Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG ĐÁNH CHẤT LƯỢNG GIẢNG DẠY CỦA GIẢNG VIÊN TẠI CÁC TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM 1. Tổng quan nghiên cứu vấn đề 1. Các nghiên cứu về hoạt động đánh giá chất lượng giảng dạy của giảng viên trường đại học Thời kỳ Trung cổ, các trường ĐH ở châu Âu dựa vào SV để kiểm tra việc giảng dạy của GV. Hiệu trưởng chỉ định một Hội đồng SV, Hội đồng này có nhiệm vụ ghi chép xem GV có giảng dạy theo đúng lịch trình giảng dạy quy định của trường không, nếu có sự thay đổi nhỏ nào ngoài quy định chung, Hội đồng SV báo cáo ngay cho Hiệu trưởng.
Hiệu trưởng sẽ phạt GV về những vi phạm đó (Rashdall, 1936 và Centra, 1993) [22]. Giai đoạn từ 1925-1960 các trường ĐH và cao đẳng sử dụng bảng đánh giá chuẩn đã được kiểm nghiệm dùng cho SV đánh giá GV. GV các trường ĐH và cao đẳng đã nhận thức rõ mục đích và ý nghĩa của bảng đánh giá giảng dạy và đã tình nguyện sử dụng bảng đánh giá chuẩn với mục đích cải tiến và điều chỉnh việc giảng dạy của mình trên cơ sở phân tích các kết quả thu được của bảng đánh giá [22]. Từ những năm 1970, ngày càng có nhiều trường ĐH và cao đẳng sử dụng các bảng đánh giá chuẩn.
Hầu hết các trường ĐH ở châu Âu và Hoa Kỳ đã sử dụng 3 phương pháp đánh giá hiệu quả giảng dạy: đồng nghiệp đánh giá, chủ nhiệm khoa đánh giá và SV đánh giá, trong đó các thông tin thu được từ bảng đánh giá của SV được công nhận là quan trọng nhất (Centra,1979) [22]. Trên thế giới, đã có nhiều công trình nghiên cứu về việc đánh giá hoạt động giảng dạy của giảng viên từ SV. Hầu hết các chuyên gia đều đánh giá cao giá trị ý kiến phản hồi từ SV. So với các nguồn đánh giá khác, nguồn SV đánh giá chiếm ưu thế hơn (Eble, 1984, tr98) [24].
Marsh (1982) đã tiến hành một nghiên cứu với 1364 lớp học để tìm hiểu xem khi lấy ý kiến SV về hoạt động giảng dạy của giảng viên, liệu nhận xét của SV gắn liền chủ yếu với bản thân môn học hoặc với GV dạy môn học đó. Tác giả đã khảo sát hệ số tương quan (về nhận xét của SV) giữa bốn nhóm: (1) cùng một GV dạy cùng môn học, (2) Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.vn cùng một GV dạy nhiều môn học, (3) các GV khác nhau dạy cùng môn học, (4) các GV khác nhau dạy các môn học khác nhau. Với kết quả tương quan khá cao đối với GV, tác giả đã kết luận: nhận xét của SV về hoạt động giảng dạy của giáo viên gắn liền chủ yếu với bản thân GV chứ không phải với môn học được khảo sát [24]. Hầu hết các chuyên gia đều cho rằng đánh giá của SV là có giá trị và nên được sử dụng rộng rãi.
Marsh (1987) đã cho ra năm lý do nên sử dụng ý kiến của SV: Thứ nhất, để cung cấp các phản hồi có tính cảnh báo và dự đoán cho GV về mức độ hiệu quả của việc giảng dạy và có được thông tin hữu ích nhằm cải tiến việc giảng dạy. Thứ hai, giúp cho nhà quản lý đánh giá mức độ hiệu quả của việc giảng dạy và đưa ra các quyết định đúng mực. Thứ ba, giúp SV lựa chọn các khóa học và GV. Thứ tư, đánh giá chất lượng các khóa học nhằm cải tiến và phát triển chương trình học.
Thứ năm, giúp cho các nghiên cứu về vấn đề này. Những đánh giá về hoạt động giảng dạy của GV từ phía SV là nguồn thông tin quan trọng đánh giá trực tiếp hoạt động giảng dạy của GV đã công bố kết quả nghiên cứu là 80% GV đại học tham gia vào công trình nghiên cứu đồng ý rằng ý kiến của SV có ích cho họ nhờ các phản hồi về chất lượng giảng dạy. Theo mô hình lý thuyết đánh giá mang tính xây dựng trong giáo dục ĐH theo bảy nguyên tắc của Tiến sĩ David Nicole và Debra Macfarlane - Dick (Hoa Kỳ), bất kỳ mô hình thông tin phản hồi nào cũng phải tính đến các SV hiểu và sử dụng thông tin phản hồi. Bộ đôi tác giả này đã dựa trên nền tảng này và phát triển mô hình lý thuyết dưới đây để đánh giá mang tính xây dựng trong giáo dục đại học [41].
Trong đánh giá hoạt động giảng dạy của GV thì SV luôn tích cực tham gia vào quá trình phản hồi. Nếu SV tham gia vào việc theo dõi và giám sát công việc của họ, thì thay cho việc tìm cách củng cố khả năng để GV đưa ra ý kiến phản hồi có chất lượng cao hơn, có thể tạo ra các phương pháp để xây dựng khả năng tự điều chỉnh. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.vn Nghiên cứu đã cho thấy rằng, việc tham khảo ý kiến đánh giá của SV làm tăng khả năng cải thiện giảng dạy một cách đáng kể và đã trở thành nguồn thông tin được sử dụng rộng rãi nhất để đánh giá hiệu quả hoạt động giảng dạy của GV. Các nghiên cứu về quản lý hoạt động đánh giá chất lượng giảng dạy của giảng viên trường đại học Năm 2006, đề tài trọng điểm cấp ĐH Quốc gia Hà Nội mã số QGTĐ.06: “Nghiên cứu xây dựng các tiêu chí đánh giá hoạt động giảng dạy đại học và nghiên cứu khoa học của GV trong ĐH Quốc gia” của tác giả Nguyễn Đức Chính và Nguyễn Phương Nga chủ trì đã được nghiệm thu [13].
Đề tài nghiên cứu đã thực hiện được những nội dung chính sau đây: - Xem xét và phân tích đúc kết các kinh nghiệm về đánh giá hoạt động giảng dạy và nghiên cứu khoa học của một số trường ĐH trên thế giới. - Phân tích hiện trạng đánh giá hoạt động giảng dạy và nghiên cứu khoa học của GV ĐH Quốc gia Hà Nội trong những năm gần đây. - Xây dựng được mô hình đánh giá GV phù hợp với thực tiễn ĐH Quốc gia Hà Nội có tính đến xu thế hội nhập giáo dục toàn cầu trong giáo dục ĐH. - Xây dựng các tiêu chí đánh giá hoạt động giảng dạy và nghiên cứu khoa học của GV.
Đây là nghiên cứu về lĩnh vực đo lường và đánh giá trong giáo dục có các chuyên gia và cán bộ quản lý giáo dục thực hiện nên kết quả nghiên cứu có ý nghĩa quan trọng trong việc đưa khoa học đánh giá vào các trường ĐH, CĐ của Việt Nam. Đồng thời cũng là các tiền đề cho các nghiên cứu ứng dụng đánh giá GV của các trường ĐH, CĐ trong bối cảnh hiện nay. Tác giả Phạm Xuân Thanh đã đưa ra các tiêu chí và thang đo để đánh giá chất lượng đào tạo sau đại học bao gồm các tiêu chí đánh giá hoạt động giảng dạy của giảng viên [15] thông qua việc Xây dựng hệ thống đảm bảo chất lượng bên trong các trường đào tạo giáo viên, một số tiêu chí đánh giá môn học có thể được sử dụng như sau: - Mục đích, yêu cầu môn học rõ ràng đối với SV; - Môn học được giảng dạy tốt; - Nội dung môn học bổ ích đối với SV; - Tư liệu học tập cho môn học được cung cấp đầy đủ; Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.vn - Khối lượng chương trình học tập phù hợp với SV; - SV được động viên, khuyến khích học tốt; - SV nhận được những thông tin bổ ích về sự tiến bộ của mình trong quá trình học tập; - GV quan tâm đến nhu cầu nâng cao kiến thức và kĩ năng của SV; - Quá trình kiểm tra đánh giá công bằng và khách quan. Trong bộ tiêu chuẩn kiểm định chất lượng các trường đại học do Bộ Giáo dục & Đào tạo Việt Nam ban hành năm 2007, yếu tố người dạy được xem xét qua tiêu chí Đổi mới phương pháp dạy và học theo hướng phát triển năng lực tự học, tự nghiên cứu và làm việc tập thể của người học và tiêu chuẩn số 5: Đội ngũ cán bộ quản lí, GV và nhân viên với 7 tiêu chí.
TTĐBCL đào tạo và nghiên cứu phát triển giáo dục ĐHQG Hà Nội, Đánh giá hoạt động giảng dạy và nghiên cứu khoa học của giảng viên, Kỷ yếu Hội thảo quốc gia, 2007 [] đã đưa ra một bộ phiếu đánh giá giảng dạy và hoạt động nghiên cứu khoa học của giảng viên trong đó bao gồm các phiếu: a, Sinh viên đánh giá giảng viên b, Cán bộ quản lý đánh giá giảng viên c, Giảng viên tự đánh giá d, Đồng nghiệp đánh giá Bộ phiếu đã được thử nghiệm với sinh viên và GV ĐHQG và được chứng minh có đủ độ tin cậy cho đối tượng GV và SV trong ĐH. Các nghiên cứu cho thấy các tiêu chí và chỉ số đánh giá chất lượng hoạt động giảng dạy khá khác nhau. Việc đánh giá chất lượng giảng dạy của cả một khóa học đòi hỏi phải chính xác, bao quát mọi mặt nên bao gồm nhiều chỉ số thuộc về các tiêu chí sau: i, Mục tiêu và nội dung chương trình đào tạo; ii, Cấu trúc chương trình đào tạo; iii, Trang thiết bị dạy học; vi, Hoạt động giảng dạy; v, Đánh giá chung toàn khoá học. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.vn Ngoài ra đánh giá về hoạt động nghiên cứu khoa học các phiếu đánh giá bao gồm các hoạt động học tập nâng cao kinh nghiệm, tham gia các đề tài cấp cơ sở, Bộ, cấp nhà nước và các dự án.Tham gia hướng dẫn thạc sĩ, nghiên cứu sinh.
Các phiếu điều tra môn học, đánh giá giảng viên của một số trường đại học như trường ĐH Sư phạm Hưng Yên, Đại học Cần Thơ, ĐH Quốc gia Hà Nội, Quốc gia Tp. Hồ Chí Minh. Một thực trạng thường thấy là các nhà quản lý giáo dục, và kể cả các GV mặc dù hiểu rõ tầm quan trọng của công tác đánh giá, nhưng thường không coi trọng đầu tư đúng mức cho công tác này. Những chỉ tiêu thi đua, tiêu chí xét các danh hiệu, … thường mang tính chủ quan, thiếu độ tin cậy, tính khoa học nên hạn chế nhiều tới hiệu quả của công việc đánh giá.
Nói tóm lại, các nghiên cứu đã chỉ ra hướng tiếp cận khác nhau trong công tác đánh giá chất lượng giảng dạy của giảng viên và việc lấy ý kiến phản hồi của người học về chất lượng giảng dạy của giảng viên có ý nghĩa thực tiễn và lý luận.