98,1%. Tuy chiếm tỷ trọng áp đảo, nhóm doanh nghiệp này gặp nhiều rào cản trong việc tiếp cận nguồn vốn tín dụng ngân hàng do hạn chế về vốn tự có, hệ số tín nhiệm thanh khoản chưa cao và thiếu tài sản bảo đảm truyền thống. Thực tế cho thấy chỉ có khoảng 30% doanh nghiệp nhỏ và vừa tiếp cận được nguồn vốn vay ngân hàng, với quy mô tín dụng khiêm tốn, chỉ chiếm khoảng 3% tổng dư nợ cho vay của hệ thống ngân hàng đối với nền kinh tế.
Trước thực trạng thiếu hụt vốn của cộng đồng doanh nghiệp, hình thức bán và thuê lại (sale and leaseback) mở ra giải pháp huy động vốn thông qua việc chuyển hóa tài sản cố định thành vốn lưu động mà không làm gián đoạn quá trình vận hành, khai thác máy móc thiết bị. Dù đã được ghi nhận trong hệ thống pháp luật Việt Nam từ năm 2001, hoạt động cho thuê tài chính theo hình thức bán và thuê lại trên thực tế phát triển rất chậm chạp, số lượng công ty cho thuê tài chính ít ỏi và phần lớn rơi vào tình trạng hoạt động kém hiệu quả, thua lỗ kéo dài. Nguyên nhân chủ yếu xuất phát từ sự thiếu hụt một hệ thống lý luận pháp lý đồng bộ và những bất cập, vướng mắc trong các quy định pháp luật thực định. Do đó, luận án tiến sĩ luật học của tác giả Ngô Thanh Hương với đề tài "Pháp luật Việt Nam về cho thuê tài chính theo hình thức hợp đồng bán và thuê lại" (chuyên ngành Luật Kinh tế, mã số 62 38 01 07, bảo vệ tại Khoa Luật - Đại học Quốc gia Hà Nội năm 2017 dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS.TS Ngô Huy Cương) đã tập trung giải quyết khoảng trống lý luận và thực tiễn này.
| Chỉ số kinh tế - thực tiễn tiếp cận vốn (Nguồn: Luận án dẫn theo TCTK 2017) |
Giá trị thống kê |
| Tỷ lệ doanh nghiệp lớn trong nền kinh tế |
1,9% |
| Tỷ lệ doanh nghiệp nhỏ, vừa và siêu nhỏ (SMEs) |
Khoảng 98% |
| Tỷ lệ doanh nghiệp nhỏ và vừa tiếp cận được vốn vay ngân hàng |
30% |
| Tỷ trọng vốn vay của nhóm SMEs trên tổng vốn ngân hàng cho vay |
3% |
Mục đích nghiên cứu của luận án là xây dựng mô hình lý luận bao quát, hệ thống và chuyên sâu về thuê hoặc cho thuê tài chính theo hình thức hợp đồng bán và thuê lại, từ đó làm sáng tỏ những vấn đề thực hiện pháp luật liên quan và đề xuất hệ thống giải pháp hoàn thiện khung pháp lý tại Việt Nam.
Để đạt được mục đích trên, luận án thực hiện ba nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể:
- Nghiên cứu những nền tảng lý luận và hệ thống lý luận về cho thuê tài chính theo hình thức hợp đồng bán và thuê lại;
- Phân tích, đánh giá thực trạng pháp luật và thực tiễn thực hiện, áp dụng pháp luật về cho thuê tài chính theo hình thức hợp đồng bán và thuê lại trên cơ sở mô hình lý luận đã xây dựng;
- Đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật về cho thuê tài chính theo hình thức hợp đồng bán và thuê lại ở Việt Nam.
Hệ thống câu hỏi và giả thuyết nghiên cứu được xác lập xuyên suốt công trình gồm:
- Câu hỏi nghiên cứu chung: Ở Việt Nam hiện nay đã xây dựng được một nền tảng lý luận về thuê hay cho thuê tài chính theo hình thức hợp đồng bán và thuê lại chưa? Những vấn đề lý luận tạo lập nên nền tảng đó là những gì, và chúng như thế nào? Pháp luật về thuê hay cho thuê tài chính theo hình thức hợp đồng bán và thuê lại ở Việt Nam hiện nay có xuất phát từ các nguyên lý khách quan hay nền tảng lý luận thực sự hay không, có đáp ứng được nhu cầu của xã hội không, có những ưu điểm và hạn chế gì, và nguyên nhân của những hạn chế đó là những gì? Các định hướng và giải pháp nào có thể giúp hoàn thiện pháp luật về lĩnh vực này phù hợp với các nguyên lý khách quan, nền tảng lý luận và đáp ứng nhu cầu thực tiễn của xã hội?
- Giả thuyết nghiên cứu chung: Ở Việt Nam vẫn chưa xây dựng được nền tảng lý luận hoàn chỉnh về thuê hay cho thuê tài chính theo hình thức hợp đồng bán và thuê lại. Do đó, pháp luật điều chỉnh về vấn đề này có nhiều bất cập, không đáp ứng được đầy đủ và tốt nhất cho các nhu cầu của thực tiễn xã hội. Hiện tại vẫn chưa có các định hướng và giải pháp thích hợp để hoàn thiện pháp luật về lĩnh vực này.
- Hệ thống câu hỏi và giả thuyết nghiên cứu cụ thể:
- Về mặt lý luận: Câu hỏi đặt ra là nền tảng lý luận của hợp đồng bán và thuê lại bao gồm những bộ phận cấu thành nào, nội dung chủ yếu, tính logic, tính hệ thống và xuất phát điểm của hệ thống lý luận đó ra sao? Giả thuyết tương ứng là giới nghiên cứu tại Việt Nam chưa nhìn nhận đầy đủ về các thành tố của nền tảng lý luận, chưa làm rõ nội dung cấu thành cũng như tính logic, hệ thống và xuất phát điểm của nó.
- Về thực trạng pháp luật: Câu hỏi đặt ra là môi trường pháp lý hiện tại có bảo đảm cho sự phát triển của loại hình hợp đồng bán và thuê lại hay không, những vướng mắc và nguyên nhân của những bất cập đó là gì? Giả thuyết tương ứng là môi trường pháp lý của Việt Nam hiện nay chưa thực sự phù hợp cho việc sử dụng và phát triển hợp đồng bán và thuê lại, mà nguyên nhân trọng tâm là thiếu vắng nền tảng lý luận pháp luật vững chắc.
- Về giải pháp hoàn thiện: Câu hỏi đặt ra là tại sao cần thiết phải hoàn thiện chế định pháp luật hợp đồng bán và thuê lại, việc hoàn thiện cần theo định hướng nào và gồm những giải pháp cụ thể gì? Giả thuyết tương ứng là hoàn thiện chế định này là nhu cầu cấp thiết nhằm tài trợ vốn cho doanh nghiệp; định hướng và giải pháp phải dựa trên nguyên lý khách quan, bảo đảm tính đồng bộ với các chế định pháp luật khác và tương thích với thực tiễn xã hội Việt Nam.
Đối tượng nghiên cứu của luận án là những vấn đề lý luận pháp luật, các quy tắc pháp lý xuất phát từ các nguồn của pháp luật (văn bản quy phạm pháp luật, tập quán pháp, tiền lệ pháp, học thuyết pháp lý) và thực tiễn thi hành pháp luật thông qua hợp đồng, bản án, quyết định giải quyết tranh chấp liên quan đến hoạt động cho thuê tài chính theo hình thức hợp đồng bán và thuê lại. Về phạm vi, công trình tiếp cận đối tượng dưới góc độ pháp lý, chỉ đề cập đến các khía cạnh kinh tế, tài chính và kế toán ở mức độ cần thiết nhằm làm sáng tỏ các quan hệ pháp luật. Về không gian, luận án tập trung vào pháp luật Việt Nam, đồng thời đối chiếu có chọn lọc với kinh nghiệm pháp luật của một số quốc gia thuộc hệ thống Civil Law và Common Law. Về thời gian, luận án khảo cứu tiến trình lập pháp và thực tiễn áp dụng từ khi hoạt động này bắt đầu được ghi nhận tại Việt Nam đến năm 2017.
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Tổng quan tài liệu trong luận án được phân loại theo bốn nhóm vấn đề chính, bao quát các công trình nghiên cứu trong nước và quốc tế:
Nhóm nghiên cứu lý luận chung về cho thuê tài chính:
- Tại Việt Nam, thuật ngữ ban đầu được ghi nhận là "tín dụng thuê mua" trong Pháp lệnh ngân hàng, hợp tác xã tín dụng và công ty cho thuê tài chính năm 1990 và Quyết định số 149/QĐ-NH5, trước khi Nghị định số 64/CP năm 1995 chính thức sử dụng thuật ngữ "cho thuê tài chính".
- Về khái niệm và bản chất, công trình của Hồ Diệu (1995) xây dựng khái niệm thông qua các đặc tính hoạt động và chỉ ra tính chất tín dụng trung, dài hạn của thuê mua; Nguyễn Thị Ánh Vân (2014) trong Giáo trình Luật ngân hàng Việt Nam tiếp cận theo bản chất cấp tín dụng trung và dài hạn bằng tài sản; Nguyễn Mạnh Bách (1997) nhìn nhận cho thuê tài chính là việc cho thuê kèm theo lời hứa bán; Trần Vũ Hải (2007) nhấn mạnh tính chất không hủy ngang và sự chuyển giao hầu hết quyền năng chủ sở hữu cho bên thuê.
- Về vai trò kinh tế, Nguyễn Minh Kiều (2011) trong Tài chính doanh nghiệp căn bản và Tín dụng và thẩm định tín dụng ngân hàng phân tích các lợi ích về thuế, tính linh hoạt và giảm thiểu rủi ro sở hữu; Lê Văn Tề và Huỳnh Thị Hương Thảo chỉ ra tác động đến thị trường tài chính; Võ Thành Tống (2009) phân tích toàn diện ý nghĩa đối với bên thuê, bên cho thuê và nền kinh tế.
- Về vị trí chế định và kết cấu giao dịch, Nguyễn Văn Dũng (2002) xếp cho thuê tài chính vào pháp luật ngân hàng; Trần Tô Tử và Nguyễn Hải Sản (1996) chỉ ra tính đa dạng trong việc xếp đặt chế định này ở luật thương mại, thuế, ngân hàng tại các nước; Doãn Hồng Nhung (2006) đưa ra các tiêu chí phân loại hợp đồng; Ngô Huy Cương trong tập bài giảng Thuê (Leasing) mô hình hóa ba công đoạn của giao dịch cho thuê tài chính chuẩn mực.
Nhóm nghiên cứu về hợp đồng bán và thuê lại:
- Về khái niệm và nghiệp vụ, các công trình của Trần Đức Trung (2014), Giáo trình Tín dụng ngân hàng của Học viện Ngân hàng (2014), Doãn Hồng Nhung (2009), tài liệu của VCCI (2010) đã phân tích các đặc trưng chủ thể, đối tượng và sự dịch chuyển quyền tài sản. Về mặt kinh tế, bán và thuê lại giúp tái tạo vốn lưu động và xử lý nợ tồn đọng (Trần Tô Tử và Nguyễn Hải Sản, 1996). Doãn Hồng Nhung (2003) phân tích khía cạnh rủi ro hợp đồng.
- Về lý luận hợp đồng, chủ thể và hiệu lực, Ngô Huy Cương (2013) trong giáo trình Luật hợp đồng - Phần chung cung cấp nền tảng lý thuyết cốt lõi; Doãn Hồng Nhung (2002, 2009) và Phùng Bá Đáng (2015) nghiên cứu vấn đề đăng ký tài sản và hợp đồng cho thuê tài chính; Lê Thị Thu Thủy (2016), Lê Minh Hùng (2010), Lê Bích Thọ (2004) cung cấp cơ sở lý luận về giao dịch bảo đảm và điều kiện hiệu lực hợp đồng.
Nhóm nghiên cứu thực trạng và giải pháp lập pháp:
- Các nghiên cứu của Đoàn Thanh Hà (2003), Tống Thiện Phước (2006), Trần Vũ Hải (2007), Đặng Văn Dân (2016), Phạm Thị Vân Huyền (2013), Đào Thị Hồ Hương (2014), Ngô Thị Thu Hà và Phan Đăng Hải (2015), Hoàng Thị Thanh Hằng (2012) đã chỉ ra hàng loạt bất cập: thiếu quy định thu hồi tài sản, định giá bán tài sản nhà nước phức tạp, phạm vi tài sản cho thuê đơn điệu, cơ chế xử lý tài sản khi có vi phạm hợp đồng chưa thông suốt, ngân hàng thương mại bị hạn chế cung cấp dịch vụ trực tiếp, và đề xuất hoàn thiện khuôn khổ pháp lý.
Nhóm nghiên cứu quốc tế:
- Các công trình tiêu biểu gồm: David Wainman (1995) với tác phẩm kinh điển Leasing; cẩm nang hướng dẫn của IFC/World Bank Group do Matthew Fletcher và cộng sự (2005) biên soạn; tài liệu hướng dẫn của Trung tâm Thông tin Pháp luật Dân sự Nhật Bản (1989); sổ tay Lease Financing của Cơ quan Kiểm soát Tiền tệ Hoa Kỳ (OCC, 2014); giáo trình Commercial Law của Roy Goode (1995); luận án tiến sĩ của Guojin Liu (2010) tại Đại học Birmingham; nghiên cứu của Kinoshita Masatoshi (2014) tại Nhật Bản; sách chuyên khảo về bán và thuê lại của Shawn D. Halladay và Sudhir P. Amembal (1995), Lewis R. Kaster (1979); hướng dẫn lập pháp về giao dịch bảo đảm của UNCITRAL (2006); cùng các bài viết học thuật của Stephan L. Hodge, Miller Jr., Kanda Tomohiro.
Khoảng trống nghiên cứu được luận án nhận diện: Các công trình trong nước chủ yếu tiếp cận hoạt động cho thuê tài chính dưới góc độ tài chính, kinh tế hoặc khái quát chung về hợp đồng thuê mua; chưa có công trình nào nghiên cứu toàn diện, chuyên sâu dưới góc độ khoa học pháp lý về riêng hình thức hợp đồng bán và thuê lại. Các vấn đề mấu chốt như bản chất hành vi thương mại của bán và thuê lại, cấu trúc hợp đồng hai bên (loại bỏ nhà cung cấp độc lập), đăng ký đối kháng bên thứ ba, xử lý tài sản khi bên cho thuê phá sản hoặc khi tài sản là vật chứng hình sự, áp dụng biện pháp bảo đảm và định hướng xây dựng một đạo luật độc lập về cho thuê tài chính vẫn chưa được giải quyết một cách thấu đáo.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Luận án xây dựng nội dung dựa trên 8 cơ sở lý thuyết khoa học:
- Học thuyết về tự do ý chí;
- Lý thuyết về hợp đồng;
- Lý thuyết về hành vi thương mại;
- Lý thuyết về tín dụng;
- Lý thuyết về cho thuê;
- Lý thuyết về tài trợ doanh nghiệp;
- Lý thuyết về biện pháp bảo đảm;
- Lý thuyết về quản lý rủi ro và bảo đảm an toàn của hệ thống tài chính tiền tệ quốc gia.
Về khung khái niệm, tác giả luận án xác định bản chất kép của giao dịch: Về phương diện kinh tế, cho thuê tài chính là phương thức tài trợ đầu tư trung và dài hạn bằng tài sản; về phương diện pháp lý, đây là một hành vi thương mại bình đẳng giữa các thương nhân tìm kiếm lợi nhuận, được điều chỉnh bởi pháp luật hợp đồng nhưng gắn liền với quy chế tín dụng. Tác giả luận án đúc kết định nghĩa khoa học:
Cho thuê tài chính là một loại hợp đồng mà theo đó bên cho thuê mua tài sản theo yêu cầu của bên thuê, nắm giữ quyền sở hữu pháp lý tài sản và chuyển giao quyền chiếm hữu và quyền sử dụng cho bên thuê trong một thời hạn nhất định kéo dài phần lớn thọ mệnh hay đời sống hữu dụng của tài sản thuê và hưởng tiền thuê do bên thuê chi trả. Trong thời hạn thuê, bên thuê thực hiện bảo trì tài sản, chịu các chi phí liên quan và gánh chịu mọi rủi ro đối với tài sản thuê; khi hết hạn hợp đồng, bên thuê có quyền chọn mua hoặc tiếp tục thuê tài sản.
Phương pháp nghiên cứu được luận án sử dụng là phương pháp nghiên cứu định tính đặc thù của khoa học luật học kết hợp khoa học xã hội, gồm 8 phương pháp cụ thể:
- Phương pháp mô tả: Sử dụng để mô tả các quy định thực định, điều khoản luật mẫu, bản án và vụ việc tranh chấp nhằm tái hiện thực trạng pháp luật và thực tiễn áp dụng;
- Phương pháp phân tích và tổng hợp: Xử lý các quy tắc pháp lý và số liệu thực tiễn để tìm ra tính chất phổ biến và đặc thù của quan hệ hợp đồng bán và thuê lại;
- Phương pháp phân loại và hệ thống hóa: Nhóm các vấn đề lý luận và thực tiễn theo các tiêu chí đồng nhất, đặt trong chỉnh thể hệ thống pháp luật hợp đồng thương mại;
- Phương pháp trừu tượng hóa: Gạt bỏ các yếu tố ngẫu nhiên để xác định bản chất pháp lý của giao dịch bán và thuê lại;
- Phương pháp phân tích lịch sử: Khảo cứu quá trình hình thành từ khái niệm "tín dụng thuê mua" (1990) đến "cho thuê tài chính" hiện hành, cùng lịch sử phát triển của ngành leasing trên thế giới;
- Phương pháp giả thuyết: Đưa ra các luận điểm khoa học nhằm chứng minh các bất cập và cơ sở hoàn thiện quy định pháp luật;
- Phương pháp thống kê: Sắp xếp, đối chiếu số liệu về cơ cấu doanh nghiệp, tỷ lệ tiếp cận tín dụng để làm rõ cơ sở kinh tế - xã hội của đề tài;
- Phương pháp so sánh pháp luật: Khảo cứu kinh nghiệm lập pháp quốc tế (Bộ luật Thương mại nhất thể Hoa Kỳ - UCC Điều 2A, Luật mẫu UNIDROIT, pháp luật Nhật Bản, Trung Quốc, Nga, Serbia) để rút ra bài học cho Việt Nam.
Nguồn tư liệu và dữ liệu của luận án bao gồm: Hệ thống văn bản quy phạm pháp luật Việt Nam (Luật Các tổ chức tín dụng, Bộ luật Dân sự, Luật Thương mại và các văn bản dưới luật); các điều ước quốc tế và luật mẫu; các tài liệu thống kê chính thức của Tổng cục Thống kê; hồ sơ án lệ, bản án của Tòa án nhân dân và phán quyết của Trọng tài thương mại.
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu đề tài
Chương 1 xác định ba tiền đề nghiên cứu: (i) cho thuê tài chính theo hình thức bán và thuê lại là hành vi pháp lý mang tính liên ngành (pháp luật, tài chính, kế toán); (ii) dưới góc độ kinh tế là công cụ tài trợ tín dụng, dưới góc độ pháp lý là hợp đồng thương mại; (iii) sự khác biệt trong kỹ thuật lập pháp giữa các quốc gia.
Chương này phân loại nội dung nghiên cứu thành bốn nhóm vấn đề lớn: lý luận chung về thuê tài chính; lý luận chung về bán và thuê lại; thực trạng pháp luật Việt Nam; và các định hướng, giải pháp hoàn thiện. Trên cơ sở rà soát toàn diện các công trình trong và ngoài nước, tác giả xác định các thành tựu kế thừa, chỉ ra khoảng trống nghiên cứu, thiết lập hệ thống 8 cơ sở lý thuyết, xây dựng hệ thống câu hỏi, giả thuyết nghiên cứu và luận giải phương pháp luận nghiên cứu định tính được triển khai trong luận án.
Chương 2: Lý luận pháp luật về cho thuê tài chính theo hình thức hợp đồng bán và thuê lại
Chương 2 tập trung phân tích có hệ thống các vấn đề lý luận nền tảng:
- Lý luận tổng quát: Khảo cứu định nghĩa cho thuê tài chính trong pháp luật quốc tế. Điều 2A-103(1) UCC của Hoa Kỳ tách bên cho thuê khỏi trách nhiệm lựa chọn thiết bị và cung cấp hàng hóa, chuyển các cam kết bảo hành của nhà cung cấp sang cho bên thuê; Luật mẫu UNIDROIT và pháp luật các nước (Nga, Trung Quốc, Serbia) đều nhấn mạnh yếu tố bên thuê tự chọn tài sản và nhà cung cấp, còn bên cho thuê giữ quyền sở hữu pháp lý nhằm bảo đảm thu hồi vốn.
- Bản chất pháp lý hỗn hợp: Cho thuê tài chính vừa mang tính chất của hợp đồng cho thuê tài sản (tách rời quyền sở hữu pháp lý của bên cho thuê và quyền chiếm hữu, sử dụng của bên thuê), vừa mang tính chất của giao dịch tín dụng trung và dài hạn (hoàn trả dần vốn gốc đầu tư cộng lãi suất thông qua tiền thuê; thời hạn thuê chiếm trên 70% đời sống hữu dụng của tài sản).
- Sáu đặc điểm pháp lý cốt lõi của cho thuê tài chính:
- Hợp đồng không thể hủy ngang trong thời hạn thuê cơ bản;
- Bên thuê bị ràng buộc nghĩa vụ trả tiền thuê định kỳ;
- Tiền thuê được tính toán nhằm hoàn trả toàn bộ hoặc phần lớn giá trị tài sản cộng chi phí quản lý và lợi nhuận định mức của bên cho thuê (không bị tiêu trừ khi tài sản hư hỏng);
- Bên thuê có quyền chọn mua tài sản với giá danh nghĩa hoặc tiếp tục thuê khi mãn hạn hợp đồng;
- Nghĩa vụ bảo trì, sửa chữa tài sản thuộc về bên thuê;
- Bên thuê gánh chịu mọi rủi ro về mất mát, hư hỏng đối với tài sản thuê.
- Đặc thù của hợp đồng bán và thuê lại: Điểm khác biệt mấu chốt so với quan hệ cho thuê tài chính ba bên thông thường là việc loại bỏ khâu trung gian của người cung cấp độc lập. Giao dịch được xác lập giữa hai chủ thể: bên thuê vốn là chủ sở hữu ban đầu của tài sản, bán tài sản cho bên cho thuê để nhận vốn, sau đó thuê lại chính tài sản đó để tiếp tục sử dụng phục vụ hoạt động sản xuất kinh doanh.
- Giao kết, hiệu lực, chấm dứt và giải quyết tranh chấp: Phân tích điều kiện chủ thể, đối tượng, thỏa thuận định giá mua lại tài sản, thời điểm chuyển quyền sở hữu; luận giải bản chất của việc đăng ký giao dịch là nhằm xác lập hiệu lực đối kháng với người thứ ba chứ không phải điều kiện làm phát sinh hiệu lực của hợp đồng; phân tích hậu quả pháp lý khi chấm dứt hợp đồng trước hạn do bên thuê vi phạm nghĩa vụ thanh toán và quyền thu hồi tài sản của bên cho thuê.
Chương 3: Thực trạng pháp luật Việt Nam về cho thuê tài chính theo hình thức hợp đồng bán và thuê lại
Chương 3 đi sâu đánh giá các quy định thực định và thực tiễn xét xử:
- Tổng quan hệ thống văn bản: Quá trình điều chỉnh từ Nghị định 64/CP (1995), Nghị định 16/2001/NĐ-CP, Nghị định 65/2004/NĐ-CP, Nghị định 95/2008/NĐ-CP đến Luật Các tổ chức tín dụng năm 2010 và các thông tư hướng dẫn của Ngân hàng Nhà nước. Chế định cho thuê tài chính hiện bị đóng khung như một hoạt động ngân hàng mang tính chuyên ngành, chủ yếu do công ty cho thuê tài chính trực thuộc ngân hàng hoặc tổ chức tín dụng phi ngân hàng thực hiện.
- Những bất cập chủ yếu của pháp luật thực định:
- Về chủ thể: Quy định pháp luật không cho phép các ngân hàng thương mại trực tiếp thực hiện hoạt động cho thuê tài chính mà buộc phải thành lập công ty trực thuộc độc lập, làm triệt tiêu ưu thế về mạng lưới chi nhánh, nguồn vốn và nhân sự của ngân hàng.
- Về đối tượng tài sản: Phạm vi đối tượng tài sản cho thuê tài chính bị thu hẹp đáng kể (chủ yếu là máy móc, thiết bị, phương tiện vận tải), chưa mở rộng điều chỉnh đối với bất động sản và các loại tài sản khác theo nhu cầu thị trường.
- Về cơ chế đăng ký giao dịch: Quy định về đăng ký hợp đồng cho thuê tài chính và đăng ký tài sản còn chồng chéo, chưa minh định rõ ràng giữa đăng ký quyền sở hữu với đăng ký biện pháp bảo đảm/đối kháng bên thứ ba.
- Về thu hồi và xử lý tài sản vi phạm: Thủ tục thu hồi tài sản của bên cho thuê khi bên thuê vi phạm hợp đồng gặp nhiều trở ngại trên thực tế do thiếu cơ chế hỗ trợ từ cơ quan thi hành pháp luật, khiến việc thu hồi kéo dài và tài sản bị giảm sút giá trị.
- Áp dụng pháp luật qua thực tiễn giải quyết tranh chấp: Phân tích các bản án thực tế cho thấy cơ quan tiến hành tố tụng còn lúng túng khi xử lý tài sản cho thuê tài chính. Điển hình là:
- Khi tài sản cho thuê bị các cơ quan tiến hành tố tụng coi là vật chứng trong vụ án hình sự liên quan đến bên thuê, dẫn đến việc bên cho thuê không thể thu hồi tài sản dù là chủ sở hữu hợp pháp;
- Khi một trong các bên rơi vào tình trạng phá sản, quy chế xử lý tài sản chưa phân định rành mạch quyền sở hữu của bên cho thuê với khối tài sản phá sản của bên thuê;
- Việc áp dụng các biện pháp bảo đảm đi kèm hợp đồng bán và thuê lại còn bị Tòa án nhìn nhận thiếu thống nhất.
- Nguyên nhân của bất cập: Do nhận thức lý luận chưa tách bạch giữa giao dịch cấp tín dụng thuần túy và hành vi thương mại về tài sản; kỹ thuật lập pháp thiếu tính tổng thể; sự thiếu hiểu biết pháp luật của cộng đồng doanh nghiệp và nhận thức chưa chuẩn xác của một bộ phận cán bộ tư pháp.
Chương 4: Hoàn thiện pháp luật Việt Nam về cho thuê tài chính theo hình thức hợp đồng bán và thuê lại
Chương 4 thiết lập hệ thống định hướng và kiến nghị cụ thể:
- Sự cần thiết và cơ sở kinh tế - xã hội: Nhu cầu vốn khổng lồ của hơn 98% doanh nghiệp nhỏ và vừa trong nền kinh tế; yêu cầu tháo gỡ điểm nghẽn cho thị trường tài chính; đòi hỏi cấp bách của hội nhập kinh tế quốc tế và hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường.
- Định hướng giải pháp: Chuyển đổi tư duy lập pháp: tiếp cận cho thuê tài chính nói chung và bán và thuê lại nói riêng như một hành vi thương mại mang bản chất hợp đồng độc lập; bảo đảm nguyên tắc cân bằng quyền và lợi ích hợp pháp giữa bên cho thuê và bên thuê; hài hòa hóa với các chuẩn mực pháp luật quốc tế (UCC, UNIDROIT).
- Các nhóm kiến nghị cụ thể:
- Xây dựng đạo luật riêng: Tiến tới xây dựng Luật Cho thuê tài chính (hoặc Luật Thuê tài sản chuyên ngành) độc lập, tách chế định này ra khỏi sự lệ thuộc tuyệt đối vào Luật Các tổ chức tín dụng nhằm mở rộng phạm vi điều chỉnh;
- Mở rộng chủ thể và đối tượng: Cho phép các ngân hàng thương mại được trực tiếp cung cấp dịch vụ cho thuê tài chính; mở rộng danh mục tài sản cho thuê bao gồm bất động sản và các tài sản hợp pháp khác;
- Hoàn thiện quy chế đăng ký: Quy định việc đăng ký hợp đồng cho thuê tài chính theo hướng công khai hóa nhằm xác lập thứ tự ưu tiên thanh toán và hiệu lực đối kháng người thứ ba, không coi đăng ký là điều kiện phát sinh hiệu lực của hợp đồng;
- Quy định cơ chế thu hồi tài sản đặc thù: Thiết lập trình tự, thủ tục thu hồi tài sản nhanh chóng khi bên thuê vi phạm hợp đồng; phân định rõ quyền tài sản của bên cho thuê khi bên thuê phá sản;
- Quy định rõ ràng về xử lý tài sản là vật chứng hình sự: Bảo đảm quyền ưu tiên nhận lại tài sản của bên cho thuê tài chính nếu họ là bên thứ ba ngay tình và không liên quan đến hành vi phạm tội của bên thuê;
- Nhóm giải pháp tổ chức thi hành: Nâng cao năng lực chuyên môn của đội ngũ thẩm phán, kiểm sát viên và chấp hành viên trong giải quyết tranh chấp kinh doanh thương mại liên quan đến thuê tài chính; đẩy mạnh tuyên truyền phổ biến kiến thức pháp luật cho cộng đồng doanh nghiệp.
Kết quả và những đóng góp mới
Luận án xác lập 8 đóng góp mới nổi bật về phương diện khoa học pháp lý và thực tiễn:
- Hệ thống hóa toàn diện các lý thuyết về cho thuê tài chính theo hình thức hợp đồng bán và thuê lại (khái niệm, đặc điểm, pháp luật điều chỉnh, giao kết và thực hiện hợp đồng);
- Xây dựng cơ sở lý thuyết vững chắc cho việc mở rộng phạm vi chủ thể (cho phép ngân hàng thương mại trực tiếp cho thuê tài chính) và mở rộng đối tượng tài sản (bao gồm bất động sản);
- Luận giải sâu sắc về giá trị pháp lý và hậu quả pháp lý của việc đăng ký hợp đồng bán và thuê lại, xác định bản chất đăng ký là biện pháp đối kháng bên thứ ba;
- Xây dựng cơ sở lý luận về thu hồi, xử lý tài sản cho thuê trong các trường hợp đặc biệt: khi tài sản là vật chứng của vụ án hình sự hoặc khi một trong các bên giao kết hợp đồng bị tuyên bố phá sản;
- Luận giải khoa học về việc áp dụng các biện pháp bảo đảm trong giao dịch bán và thuê lại, làm sáng tỏ vai trò bảo đảm của quyền sở hữu và chứng minh sự bất cập của các quy định pháp luật thực định hiện hành;
- Đưa ra các luận cứ khoa học thực tiễn chứng minh sự cần thiết phải luật hóa các quy định về cho thuê tài chính trong một đạo luật chuyên ngành độc lập;
- Đánh giá tổng quát và khách quan thực tiễn áp dụng pháp luật Việt Nam thông qua phân tích, bình luận các bản án của Tòa án và phán quyết trọng tài thương mại;
- Đề xuất hệ thống giải pháp đồng bộ gồm cả lập pháp và tổ chức thi hành pháp luật nhằm bảo đảm khả năng thu hồi tài sản của bên cho thuê, khắc phục các khoảng trống pháp lý và thúc đẩy thị trường phát triển.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Về mặt hạn chế, luận án tập trung chủ yếu vào khía cạnh khoa học pháp lý thực định và lý luận pháp luật hợp đồng thương mại; các vấn đề thuộc phạm trù kinh tế học, định giá tài sản, quy chuẩn hạch toán kế toán quốc tế (như chuẩn mực IFRS về leasing) chỉ được đề cập ở mức độ bổ trợ để giải thích bản chất pháp lý. Bên cạnh đó, luận án không đi sâu vào chi tiết trình tự, thủ tục tố tụng tư pháp chung tại Tòa án mà chỉ tập trung vào các quy tắc nội dung liên quan trực tiếp đến tranh chấp bán và thuê lại. Các số liệu thực tiễn và văn bản khảo cứu dừng lại ở mốc thời điểm năm 2017.
Hướng nghiên cứu tiếp theo có thể mở rộng khảo cứu việc áp dụng công nghệ số, dữ liệu điện tử trong việc đăng ký giao dịch tài sản cho thuê tài chính; nghiên cứu sâu hơn về cơ chế giải quyết xung đột pháp luật đối với các giao dịch bán và thuê lại xuyên biên giới (cross-border leasing) trong bối cảnh các hiệp định thương mại tự do thế hệ mới; cũng như đánh giá tác động của các luật chuyên ngành sửa đổi (Luật Các tổ chức tín dụng, Luật Đất đai) đối với việc cho thuê tài chính tài sản là bất động sản.
Giá trị tham khảo
Luận án là tài liệu tham khảo có giá trị học thuật và thực tiễn đối với nhiều nhóm đối tượng:
- Cơ quan xây dựng pháp luật (Quốc hội, Ngân hàng Nhà nước, Bộ Tư pháp): Cung cấp luận cứ khoa học để hoàn thiện Luật Các tổ chức tín dụng, xây dựng văn bản quy phạm pháp luật riêng biệt về cho thuê tài chính, sửa đổi các quy định về đăng ký giao dịch bảo đảm và xử lý tài sản;
- Cơ quan tiến hành tố tụng (Thẩm phán, Kiểm sát viên, Trọng tài viên): Cung cấp góc nhìn pháp lý chuẩn xác về việc phân định quyền sở hữu, giải quyết tranh chấp hợp đồng, không làm đình trệ quyền sở hữu hợp pháp của bên cho thuê khi xử lý vật chứng vụ án hình sự hoặc vụ việc phá sản;
- Các tổ chức tín dụng, công ty cho thuê tài chính và ngân hàng thương mại: Hỗ trợ xây dựng quy trình thẩm định, soạn thảo hợp đồng bán và thuê lại chặt chẽ, nhận diện và phòng ngừa rủi ro pháp lý trong hoạt động cấp vốn;
- Cộng đồng doanh nghiệp, đặc biệt là doanh nghiệp nhỏ và vừa (SMEs): Hiểu rõ cơ chế bán và thuê lại như một giải pháp huy động vốn lưu động hợp pháp, linh hoạt và hiệu quả;
- Giảng viên, học viên cao học và nghiên cứu sinh: Sử dụng làm tài liệu tham khảo chuyên sâu trong giảng dạy và nghiên cứu môn Luật Hợp đồng, Luật Thương mại và Luật Ngân hàng.
Câu hỏi thường gặp
1. Hợp đồng bán và thuê lại khác biệt như thế nào so với giao dịch cho thuê tài chính ba bên thông thường?
Trong giao dịch cho thuê tài chính thông thường luôn có sự tham gia của ba chủ thể qua ba công đoạn: bên thuê, bên cho thuê và bên cung ứng tài sản độc lập. Bên cho thuê mua tài sản từ bên cung ứng theo chỉ định của bên thuê để cho thuê. Ngược lại, hợp đồng bán và thuê lại chỉ có hai bên chủ thể: bên thuê vốn là chủ sở hữu tài sản ban đầu, tiến hành bán tài sản của mình cho bên cho thuê để lấy vốn, sau đó thuê lại chính tài sản đó để vận hành. Khâu lựa chọn và đàm phán với nhà cung ứng độc lập bị triệt tiêu hoàn toàn.
2. Điểm khác biệt mấu chốt giữa cho thuê tài chính và cho vay tín dụng ngân hàng truyền thống là gì?
Trong cho vay truyền thống, ngân hàng cấp vốn bằng tiền và chuyển quyền sở hữu khoản tiền đó cho bên vay; bên vay phải thế chấp tài sản để bảo đảm và thường chỉ vay được 60-70% giá trị tài sản bảo đảm. Trong cho thuê tài chính, bên cho thuê cấp tín dụng bằng tài sản (chuyển giao quyền sử dụng), đồng thời nắm giữ quyền sở hữu tài sản trong suốt thời hạn thuê. Bên thuê được tài trợ tới 100% giá trị tài sản mà không cần thêm tài sản thế chấp khác, bởi quyền sở hữu của bên cho thuê đã đóng vai trò là biện pháp bảo đảm thu hồi vốn.
3. Tại sao bên thuê tài chính vẫn phải trả đủ tiền thuê ngay cả khi tài sản thuê bị mất mát, hư hỏng?
Cho thuê tài chính mang bản chất tín dụng trung và dài hạn và có đặc tính không thể hủy ngang. Do chính bên thuê là người lựa chọn tài sản và trực tiếp quản lý, sử dụng, bên cho thuê là định chế tài chính thuần túy cung cấp vốn nên được giải phóng khỏi các rủi ro vận hành. Số tiền thuê định kỳ thực chất là sự hoàn trả khoản vốn gốc đầu tư cộng với lãi định mức đã được xác định trước, chứ không đơn thuần là chi phí trả cho việc sử dụng tài sản như trong thuê hoạt động thông thường. Do đó, bên thuê chịu toàn bộ rủi ro về tài sản và vẫn phải thực hiện nghĩa vụ thanh toán đầy đủ theo hợp đồng.
4. Vì sao luận án kiến nghị cho phép ngân hàng thương mại trực tiếp cung ứng dịch vụ cho thuê tài chính?
Quy định hiện hành buộc các ngân hàng thương mại phải thành lập công ty cho thuê tài chính độc lập mới được cung ứng dịch vụ này. Điều đó gây lãng phí lớn về chi phí bộ máy và phân tán nguồn lực, đồng thời không tận dụng được mạng lưới chi nhánh sâu rộng, tiềm lực vốn dồi dào, hệ thống quản trị rủi ro chuyên nghiệp và tệp khách hàng sẵn có của các ngân hàng thương mại để thúc đẩy thị trường cho thuê tài chính phát triển.
5. Luận án đề xuất giải quyết thế nào đối với tài sản cho thuê khi bên thuê liên quan đến vụ án hình sự?
Thực tiễn xét xử thường coi tài sản cho thuê là vật chứng vụ án và tiến hành kê biên, tạm giữ, gây thiệt hại nghiêm trọng cho bên cho thuê. Luận án kiến nghị pháp luật tố tụng hình sự phải quy định rõ: nếu bên cho thuê là bên thứ ba ngay tình, sở hữu hợp pháp tài sản và không liên quan đến hành vi phạm tội của bên thuê thì cơ quan tố tụng phải tiến hành chụp ảnh, ghi nhận đặc điểm kỹ thuật để lưu hồ sơ vụ án và hoàn trả tài sản ngay cho bên cho thuê để họ bảo toàn và xử lý quyền sở hữu hợp pháp của mình.
Kết luận
Luận án tiến sĩ luật học của tác giả Ngô Thanh Hương là công trình nghiên cứu chuyên sâu, có hệ thống đầu tiên tại Việt Nam về pháp luật cho thuê tài chính theo hình thức hợp đồng bán và thuê lại. Luận án đã làm sáng tỏ bản chất kép giữa hành vi thương mại và công cụ tín dụng của loại hình hợp đồng này, chỉ ra các nguyên nhân lý luận và lập pháp dẫn đến sự kém phát triển của thị trường cho thuê tài chính trong nước. Bằng việc phân tích sâu sắc các bất cập thực tiễn về chủ thể, tài sản, đăng ký và thu hồi tài sản, công trình đã đề xuất hệ thống giải pháp lập pháp đồng bộ, trong đó nổi bật là kiến nghị xây dựng một đạo luật độc lập về cho thuê tài chính và hoàn thiện các quy chế tố tụng liên quan. Những kết quả nghiên cứu của luận án đóng góp cơ sở khoa học quan trọng cho việc hoàn thiện khung pháp lý kinh doanh, thúc đẩy đa dạng hóa các kênh cung ứng vốn cho cộng đồng doanh nghiệp tại Việt Nam.