CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HOẠT ĐỘNG THUÊ NGOÀI LOGISTICS (3PL) 1.1 Những vấn đề chung về logistics 1. Khái niệm logistics Thuật ngữ “logistics” đã xuất hiện từ lâu trên thế giới và được sử dụng đầu tiên trong quân đội với nghĩa là nghệ thuật bố trí và di chuyển quân. Sau này, thuật ngữ logistics dần được áp dụng sang các lĩnh vực kinh tế và được lan truyền từ châu lục này sang châu lục khác, từ nước này sang nước khác, hình thành nên từ logistics toàn cầu. Nếu như từ giữa thế kỷ 20, rất hiếm các doanh nghiệp hiểu được logistics là gì, thì đến cuối thế kỷ, logistics được ghi nhận như một chức năng kinh tế chủ yếu, một công cụ hữu hiệu mang lại thành công cho các doanh nghiệp, cả trong khu vực sản xuất lẫn trong khu vực dịch vụ.
Ngay từ những năm 80 của thế kỷ trước, người ta đã dự báo sẽ xuất hiện logistics toàn cầu và điều đó giờ đây đã thành hiện thực (Hoàng Văn Châu, 2009). Logistics phát triển rất nhanh chóng, trong nhiều ngành, nhiều lĩnh vực, nhiều quốc gia nên có rất nhiều tổ chức và tác giả tham gia nghiên cứu và đưa ra định nghĩa về logistics. Do ở các lĩnh vực khác nhau, góc nhìn khác nhau, cách tiếp cận khác nhau nên định nghĩa về logistics của các tác giả và tổ chức cũng khác nhau. Dưới đây là một số định nghĩa về logistics.
Frazelle định nghĩa logistics rất đơn giản là dòng vận động của nguyên vật liệu, thông tin và tiền giữa khách hàng và nhà cung cấp. Một định nghĩa được rất nhiều người ủng hộ là định nghĩa của Hội đồng quản lý logistics của Hoa Kỳ (CLM): logistics là quá trình lập kế hoạch, tổ chức thực hiện và kiểm soát một cách hiệu quả quá trình lưu chuyển, dự trữ hàng hóa, dịch vụ và những thông tin liên quan từ điểm xuất phát đầu tiên đến nơi tiêu thụ cuối cùng sao cho hiệu quả và phù hợp với yêu cầu của khách hàng. Theo quan điểm 5 đúng (five rights) thì logistics là quá trình cung cấp đúng sản phẩm đến đúng vị trí, vào đúng thời điểm với điều kiện và chi phí phù hợp cho 5 khách hàng tiêu dùng sản phẩm (right items, right place, right time, right condition right cost). Dưới góc độ quản trị chuỗi cung ứng, logistics là quá trình tối ưu hóa về vị trí, lưu trữ và chu chuyển các tài nguyên/ yếu tố đầu vào từ điểm xuất phát đầu tiên là nhà cung cấp, qua nhà sản xuất, người bán buôn, bán lẻ đến tay người tiêu dùng cuối cùng, thông qua hàng loạt các hoạt động kinh tế (Logistics and Supply Chain Management, Ma Shou, 1999).
Các định nghĩa trên đều khẳng định logistics là một quá trình bao gồm nhiều hoạt động. Điều này cho thấy logistics không phải là một hoạt động đơn lẻ mà là một chuỗi các hoạt động liên tục, có liên quan mật thiết với nhau, tác động qua lại lẫn nhau, được thực hiện một cách có khoa học, có hệ thống thông qua các bước nghiên cứu, hoạch định, tổ chức, quản lý, kiểm tra, kiểm soát và hoàn thiện. Đây là quá trình có liên quan đến nhiều hoạt động khác nhau trong cùng một tổ chức, từ xây dựng chiến lược đến các hoạt động chi tiết, cụ thể để thực hiện chiến lược. Luật thương mại Việt Nam 2005 đưa ra khái niệm: “dịch vụ logistics” tại điều 233: Dịch vụ logistics là hoạt động thương mại, theo đó thương nhân tổ chức thực hiện một hoặc nhiều công việc bao gồm nhận hàng, vận chuyển, lưu kho, lưu bãi, làm thủ tục hải quan, các thủ tục giấy tờ khác, tư vấn khách hàng, đóng gói bao bì, ghi ký mã hiệu, giao hàng hoặc các dịch vụ khác có liên quan đến hàng hoá theo thoả thuận với khách hàng để hưởng thù lao.
Dịch vụ logistics được phiên âm theo tiếng Việt là dịch vụ lô-gi-stíc. Định nghĩa này vẫn còn hạn chế vì chỉ liệt kê một số công việc của logistics, mặt khác chỉ đề cập đến hàng hóa, trong khi logistics còn liên quan rất nhiều đến nguyên vật liệu, bán thành phẩm, năng lượng. Qua các khái niệm và định nghĩa trên, ta thấy dù có sự khác nhau về từ ngữ diễn đạt, cách trình bày nhưng trong nội dung, tất cả các tác giả đều cho rằng logistics chính là hoạt động quản lý dòng lưu chuyển của nguyên vật liệu từ khâu mua sắm qua quá trình lưu kho, sản xuất ra sản phẩm và phân phối tới tay người tiêu dùng. Mục đích của logistics là giảm tối đa chi phí phát sinh với một thời gian 6 ngắn nhất trong quá trình vận chuyển của nguyên vật liệu phục vụ sản xuất cũng như phân phối hàng hóa một cách kịp thời.
Từ đây, ta có thể kết luận logistics là quá trình tối ưu hóa về vị trí và địa điểm, vận chuyển và dự trữ nguồn tài nguyên từ điểm xuất phát đầu tiên qua các khâu sản xuất, phân phối cho đến tay người tiêu dùng cuối cùng, thông qua hàng loạt các hoạt động kinh tế. Theo đó, người kinh doanh logistics, người cung cấp dịch vụ logistics chuyên nghiệp là người đảm nhận toàn bộ các khâu trong quá trình hình thành và đưa hàng hóa đến tay người tiêu dùng cuối cùng. Những khâu này phải thực hiện đồng bộ, phải mở rộng hơn, nâng cao hơn, giúp cho khách hàng yên tâm lo liệu công việc sản xuất, mua nguyên liệu, bán thành phẩm. Và quan trọng là giúp cho khách hàng tiết kiệm được chi phí, tăng sức cạnh tranh trên thị trường.
Các giai đoạn phát triển của logistics 1. Quan điểm 3 giai đoạn Theo nghiên cứu của Ủy ban Kinh tế và Xã hội Châu Á- Thái Bình Dương (ESCAP), quá trình phát triển của logistics được chia thành 3 giai đoạn như sau: Giai đoạn 1: Phân phối vật chất Tất cả các công ty đều có hoạt động vận chuyển vào trong công ty (Inbound movements of freight – Inbound logistics) và hoạt động vận chuyển ra ngoài công ty (Outbound movements of freight – Outbound logistics). Vào những năm 60, 70 của thế kỷ 20, người ta quan tâm nhiều đến hoạt động logistics đầu ra – outbound logitisc. Đó là một chuỗi các hoạt động có mối liên hệ chặt chẽ với nhau trong đó bao gồm các hoạt động vận tải nhằm đảm bảo việc giao hàng thành phẩm một cách hiệu quả cho khách hàng.
Những hoạt động này bao gồm vận tải, phân phối, bảo quản hàng hóa, quản lý tồn kho, đóng gói bao bì, phân loại, dán nhãn… hay còn gọi là phân phối vật chất. Như vậy, giai đoạn đầu tiên của logistics chính là giai đoạn phát triển của “Outbound logistics”- một lĩnh vực quan trọng nỗ lực marketing của công ty để phân phối sản phẩm đến tay khách hàng. 7 Giai đoạn 2: Hệ thống logistics Đến những năm 80, do giá nguyên liệu tăng cao làm chi phí vận tải tăng cùng với sự ra đời của khoa học quản lý, phương pháp lập kế hoạch về nhu cầu nguyên vật liệu và sự phổ biến của hệ thống Kanban và JIT, người ta đã chuyển hướng quan tâm sang Inbound logistics- logistics đầu vào. Đây là một khái niệm phát triển nhằm tìm kiếm cách thức củng cố mối quan hệ với nhà cung cấp, tăng chất lượng nguồn lực, giảm chi phí và thời gian vận tải, thúc đẩy việc quản lý nguyên vật liệu, và đáp ứng các mục tiêu sản xuất mới là sản phẩm chất lượng cao với giá bán cạnh tranh.
Logistics đầu vào chỉ giới hạn trong quản lý nguyên vật liệu cũng như quản lý nguồn nhân lực của doanh nghiệp. Có hai loại hình vận tải trong logistics đầu vào là vận chuyển nguyên liệu mua từ các nhà cung cấp bên ngoài công ty và vận chuyển nguyên vật liệu, các bộ phận của sản phẩm giữa các chi nhánh trong công ty. Như vậy, vào khoảng thời gian những năm 80, 90 của thế kỷ 20, các công ty đã tiến hành quản lý kết hợp cả hai hoạt động “inbound logistics và outbound logistics”. Đó là giai đoạn phát triển mới của logistics: Logistics hệ thống.
Giai đoạn 3: Quản trị dây chuyền cung ứng Sau này, cùng với “Inbound logistics” và “Outbound logistics”, các công ty còn quan tâm đến “Operation logistics”- là một bộ phận của hoạt động điều hành trong công ty liên quan đến việc lập hệ thống theo dõi, kiểm tra sản phẩm và lập các chứng từ liên quan nhằm tăng thêm giá trị cho sản phẩm. Sự kết hợp của ba hoạt động này hình thành nên một dây chuyền cung ứng bao trùm lên mọi hoạt động từ nhà cung cấp đến nhà sản xuất và cuối cùng là đến khách hàng tiêu dùng sản phẩm với mục đích cuối cùng là thỏa mãn tối đa nhu cầu của khách hàng. Quản trị dây chuyền cung ứng là giai đoạn phát triển cao của logistics, đòi hỏi nhà quản trị phải hiểu và quản lý được chuỗi các hoạt động trên, giám sát và điều hành cả hệ thống để có thể tăng giá trị cho sản phẩm. Nói cách khác, đó là cách thức kết nối các mắt xích trong chuỗi với nhau, liên kết trong nội bộ tổ chức và liên 8 kết với các tổ chức khác, để nâng cao tính hiệu quả.
Quan điểm 5 giai đoạn Tác giả Edward Frazelle đã chia quá trình phát triển của logistics thành 5 giai đoạn là: logistics tại nơi tác nghiệp (workplace logistics), logistics tại nơi sản xuất (Facility Logistics), logistics trong doanh nghiệp (Corporate logistics), logistics trong dây chuyền cung ứng (Supply chain Logistics) và logistics toàn cầu (global logistics) (Edward Fraelle 2002). Phạm vi và tầm ảnh hưởng Hình 1.1: 5 giai đoạn phát triển của logistics Nguồn: Edward Frazelle, Supply Chain Strategy: The Logistics of Supply Chain Management, tr.6 Giai đoạn 1: Logistics tại nơi tác nghiệp (Workplace Logistics) Logistics tại nơi tác nghiệp được hiểu là dòng chuyển động của nguyên vật liệu tại một điểm làm việc đơn lẻ. Mục tiêu của logistics tại nơi tác nghiệp là sắp xếp hợp lý sự chuyển động của một công việc riêng biệt, đơn lẻ tại một máy hoặc theo một dây chuyền lắp ráp. Nguyên tắc và lý thuyết của Logistics tại nơi tác nghiệp được phát triển bởi những người sáng lập ra các nhà máy kỹ thuật công nghiệp trước và trong chiến tranh thế giới lần thứ 2.
Ngày nay, mọi người thường gọi logistics tại nơi tác nghiệp là khoa học nghiên cứu về lao động (ergonomics). 9 Giai đoạn 2: Logistics tại nơi sản xuất (Facility Logistics) Logistics tại nơi sản xuất là dòng chuyển động của nguyên vật liệu giữa các điểm làm việc tại một nơi sản xuất. Nơi sản xuất có thể là nhà máy, kho hàng, hoặc trung tâm phân phối. Logistics tại nơi sản xuất thường được coi như xử lý nguyên vật liệu.