Lời mở đầu Chƣơng 1: Cơ sở lý luận về hệ thống kiểm soát nội bộ. Chƣơng 2: Thực trạng hoạt động hệ thống kiểm soát nội bộ tại trƣờng Cao đẳng Kỹ Thuật Cao Thắng Chƣơng 3: Giải pháp hoàn thiện hệ thống kiểm soát nội bộ tại trƣờng Cao đẳng Kỹ Thuật Cao Thắng Kết luận 5 CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HỆ THỐNG KIỂM SOÁT NỘI BỘ 1.1 LỊCH SỬ HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN CỦA LÝ THUYẾT KIỂM SOÁT NỘI BỘ. Lý thuyết kiểm soát nội bộ đã trải qua bốn giai đoạn hình thành và phát triển nhƣ sau: 1.1 Giai đoạn sơ khai (1900 -1949) Từ khi cách mạng công nghiệp bùng nổ ở Châu Âu, hàng loạt các doanh nghiệp đã đƣợc ra đời, đặc biệt là các công ty cổ phần. Lúc này sự tách biệt giữa chức năng sở hữu và chức năng quản lý ngày càng rõ rệt, nên kiểm toán đã phát triển đến một hình thức cao hơn nhằm cung cấp một dịch vụ kiểm tra sự gian lận của ngƣời quản lý cho các cổ đông – những ngƣời chủ sở hữu của công ty.
Theo thời gian, trong khi thực hiện chức năng nhận xét báo cáo tài chính, các kiểm toán viên đã dần nhận thức đƣợc rằng việc kiểm tra toàn bộ nghiệp vụ kinh tế phát sinh là hoàn toàn không cần thiết mà thay vào đó họ sẽ chọn mẫu để kiểm tra. Muốn công việc này đạt kết quả thì kiểm toán viên phải dựa trên sự tin tƣởng vào hệ thống kiểm soát nội bộ do đơn vị đƣợc kiểm toán sử dụng trong quá trình lập báo cáo tài chính. Thuật ngữ “kiểm soát nội bộ” bắt đầu xuất hiện ở giai đoạn này và với hình thức ban đầu là kiểm soát tiền nhằm kiểm soát quản lý vốn và kiểm tra thông tin về quản lý vốn. Năm 1905, Robert Montgomery trong tác phẩm “Lý thuyết và thực hành kiểm toán” đã đƣa ra ý kiến về một số vấn đề liên quan đến KSNB.
Năm 1929, Cục Dự trữ Liên bang Hoa Kỳ (Federal Reserve Bulletin) công bố chính thức về thuật ngữ KSNB, theo đó, KSNB đƣợc định nghĩa là một công cụ bảo về tiền và tài sản khác đồng thời nâng cao hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp. 6 Năm 1936, Hiệp hội Kế toán viên công chứng Hoa Kỳ trong một công bố đã định nghĩa KSNB là “các biện pháp và cách thức đƣợc chấp nhận và đƣợc thực hiện trong một tổ chức để bảo vệ tiền và tài sản khác, cũng nhƣ kiểm tra sự chính xác trong ghi chép của sổ sách”. Từ đó, nghiên cứu và đánh giá về hệ thống KSNB càng đƣợc chú trọng hơn trong các cuộc kiểm toán. Năm 1949, AICPA công bố công trình nghiên cứu đầu tiên về KSNB với nhan đề: “Kiểm soát nội bộ các nhân tố cấu thành và tầm quan trọng đối với việc quản trị doanh nghiệp và đối với kiểm toán viên độc lập”.
Trong đó trình bày định nghĩa kiểm soát nhƣ là một công cụ bảo vệ tài sản, kiểm tra sự chính xác và đáng tin cậy của số liệu kế toán, thúc đẩy hoạt động có hiệu quả của tổ chức và khuyến khích tuân thủ các chính sách. Sau đó AICPA đã soạn thảo và ban hành nhiều chuẩn mực kiểm toán đề cập đến những khái niệm và khía cạnh khác nhau của kiểm soát nội bộ.2 Giai đoạn hình thành (1949 -1970) Năm 1958, Ủy ban thủ tục kiểm toán CAP trực thuộc AICPA ban hành báo cáo về thủ tục kiểm toán SAP 29 về “Phạm vi xem xét kiểm soát nội bộ của kiểm toán viên độc lập”. Trong đó nêu rõ: Kiểm soát kế toán bao gồm kế hoạch tổ chức, các phƣơng pháp và thủ tục liên hệ trực tiếp đến việc bảo vệ tài sản và tính đáng tin cậy của số liệu kế toán. Kiểm soát quản lý bao gồm kế hoạch tổ chức, các phƣơng pháp và thủ tục liên quan chủ yếu đến tính hữu hiệu trong hoạt động và sự tuân thủ chính sách quản trị.
CAP tiếp tục ban hành SAP 33 (1962) yêu cầu kiểm toán viên phải quan tâm đến KSNB về kế toán và không bắt buộc phải đánh giá KSNB về quản lý. Tuy nhiên trong một số trƣờng hợp nếu kiểm toán viên thấy cần thiết thì phải đánh giá KSNB về quản lý. Đến năm 1972, CAP ban hành SAP 54 (1972) “Tìm hiểu và đánh giá KSNB”. Sau đó, AICPA ban hành chuẩn mực kiểm toán SAS 1 để thay thế cho thủ tục kiểm toán SAP 54 đã ban hành trƣớc đó.
Trong SAS 1 đƣa ra định nghĩa về kiểm soát quản lý và kiểm soát kế toán và cũng khẳng định sự quan tâm của nghề nghiệp kiểm toán đối với các bộ phận cấu thành KSNB. 7 Trong suốt giai đoạn này, các mục tiêu và công cụ của KSNB đã luôn đƣợc mở rộng, nhƣng nó vẫn chỉ đƣợc xem nhƣ là một phƣơng tiện phục vụ cho kiểm toán viên trong kiểm toán BCTC.3 Giai đoạn phát triển (1970-1992) Vào những thập niên 70 -80 của thế kỷ 20, nền kinh tế Hoa Kỳ và rất nhiều quốc gia khác đã phát triển mạnh mẽ. Cùng với sự phát triển đó, các vụ gian lận cũng gia tăng cả về số lƣợng cũng nhƣ quy mô, gây ra nhiều tổn thất lớn cho nền kinh tế. Trƣớc tình hình đó, năm 1979 SEC đƣa ra bắt buộc các công ty phải báo cáo về KSNB đối với công tác kế toán của công ty mình.
Muốn làm đƣợc điều đó thì cần thiết phải có các tiêu chuẩn đánh giá tính hữu hiệu của hệ thống KSNB. Vì vậy Ủy ban COSO trực thuộc Hội đồng quốc gia Hoa Kỳ về việc chống gian lận trên BCTC đƣợc thành lập năm 1985. Trƣớc hết, COSO đã sử dụng chính thức từ “kiểm soát nội bộ” thay thế cho từ “kiểm soát nội bộ về kế toán”. Sau một thời gian dài làm việc, năm 1992 COSO đã phát hành báo cáo.
Đây là tài liệu đầu tiên trên thế giới đƣa ra khuôn mẫu lý thuyết về KSNB một cách đầy đủ và hệ thống. Báo cáo COSO 1992 đã cung cấp một tầm nhìn rộng và mang tính quản trị, trong đó KSNB không chỉ là một vấn đề mang tính tài chính mà còn đƣợc mở rộng ra ở phƣơng diện hoạt động và tuân thủ.4 Giai đoạn hiện đại (từ 1992 đến nay). Báo cáo COSO ra đời đã đặt nền móng cho hàng loạt nghiên cứu phát triển về KSNB trong nhiều lĩnh vực khác nhau ra đời. Phát triển theo hướng công nghệ thông tin Năm 1996, Hiệp hội về kiểm soát và kiểm toán công nghệ thông tin ban hành bản tiêu chuẩn “ Các mục tiêu kiểm soát trong công nghệ thông tin và các lĩnh vực liên quan” (CoBIT).
CoBIT nhấn mạnh đến kiểm soát trong môi trƣờng tin học. Phát triển theo hướng quản trị Năm 2001, COSO triển khai nghiên cứu hệ thống quản trị rủi ro ở doanh nghiệp. Đến năm 2004, COSO ban hành báo cáo COSO về Quản trị rủi ro doanh nghiệp trên cơ sở phát triển của báo cáo COSO 1992. 8 Phát triển cho công ty nhỏ.
Năm 2006, COSO nghiên cứu và ban hành hƣớng dẫn “KSNB đối với báo cáo tài chính – Hƣớng dẫn cho công ty đại chúng quy mô nhỏ”. Báo cáo này dựa trên nền tảng COSO 1992 và giải thích cụ thể hơn cách thức áp dụng KSNB phù hợp cho các công ty có quy mô nhỏ. Phát triển theo hướng kiểm toán độc lập Các chuẩn mực kiểm toán của Hoa Kỳ cũng chuyển sang sử dụng báo cáo COSO để đánh giá hệ thống kiểm soát nội bộ: SAS 78 (1995) Xem xét kiểm soát nội bộ trong kiểm toán BCTC. SAS 94 (2001): Ảnh hƣởng của công nghệ thông tin đến việc xem xét KSNB trong BCTC.
Hệ thống chuẩn mực kiểm toán quốc tế ISA cũng sử dụng báo cáo COSO khi yêu cầu xem xét hệ thống KSNB trong kiểm toán BCTC. IAS 315: hiểu biết về tình hình kinh doan, môi trƣờng hoạt động đơn vị và đánh giá rủi ro các sai sót trọng yếu”. ISA đƣa ra định nghĩa KSNB và các bộ phận cấu thành hệ thống KSNB dựa trên COSO IAS 265: “Thông báo về những khiếm khuyết của KSNB” cũng yêu cầu kiểm toán viên độc lập thông báo về khiếm khuyết của KSNB cho những ngƣời có trách nhiệm trong đơn vị. Phát triển theo hướng kiểm toán nội bộ Hiệp hội kiểm toán viên nội bộ IIA định nghĩa các mục tiêu của KSNB bao gồm: Độ tin cậy và trung thực của thông tin.
Tuân thủ các chính sách, thủ tục. Bảo vệ tài sản doanh nghiệp. Sử dụng hiệu quả và kinh tế các nguồn lực. 9 Hoàn thành các mục đích và mục tiêu cho các hoạt động hoặc chƣơng trình.
Phát triển theo hướng ngành nghề cụ thể Trong lĩnh vực ngân hàng Ủy ban Basel về giám sát ngân hàng cũng dựa trên Báo cáo COSO để xây dựng báo cáo Basel (1998) công bố về khuôn khổ KSNB trong ngân hàng. Báo cáo Basel vận dụng các lý luận cơ bản của COSO vào lĩnh vực ngân hàng chứ không đƣa ra những lý luận mới. Hướng dẫn về giám sát hệ thống KSNB. Dựa trên COSO 1992, COSO đã đƣa ra dự thảo Hƣớng dẫn về giám sát hệ thống KSNB (Exposure Draft, 2008) gồm 3 phần: Hƣớng dẫn, ứng dụng và thí dụ nhằm giúp các tổ chức giám sát chất lƣợng của hệ thống KSNB.
Năm 2009 phần 1 chính thức đƣợc ban hành.2 ĐỊNH NGHĨA KIỂM SOÁT NỘI BỘ Hiện nay có khá nhiều định nghĩa về KSNB. Trong phạm vi giới hạn của đề tài, tác giả xin trình bày sơ lược về định nghĩa KSNB theo báo cáo COSO và theo INTOSAI. Do đặc thù của hệ thống kiểm soát nội bộ mà tác giả nghiên cứu, tác giả sẽ làm rõ định nghĩa theo INTOSAI áp dụng cho khu vực công.1 Định nghĩa KSNB theo báo cáo COSO Nhìn chung, COSO 1992 và COSO 2004 đã định nghĩa KSNB nhƣ sau: “Kiểm soát nội bộ là một quá trình bị chi phối bởi ngƣời quản lý và các nhân viên của đơn vị, nó đƣợc thiết lập để cung cấp một sự bảo đảm hợp lý nhằm thực hiện các mục tiêu dƣới đây: Sự hữu hiệu và hiệu quả của hoạt động Sự tin cậy của báo cáo tài chính. Sự tuân thủ pháp luật và các quy định.2 Định nghĩa KSNB theo INTOSAI 2004 INTOSAI - tổ chức quốc tế các cơ quan kiểm toán tối cao - trong Hƣớng dẫn chuẩn mực INTOSAI 2004 đã định nghĩa KSNB: 10 “KSNB là một quá trình bị chi phối bởi nhà quản lý và các nhân viên trong đơn vị¸ nó được thiết lập để đối phó với các rủi ro và cung cấp một sự đảm bảo hợp lý thực hiện sứ mệnh của tổ chức.