phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, phụ lục, luận văn được kết cấu gồm 4 chương: C ương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn về công tác quản lý đào tạo nghề. C ương : Phương pháp nghiên cứu. C ương 3: Thực trạng công tác quản lý đào tạo nghề tại thị xã Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên C ương 4: Giải pháp tăng cường công tác quản lý đào tạo nghề tại thị xã Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên 5 Chƣơng 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ CÔNG TÁC QUẢN LÝ ĐÀO TẠO NGHỀ 1. Cơ sở lý luận 1 1 1 K á n ệm oạt động đào tạo ng ề 1.Khái niệm nghề Có khá nhiều diễn đạt về khái niệm nghề.
Lương Văn Úc trong Giáo trình Tâm lý học lao động, NXB đại học Kinh tế quốc dân: “Nghề là một hình thức phân công lao động, n được biểu thị bằng những kiến thức lý thuyết tổng hợp và thói quen thực hành để hoàn thành những công việc nhất định. Những công việc được sắp xếp vào một nghề là những công việc đòi hỏi kiến thức lý thuyết tổng hợp như nhau, thực hiện trên những máy móc, thiết bị, dụng cụ tương ứng như nhau, tạo ra sản phẩm thuộc về cùng một dạng (Lương Văn Úc, 2011). Bên cạnh đ , theo GS.TS Nguyễn Thành Độ, PGS.TS Nguyễn Ngọc Huyền trong Giáo trình Quản trị kinh doanh, NXB ĐH Kinh tế quốc dân: “Nghề là một dạng xác định của hoạt động trong hệ thống phân công lao động của xã hội, là toàn bộ kiến thức (hiểu biết) và kỹ năng mà một người lao động cần c để thực hiện các hoạt động xã hội nhất định trong một lĩnh vực lao động nhất định (Nguyễn Thành Độ, 2011).2 Khái niệm đào tạo nghề Đào tạo là một hoạt động có tổ chức, được thực hiện trong một thời gian nhất định và nhằm đem đến sự thay đổi nhân cách và nâng cao năng lực của con người. - Đào tạo nghề: Theo Luật Giáo dục nghề nghiệp số 74/2014/QH13 ban hành ngày 27 tháng 11 năm 2014: “đào tạo nghề là hoạt động dạy và học nhằm trang bị kiến thức, kỹ năng và thái độ nghề nghiệp cần thiết cho người học để có thể tìm được việc làm hoặc tự tạo việc làm sau khi hoàn thành khóa học 6 hoặc nâng cao trình độ nghề nghiệp.
Mục tiêu chung của giáo dục nghề nghiệp là nhằm đào tạo nhân lực trực tiếp cho sản xuất, kinh doanh và dịch vụ, c năng lực hành nghề tương ứng với trình độ đào tạo, c đạo đức, sức khỏe; có trách nhiệm nghề nghiệp; có khả năng sáng tạo, thích ứng với môi trường làm việc trong bối cảnh hội nhập quốc tế, bảo đảm nâng cao năng suất, chất lượng lao động; tạo điều kiện cho người học sau khi hoàn thành khóa học có khả năng tìm việc làm, tự tạo việc làm hoặc học lên trình độ cao hơn. Luật cũng quy định có ba cấp trình độ đào tạo là sơ cấp, trung cấp và cao đẳng. Như vậy, đào tạo nghề là hoạt động trang bị năng lực (tri thức, kỹ năng và thái độ) hành nghề cho người lao động để người lao động có thể tìm việc làm hoặc tự tạo việc làm. Mục tiêu đào tạo nghề là nhằm đào tạo nhân lực trực tiếp cho sản xuất, kinh doanh và dịch vụ, c năng lực hành nghề tương ứng với trình độ đào tạo; c đạo đức, sức khỏe; có trách nhiệm nghề nghiệp; có khả năng sáng tạo, thích ứng với môi trường làm việc trong bối cảnh hội nhập quốc tế; bảo đảm nâng cao năng suất, chất lượng lao động; tạo điều kiện cho người học sau khi hoàn thành khóa học có khả năng tìm việc làm, tự tạo việc làm hoặc học lên trình độ cao hơn.Đặc điểm của hoạt động đào tạo nghề Đào tạo nghề à n t àn n n c c ng i o động m i.
Khác với giáo dục phổ thông, đào tạo nghề là đào tạo cho người học có được các kiến thức, kỹ năng và kỹ xảo chuyên môn nghề nghiệp ở trình độ nhất định để có thể làm việc theo nghề đ sau khi tốt nghiệp, đồng thời giáo dục cho học sinh những phẩm chất nghề nghiệp như: lòng yêu nghề, đạo đức nghề nghiệp, ý thức tổ chức, kỷ luật trong lao động sản xuất. Đ chính là phẩm chất, năng lực tạo nên nhân cách người lao động mới mà hoạt động dạy nghề phải mang lại cho người học trong quá trình đào tạo nghề. 7 Đào tạo nghề gắn liền v i qu tr n sản xuất. Đặc th cơ bản của đào tạo nghề là hoạt động dạy - học gắn liền với quá trình sản xuất.
Mối liên quan này chặt chẽ hơn nhiều so với mối liên quan giữa dạy khoa học cơ bản với quá trình nhận thức khoa học. Để nắm vững được nội dung khoa học cơ bản không đòi hỏi phải lặp đi lặp lại toàn bộ quá trình nhận thức khoa học đã hình thành ra nội dung này. Còn muốn nắm được nội dung nghề nghiệp thì phải trực tiếp nhìn nhận quá trình sản xuất hay ít nhất được thấy mô hình của nó (thiết bị luyện tập). Nội dung lao động của người công nhân và nội dung, phương pháp đào tạo nghề trước hết phụ thuộc vào cơ sở kỹ thuật của sản xuất và thay đổi cùng với sự phát triển của nó.
Đào tạo nghề là dạy thực hành sản xuất. N i đến đào tạo nghề người ta thường n i đến dạy lý thuyết và dạy thực hành sản xuất. Đ là 2 mặt của một quá trình thống nhất không thể tách rời nhau, nhưng dạy thực hành sản xuất giữ vai trò chủ đạo, chính nó là bộ phận quan trọng nhất của dạy nghề, không nắm vững điều đ sẽ đơn giản hoá việc dạy nghề. Thời gian dạy thực hành sản xuất thường chiếm 2/3 thời gian đào tạo.
Đối với những nghề đòi hỏi các thành phẩm trí tuệ nhiều hơn như thợ sửa chữa các loại, thời gian thực hành sản xuất khoảng 60%. Đào tạo tại nơi sản xuất và tại Trung tâm Dạy nghề thời gian thực hành là chủ yếu (80-90%). Mỗi nghề được xây dựng theo một cấu trúc khoa học bao gồm: mục tiêu đào tạo, đặc điểm nghề, nội dung lao động phản ánh đúng trình độ sản xuất hiện tại và danh mục nghề đào tạo quy định. P ơng p p đào tạo nghề.
Trong khi dạy lý thuyết nghề người ta sử dụng những phương pháp như dạy phổ thông: phương pháp thuyết trình: thầy nói - trò nghe; phương pháp đàm thoại: thầy hỏi - trò đáp; phương pháp trực quan: thầy chỉ - trò xem. Nếu nói theo nguồn gốc tri thức thì c các phương pháp: Diễn đạt bằng lời (thuyết 8 trình, đàm thoại, nêu vấn đề); phương pháp trực quan (giới thiệu, quan sát thí nghiệm). Các phương pháp này phần lớn chỉ có tác dụng bên ngoài chứ chưa kính thích được tính tích cực bên trong của người học. Để điều khiển hoạt động nhận thức, hoạt động thực hành và phát huy năng lực độc lập sáng tạo của người học cần phải thay đổi phương pháp dạy học sao cho phù hợp với bản chất của quá trình điều khiển, với quy luật khách quan của quá trình đ.
Đào tạo nghề nêu vấn đề đáp ứng được yêu cầu này. 11 Quản lý đào tạo ng ề 1.Khái niệm Quản lý là sự tác động có chủ đích, c tổ chức của chủ thể quản lý nhằm sử dụng có hiệu quả nhất các tiềm năng, các cơ hội của hệ thống để đạt được mục tiêu đặt ra trong điều kiện biến động của môi trường (Trần Xuân Cầu, 2013) Quản lý nhà nước (QLNN) là hoạt động thực hiện các chức năng đối nội và đối ngoại của nhà nước trên cơ sở các quy luật phát triển xã hội, nhằm mục đích ổn định và phát triển đất nước. Quản lý nhà nước về kinh tế là sự tác động có chủ đích của Nhà nước đối với toàn bộ nền kinh tế quốc dân bằng quyền lực của Nhà nước, thông qua pháp luật, chính sách, công cụ, môi trường, lực lượng vật chất và tài chính, trên tất cả các lĩnh vực và các thành phần kinh tế (Nguyễn Thành Độ, PGS.TS Nguyễn Ngọc Huyền, 2011). Quản lý nhà nước đối với hoạt động đào tạo nghề: Là việc nhà nước thực hiện quyền lực công để điều hành, điều chỉnh toàn bộ các hoạt động đào tạo nghề (gồm có hoạt động liên quan đến dạy và học nghề).
Quản lý đào tạo nghề cho lao động chính là việc quản lý công tác đào tạo nghề nhằm đáp ứng được nhu cầu của thị trường lao động. Hiệu quả của công tác quản lý đào tạo nghề thể hiện ở tỷ lệ lao động có việc làm sau học nghề so với tổng số lao động được tuyển sinh ĐTN. Tỷ lệ này càng cao, công tác quản lý đào tạo nghề cho lao động càng có hiệu quả và ngược lại.Vai trò của quản ý n à n c đối v i đào tạo nghề Nhằm đề ra quy hoạch, kế hoạch tổng thể, đáp ứng những cân đối lớn của toàn bộ nền kinh tế, tránh hiện tượng đầu tư dàn trải, không hiệu quả, đồng thời khuyến khích các thành phần kinh tế đầu tư phát triển đào tạo nghề. Định hướng cho công tác đào tạo nghề theo sự chuyển biến kinh tế xã hội, theo nhu cầu nguồn nhân lực, theo từng điều kiện cụ thể.
Đồng thời buộc hoạt động này thực hiện theo đúng chủ trương chính sách hiện hành. Hạn chế tiêu cực, tạo ra môi trường cạnh tranh lành mạnh trong lĩnh vực đào tạo nghề: Ngày nay đào tạo nghề không đơn thuần là hoạt động mang tính xã hội thuần túy mà n đã trở thành một loại hàng hóa công cộng đặc biệt. Do vậy nhất thiết cần tăng cường hoạt động QLNN giúp hạn chế tiêu cực trong quá trình hoạt động của loại hàng hóa công cộng đặc biệt này. Đồng thời tạo môi trường cạnh tranh lành mạnh cho các đối tượng tham gia hoạt động này.Công cụ quản ý n à n c đối v i đào tạo nghề Để thực hiện chức năng quản lý của mình, Nhà nước có thể sử dụng các công cụ bao gồm: kế hoạch, chính sách và pháp luật.
Công cụ kế hoạch Nhà nước có những định hướng để việc phát triển đào tạo nghề đạt được những mục tiêu đặt ra. Chính quyền tại địa phương xây dựng và triển khai kịp thời các chiến lược phát triển đào tạo nghề, quy hoạch, các kế hoạch cụ thể để định hướng đào tạo nghề tại địa phương mình ph hợp với điều kiện của mỗi địa phương và quy hoạch tổng thể để các nguồn lực được sử dụng tối ưu.