Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ KIỂM SOÁT THU, CHI NGÂN SÁCH XÃ 1. Lý luận chung về kiểm soát 1. Khái niệm về kiểm soát Kiểm soát là một chức năng quan trọng của quản lý giúp các đơn vị đạt được các mục tiêu đề ra. Theo các tác giả Schoderbek, Cosier và Aplin (1988) [20]: “Kiểm soát là hoạt động đánh giá và chỉnh sửa những lệch lạc từ tiêu chuẩn”.
Kiểm soát do đó bao gồm các hoạt động: thiết lập tiêu chuẩn, đánh giá thực tế bằng cách so sánh thực tế với tiêu chuẩn, và chỉnh sửa những lệch lạc từ thực tế so với tiêu chuẩn đã xác lập. Cách thức này được áp dụng chung cho mọi hệ thống kiểm soát có thể là kiểm soát chất lượng, kiểm soát hành vi, kiểm soát lịch trình, kiểm soát sản phẩm hỏng, kiểm soát nhân sự, kiểm soát tốc độ, kiểm soát sản xuất…Về bản chất, kiểm soát là đo lường thực tế hoạt động so với tiêu chuẩn đã xác lập nhẳm mục tiêu điều chỉnh nếu cần Theo Harold Koontz (1993) [13]: “Kiểm soát là các biện pháp đo lường và khắc phục nhằm đảm bảo các mục tiêu và kế hoạch đã được hoàn thành”. Jone và George (2003) [19] cho rằng: “Kiểm soát là quá trình nhà quản lý giám sát và điều tiết tính hiệu quả và hiệu lực của một số tổ chức và các thành viên trong việc thực hiện các hoạt động nhằm đạt được mục tiêu của tổ chức”. Nguyễn Quang Quynh (2017) [10] cho rằng: “Kiểm soát là tổng thể các phương sách để nắm lấy và điều hành các đối tượng hoặc khách thể quản lý.
Theo đó, kiểm soát được hiểu là cấp trên kiểm soát cấp dưới thông qua các biện pháp hoặc chính sách; đơn vị này kiểm soát đơn vị khác thông qua việc ảnh hưởng hoặc chi phối đáng kể dựa trên quyền lợi và lợi ích; nội bộ đơn vị kiểm soát lẫn nhau thông qua nội quy, quy chế”. 5 Từ các quan điểm trên có thể hiểu: “Kiểm soát là việc kiểm tra, soát xét lại việc thực hiện các quy định của pháp luật, nội quy của tổ chức nhằm phòng ngừa, phát hiện và xử lý kịp thời những rủi ro và thực hiện các mục tiêu, kế hoạch một cách có hiệu quả”. Vai trò của kiểm soát Kiểm soát có vai trò quan trọng trong công tác quản lý. Vai trò đó được thể hiện như sau: [4] [5] Thứ nhất, kiểm soát giúp ngăn chặn các sai phạm có thể xảy ra trong quá trình quản lý Kiểm soát là quá trình nhà quản lý kiểm tra, giám sát và điều tiết tính hiệu quả và hiệu lực của tổ chức và các thành viên trong việc thực hiện các hoạt động nhằm đạt được mục tiêu của tổ chức.
Một công việc nếu không có kiểm soát chắc chắn sẽ có nhiều sai sót hơn nếu được theo dõi, giám sát thường xuyên. Điều đó khẳng định kiểm soát là khâu sau cùng của chu trình quản lý (từ lập kế hoạch đến tổ chức lãnh đạo). Thông qua hoạt động kiểm soát, các tổ chức tiến hành đối chiếu với các quy định của pháp luật để đánh giá hành vi có phù hợp với quy định của pháp luật hay không đồng thời phát hiện và ngăn chặn các sai phạm có thể xảy ra từ đó điều chỉnh giúp tổ chức hoạt động tốt hơn. Thứ hai, kiểm soát nhằm đảm bảo thực thi quyền lực của nhà quản lý Quá trình kiểm soát cho phép nhà quản lý giám sát hoạt động đang diễn ra trong tổ chức, đặt nền tảng quan trọng cho quá trình ra quyết định.
Đây là chức năng quan trọng của nhà quản lý. Bên cạnh đó, trong quá trình quản lý ủy quyền cho cấp dưới luôn là vấn đề mà nhà quản lý lo lắng chính vì vậy nếu xây dựng được hệ thống kiểm soát có hiệu quả thì việc ủy quyền sẽ thuận lợi va hiệu quả hơn. Thứ ba, kiểm soát nhằm hoàn thiện các quyết định của nhà quản lý trong tổ chức 6 Kiểm soát có vai trò trong việc thẩm định tính phù hợp của đường lối, chiến lược, kế hoạch, tính tối ưu của cơ cấu tổ chức bộ máy quản lý, tính phù hợp của phương pháp quản lý mà nhà quản lý đã và đang sử dụng để tổ chức thực hiện được mục tiêu của mình. Chính vì vậy, kiểm soát nhằm hoàn thiện các quyết định của nhà quản lý trong tổ chức.
Thứ tư, kiểm soát tạo tiền đề cho quá trình hoàn thiện và đổi mới Với việc đánh giá các hoạt động, kiểm soát khẳng định những giá trị nào sẽ quyết định đến sự thành công của tổ chức. Những giá trị đó sẽ được tiêu chuẩn hóa để trở thành các mục tiêu, quy tắc, chuẩn mực cho hành vi của các thành viên trong hệ thống. Đồng thời kiểm soát giúp các nhà quản lý cải tiến lại mọi hoạt động của hệ thống thông qua việc xác định những vấn đề và cơ hội cho hệ thống như sáng kiến về sản phẩm, dịch vụ, đổi mới quy trình xử lý công việc… 1. Các loại kiểm soát Sự đa dạng trong đặc điểm của đối tượng và khách thể kiểm soát đòi hỏi chủ thể kiểm soát phải sử dụng liên kết nhiều loại kiểm soát với nhau nhằm đạt được kết quả tốt nhất.
Việc phân định giữa loại kiểm soát này với loại kiểm soát khác chỉ có tính chất tương đối và chỉ theo tiêu thức cụ thể. Có thể khái quát một số tiêu thức phân loại kiểm soát như sau: [4] * Theo mục đích kiểm soát Căn cứ vào mục đích kiếm soát bao gồm: Kiểm soát ngăn ngừa, kiểm soát phát hiện và kiểm soát điều chỉnh. Kiểm soát ngăn ngừa thường được thực hiện trước khi các hoạt động tác nghiệp xảy ra nhằm đề phòng nguy cơ gian lận và sai sót. Nội dung của kiểm soát ngăn ngừa thường tập trung chủ yếu vào công tác nhân sự, xây dựng các chính sách, thủ tục làm chuẩn mực để nhân viên có thể thực hiện các hoạt động đúng như nhà quản lý mong muốn.
Kiểm soát phát hiện được thực hiện với mục đích giúp cho nhà quản lý có thể nắm bắt được kịp thời những gian lận và sai sót đã xảy ra, từ đó có 7 những quyết định kịp thời và hợp lý để giải quyết những gian lận và sai sót. Quan trọng hơn, nhà quản lý có biện pháp đúng đắn để hạn chế tối thiểu những thiệt hại mà các gian lận, sai sót có thể ảnh hưởng đến kết quả chung của toàn đơn vị. Với ý nghĩa như vậy, thời điểm thực hiện loại kiểm soát này có thể là trong quá trình thực hiện các hoạt động tác nghiệp hoặc sau khi các hoạt động kết thúc. Kiểm soát điều chỉnh hướng đến việc nắm bắt và cung cấp thông tin cần thiết và kịp thời cho việc ra các quyết định xử lý các gian lận và sai sót đã phát hiện.
* Theo sự hiện diện của chủ thể thực hiện hoạt động kiểm soát Căn cứ vào tiêu thức này, kiểm soát bao gồm: Kiểm soát trực tiếp và kiểm soát gián tiếp. Kiểm soát trực tiếp là việc kiểm soát tại chỗ việc tuân thủ các quy định đã đặt ra. Kiểm soát trực tiếp đòi hỏi chủ thể thực hiện hoạt động kiểm soát phải tiến hành quan sát, kiểm tra trực tiếp hoạt động nhằm đánh giá sự tuân thủ các quy định Kiểm soát gián tiếp được thực hiện dựa trên cơ sở hệ thống báo cáo của các bộ phận trong một tổ chức. Khi phát hiện có những vấn đề bất thường hoặc không mong muốn, chủ thể quản lý có thể tiến hành điều tra, quan sát trực tiếp nhằm xác minh thực trạng của vấn đề.
Kiểm soát gián tiếp có thể phát huy hiệu lực nếu như tổ chức có một hệ thống thông tin đầy đủ, tin cậy và kịp thời. * Theo phạm vi kiểm soát Căn cứ vào tiêu thức này, kiểm soát bao gồm: Kiểm soát toàn diện và kiểm soát chuyên đề Kiểm soát toàn diện là loại hình kiểm soát tất cả các hoạt động theo các mục tiêu của hệ thống kiểm soát nội bộ trong một tổ chức. 8 Kiểm soát chuyên đề chỉ tập trung vào những yếu tố, những mặt cụ thể và chủ yếu của từng loại hoạt động được thực hiện trong một đơn vị để có thể nắm bắt và điều hành kịp thời. Việc phân chia kiểm soát theo phạm vi kiểm soát trong một tổ chức thực sự có ý nghĩa trong mối quan hệ với việc xác định vị trí và mức độ của một cá nhân hoặc một bộ phận trong tổ chức và gắn liền với nội dung quản lý tập quyền hay phân quyền.
Nếu một cá nhân ở vị trí cao trong đơn vị, tập hợp tiêu chí được kiểm soát tương ứng với thẩm quyền của cá nhân đó phải được xác định theo một phạm vi rộng và khái quát tương xứng; ngược lại, với các cá nhân ở vị trí thấp hơn, phạm vi hoạt động được kiểm soát sẽ hẹp hơn, các tiêu chí kiểm soát sẽ ít và cụ thể hơn. * Theo mối quan hệ giữa chủ thể với khách thể kiểm soát Căn cứ vào tiêu thức này, kiểm soát bao gồm: Kiểm soát từ bên ngoài và kiểm soát nội bộ Kiểm soát từ bên ngoài: là loại kiểm soát do chủ thể kiểm soát ở bên ngoài đơn vị thực hiện. Kiểm soát nội bộ: là loại kiểm soát do đơn vị tự thực hiện các hoạt động kiểm tra, kiểm soát nhằm mục đích quản trị nội bộ. Các nội dung cơ bản của thu, chi ngân sách xã 1.
Khái niệm và đặc điểm của ngân sách xã 1. Khái niệm ngân sách xã Ngân sách xã (NSX) là một cấp ngân sách địa phương trong hệ thống NSNN. Với vai trò là cấp ngân sách cuối cùng trong hệ thống NSNN, ngân sách xã trực tiếp giải quyết toàn bộ mối quan hệ về lợi ích giữa chính quyền với người dân. Từ khái niệm về ngân sách địa phương được đề cập tại Luật NSNN (2015), có thể hiểu: Ngân sách xã bao gồm toàn bộ các khoản thu, nhiệm vụ chi được quy định trong dự toán một năm do Hội đồng nhân dân xã quyết định và giao cho Ủy ban nhân dân xã thực hiện nhằm đảm bảo các chức năng nhiệm vụ của chính quyền xã [11].
Đặc điểm của ngân sách xã NSX là công cụ tiên quyết cho chính quyền xã thực hiện chức năng, nhiệm vụ cấp mình quản lý, có những đặc điểm cơ bản như sau: Một là, NSX là cấp ngân sách cuối cùng trong hệ thống NSNN, không có các đơn vị dự toán trực thuộc, xã vừa là đơn vị hành chính nhà nước, vừa là một cấp ngân sách. Đặc điểm này có ảnh hưởng và chi phối rất lớn đến quá trình tổ chức quản lý NSX.