CHƯƠNG 1. LÝ LUẬN CHUNG VỀ SẢN XUẤT VÀ QUẢN LÝ SẢN XUẤT, SỰ CẦN THIẾT PHẢI HOÀN THIỆN HỆ THỐNG QUẢN LÝ SẢN XUẤT.1 Khái quát về doanh nghiệp và quản lý sản xuất 1.1 Khái niệm doanh nghiệp. Trong nền kinh tế, mô hình tổ chức cơ bản để hoạt động sản xuất, kinh doanh tiến hành thuận lợi là doanh nghiệp. Con người có thể độc lập tổ chức, sản xuất kinh doanh dưới nhiều hình thức khác nhau, từ đơn giản đến phức tạp.
Một cá thể có thể sản xuất kinh doanh, một tổ sản xuất với số lượng ít người cũng có thể sản xuất tốt. Tuy nhiên cùng với quá trình phân công lao động trong xã hội, cùng với việc xã hội hoá cao và trình độ tiến bộ của lực lượng sản xuất, nhiều mô hình tổ chức sản xuất ra đời. Cách thức liên kết từng cá thể trong lao động sản xuất tạo ra hình thức tổ chức để sản xuất. Lúc đầu là một hộ gia đình, tổ hợp tác, hợp tác xã, doanh nghiệp, liên hiệp doanh nghiệp, Công ty, tổng Công ty, tập đoàn kinh tế.
Doanh nghiệp là một tổ chức bằng nguồn lực, các phương tiện vật chất và tài chính của mình có thể thỏa mãn những nhu cầu của khách hàng ( người tiêu dùng) bằng cách cung cấp các sản phẩm ( ô tô, quần áo,.) và các dịch vụ ( du lịch, vận tải…). Mỗi doanh nghiệp không phải là một đơn vị độc lập trong môi trường. Trong môi trường sống, các doanh nghiệp thực hiện quá trình trao đổi vật chất và thông tin. Họ mua yếu tố sản xuất từ phía các nhà cung cấp, bán sản phẩm của mình cho khách hàng.
Trong mối quan hệ với môi trường sống, chúng ta phân biệt ba loại dòng sau đây : - Dòng vật chất : Nguyên, vật liệu, năng lượng, nhiên liệu, các loại dụng cụ và trang thiết bị công nghệ ; các đơn vị lắp ráp được mua từ bên ngoài, các bán thành phẩm, thành phẩm của quá trình sản xuất bán ra ngoài thị trường. - Dòng thông tin : Quảng cáo, chiêu hàng, các đơn đặt hàng, hóa đơn, chứng từ và mọi sự trao đổi với môi trường kinh tế, xã hội, luật pháp, khoa học và kỹ thuật. 4 Luận văn tốt nghiệp Hoàn thiện hệ thống quản lý sản xuất tại công ty TNHH hệ thống dây Sumi-Hanel - Dòng tài chính : Sự thay đổi vốn chủ sở hữu của công ty, các khoản vay ngân hàng, trả tiền của khách, trả người cung cấp, nộp thuế, trả lương, lãi vay, phân chia lợi nhuận, các khoản phạt,… Các dòng trên không chỉ là sự trao đổi tương tác giữa doanh nghiệp với môi trường mà còn tồn tại ngay trong lòng doanh nghiệp, trong các xưởng sản xuất, các phòng ban quản lý chức năng. Mối quan hệ này được tóm tắt trong sơ đồ hình 1.
LÃNH ĐẠO DÒNG THÔNG TIN Marketing Quy trình công Nghiên cứu sản phẩm. Nghiên cứu phát triển. Mua sắm, dự trữ. Phương pháp sản xuất.
Đưa vào sản xuất. Kiểm tra chất Dự báo bán hàng. Quản lý đặt hàng. Quản lý con người.
DÒNG VẬT CHẤT Nguyên liệu Gia công, chế biến Lắp ráp Sản phẩm Đơn vị lắp ráp ( Bộ phận, linh kiện mua ngoài) HOẠT ĐỘNG SẢN XUẤT VÀ LOGISTIC Hình 1.1 Sự tương tác trong doanh nghiệp Quản lý sản xuất doanh nghiệp bắt đầu ngay từ khi doanh nghiệp đó xuất hiện. Nói cách khác, quản lý sản xuất có cùng tuổi đời với doanh nghiệp. Như vậy, mỗi một doanh là một đơn vị kinh tế thực hiện các hoạt động sản xuất kinh doanh nhằm cung cấp các sản phẩm / dịch vụ thỏa mãn nhu cầu thị trường và thu được lợi nhuận. Doanh nghiệp là 1 hệ thống mở với môi trường bên ngoài và doanh nghiệp cũng lại được cấu thành bởi nhiều bộ phận với những chức năng riêng biệt.
5 Luận văn tốt nghiệp Hoàn thiện hệ thống quản lý sản xuất tại công ty TNHH hệ thống dây Sumi-Hanel Muốn đạt được các mục tiêu của mình đòi hỏi các doanh nghiệp phải tổ chức tốt các bộ phận cấu thành như sản xuất, marketing, tài chính, nhân lực. Theo tiếp cận thế chân kiềng của doanh nghiệp thì sản xuất cùng với marketing và tài chính được xác định là 3 trục cơ bản.2 Các hoạt động chủ yếu của doanh nghiệp. Như trên đã đề cập, dưới góc nhìn của quản trị tác nghiệp thì ba trục cơ bản của doanh nghiệp là sản xuất, marketing và tài chính : - Hoạt động sản xuất là một bộ phận chính có vai trò quyết định trong việc tạo ra sản phẩm/ dịch vụ cho doanh nghiệp. Quản trị hệ thống sản xuất là chức năng , nhiệm vụ cơ bản của mọi doanh nghiệp.
Thiết lập, phát triển và tổ chức điều hành tốt hoạt động sản xuất là cơ sở và yêu cầu bảo đảm cho mỗi doanh nghiệp có thể đứng vững và phát triển trong nền kinh tế thị trường cạnh tranh ngày càng khốc liệt. - Hoạt động marketing : Marketing là quá trình xúc tiến với thị trường nhằm thỏa mãn nhu cầu và mong muốn của con người, hoạt động marketing là một dạng hoạt động của con người ( bao gồm tổ cả tổ chức doanh nghiệp) nhằm thỏa mãn nhu cầu và mong muốn thông qua quá trình trao đổi. - Hoạt động tài chính : là hoạt động huy động vốn để bảo đảm cho các khoản của doanh nghiệp được thực hiện. Mặc dù không thường xuyên và không trực tiếp tạo ra giá trị cho doanh nghiệp nhưng hoạt động tài trợ cũng có vai trò rất quan trọng đến hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp do có tính quyết định trong việc bảo đảm tính khả thi của các khoản đầu tư và tạo ra đòn bẩy tài chính nếu xem xét dưới góc độ chủ sở hữu doanh nghiệp.
Trong những phân hệ trên , hoạt động sản xuất được coi là khâu quyết định tạo ra sản phẩm / dịch vụ và giá trị gia tăng cho doanh nghiệp , góp phần tăng trưởng kinh tế tạo ra cơ sở vật chất thúc đẩy xã hội phát triển. Quá trình sản xuất được quản trị tốt góp phần tiết kiệm các nguồn lực cần thiết trong sản xuất, hạ giá thành, tăng năng suất lao động, nâng cao chất lượng sản phẩm/ dịch vụ và suy đến cùng là nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh và năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp. Mối quan hệ giữa các chức năng cơ bản của một doanh nghiệp được thể hiện trong hình 1.2 bên dưới : 6 Luận văn tốt nghiệp Hoàn thiện hệ thống quản lý sản xuất tại công ty TNHH hệ thống dây Sumi-Hanel Tài chính Sản xuất Marketing Hình 1.2 Mối quan hệ giữa các chức năng cơ bản của doanh nghiệp. Khẳng định vai trò quan trọng quyết định sản xuất trong việc tạo ra và cung cấp sản phẩm/ dịch vụ cho xã hội không có nghĩa là xem xét nó một cách biệt lập với các chức năng quản trị khác trong doanh nghiệp.
Sự thống nhất, phối hợp cùng phát triển dựa trên cơ sở chung là thực hiện mục tiêu tổng quát của doanh nghiệp. Các phân hệ trong doanh nghiệp được hình thành và tổ chức các hoạt động sao cho vừa thực hiện tốt mục tiêu trực tiếp của mình vừa phải thực hiện tốt nhất mục tiêu tổng quát của hệ thống đặt ra.3 Mục tiêu của quản lý sản xuất. Các doanh nghiệp tiến hành các hoạt động sản xuất kinh doanh nhằm mục tiêu sinh lời ( ngoại trừ các doanh nghiệp công ích không vì lợi nhuận). Lợi nhuận tối đa là mục tiêu chung nhất và là mục tiêu cuối cùng của mọi doanh nghiệp khi đầu tư vật lực và tài lực vào các hoạt động kinh doanh trên thị trường.
Quản trị sản xuất tác nghiệp có mục tiêu tổng quát là bảo đảm cung cấp đầu ra cho doanh nghiệp trên cơ sở khai thác có hiệu quả nhất các nguồn lực của doanh nghiệp đồng thời thỏa mãn tốt nhất nhu cầu của khách hàng. Để đạt được mục tiêu chung nhất này, quản trị sản xuất, tác nghiệp có những mục tiêu cụ thể sau: 7 Luận văn tốt nghiệp Hoàn thiện hệ thống quản lý sản xuất tại công ty TNHH hệ thống dây Sumi-Hanel - Bảo đảm chất lượng sản phẩm/ dịch vụ theo yêu cầu của khách hàng trên cơ sở khả năng của doanh nghiệp. - Bảo đảm đúng dung lượng mong muốn của thị trường. - Giảm chi phí sản xuất tới mức thấp nhất có thể khi tạo ra một đơn vị đầu ra.
- Rút ngắn thời gian sản xuất sản phẩm hoặc cung cấp dịch vụ. - Đảm bảo cung ứng đúng thời điểm, đúng địa điểm, đúng số lượng và đúng khách hàng. - Xây dựng hệ thống sản xuất năng động, linh hoạt. - Đảm bảo mối quan hệ qua lại tốt với khách hàng và nhà cung ứng.
- Xây dựng hệ thống và các phương pháp quản trị gọn nhẹ và không có lỗi với khách hàng. Hệ thống mục tiêu cụ thể trên cần gắn bó chặt chẽ với nhau, tạo ra sức mạnh tổng hợp, góp phần nâng cao khả năng cạnh tranh cho doanh nghiệp trên thị trường.4 Quản lý các dòng trong sản xuất. Dòng thông tin. Quản lý sản xuất cần quản lý toàn bộ quá trình cung cấp sản phẩm từ nghiên cứu, thiết kế, chuẩn bị sản xuất, sản xuất đến kiểm tra, theo dõi,.
Thông tin cần phải tin cậy, chính xác , và chọn lựa sao cho chúng mang đến một ý nghĩa đúng đắn đối với những bộ phận sản xuất và những người có liên quan. Dòng vật chất. - Cung cấp nguyên liệu và tiêu thụ sản phẩm. - Tuân thủ các cam kết ( đúng thời gian, chất lượng, số lượng và chủng loại).
- Giảm chu kỳ sản xuất sản phẩm bằng cách tác động tới mọi giai đoạn của quá trình sản xuất ( dự trữ , tiếp nhận, sản xuất, lắp ráp, kiểm tra, tiêu thụ. - Giảm tất cả các loại dự trữ ( nguyên, vật liệu, chế phẩm và sản phẩm cuối cùng). 8 Luận văn tốt nghiệp Hoàn thiện hệ thống quản lý sản xuất tại công ty TNHH hệ thống dây Sumi-Hanel 1.5 Kế hoạch quá trình sản xuất. Thực tế luôn luôn có sự khai thác giữa dự báo và thị trường, nơi mà một doanh nghiệp muốn thâm nhập.
Kế hoạch được xây dựng trên cơ sở năng lực sản xuất tính đến thời gian chờ đợi, thời gian máy hỏng,. và khả năng tiêu thụ sản phẩm. Vì vậy, chỉ bằng cách dự báo chính xác nhu cầu sản phẩm, trên cơ sở phân tích sự tồn kho, tính toán chính xác năng lực sản xuất thì kế hoạch mới được xây dựng chính xác, quản lý sản xuất mới trở thành một nhân tố quan trọng đảm bảo sự thành công trong kinh doanh, thỏa mãn yêu cầu của quản lý sản xuất. Đó là: - Sản xuất sản phẩm chất lượng cao.