CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ ĐÀO TẠO NGUỒN NHÂN LỰC 1. Các khái niệm cơ bản 1. Khái niệm nguồn nhân lực Theo Trần Xuân Cầu (2008): “Nguồn nhân lực là nguồn lực của con người và được xem xét trên hai khía cạnh. Khía cạnh thứ nhất, nguồn nhân lực có ý nghĩa là nguồn gốc, nơi phát sinh ra nguồn lực, nó nằm ngay trong bản thân con người tạo ra sự khác nhau cơ bản giữa nguồn lực con người và các nguồn lực khác.
Khía cạnh thứ hai, nó được hiểu là tổng thể nguồn lực của từng các nhân con người. Với tư cách là một nguồn lực của quá trình phát triển, nguồn nhân lực là nguồn lực của con người có khả năng sáng tạo ra của cải vật chất và tinh thần cho xã hội được biểu hiện ra là số lượng và chất lượng nhất định tại một thời điểm nhất định.” Quan điểm của Phạm Minh Hạc cho rằng: “Nguồn lực con người được thể hiện thông qua số lượng dân cư, chất lượng con người (bao gồm thể lực, trí lực và năng lực phẩm chất)” (Trần Xuân Cầu, 2008). Như vậy, nguồn nhân lực không chỉ bao hàm chất lượng nguồn nhân lực hiện tại mà còn bao hàm cả nguồn cung cấp nhân lực tương lai. Trong chuyên đề thực tập này, ta tiếp cận đến khái niệm nguồn nhân lực trong một tổ chức.
Theo Trần Kim Dung (2013), nguồn nhân lực của một tổ chức bao gồm tất cả các cá nhân tham gia bất kỳ hoạt động nào của tổ chức, bất kể vai trò của họ là gì. Khái niệm đào tạo nguồn nhân lực. Định nghĩa trên Wikipedia cho rằng: “Đào tạo đề cập đến việc dạy các kỹ năng thực hành, nghề nghiệp hay kiến thức liên quan đến một lĩnh vực cụ thể, để người học lĩnh hội và nắm vững những tri thức, kỹ năng, nghề nghiệp một cách hệ thống để chuẩn bị cho người đó thích nghi với cuộc sống và khả năng đảm nhận được 1 công việc nhất định.” Theo Nguyễn Vân Điềm và Nguyễn Ngọc Quân (2012): “Đào tạo là quá trình học tập làm cho người lao động có thể thực hiện được các chức năng nhiệm vụ có hiệu quả hơn trong công tác của họ.” Trên đây là một số quan điểm về đào tạo nguồn nhân lực nhưng nhìn chung ta có thể hiểu rằng: “Đào tạo nguồn nhân lực là tập hợp tất cả các hoạt động học tập do tổ chức cung cấp cho người lao động trong một khoảng thời giam nhất định, nhằm nâng cao khả năng, trình độ nghề nghiệp, cũng như thay 3 đổi thái độ, cách thức làm việc của người lao động để giúp họ thực hiện một cách hiệu quả hơn chức năng nhiệm vụ của mình. Mục tiêu và vai trò của đào tạo nguồn nhân lực 1.
Mục tiêu của đào tạo nguồn nhân lực Đào tạo chính là một công cụ quan trọng để giải quyết những khó khăn còn tồn tại trong doanh nghiệp. Mặc dù chỉ là một trong những nhân tố ảnh hưởng đến sự phát triển của tổ chức nhưng đào tạo luôn tập trung vào các mục tiêu rõ ràng mà mỗi doanh nghiệp đều luôn nỗ lực để đạt được. Mục tiêu chung của đào tạo nguồn nhân lực chính là doanh nghiệp có thể sử dụng tối đa và hiệu quả nguồn nhân lực hiện có; trang bị và cải tiến cho người lao động những năng lực cần thiết để đáp ứng mọi nhu cầu của doanh nghiệp, đặc biệt trước sự biến động không ngừng của thị trường. Không những vậy, qua đào tạo, doanh nghiệp còn muốn củng cố và phát triển văn hóa doanh nghiệp; tạo thái độ làm việc tích cực, tăng sự gắn bó của nhân viên với tổ chức.
Vai trò của đào tạo nguồn nhân lực 1. Đối với tổ chức Đào tạo nguồn nhân lực chính là điều kiện để quyết định xem doanh nghiệp có thể tồn tại và tạo được lợi thế cạnh tranh hay không. Nó được coi như giải pháp chiến lược giúp nhà lãnh đạo kiểm soát và phát triển tổ chức. Thứ nhất, đào tạo giúp tăng năng suất, hiệu quả thực hiện công việc của người lao động.
Việc nâng cao năng suất lao động có nghĩa là làm giảm số giờ công tiêu hao khi hoàn thành một đơn vị sản phẩm hay nói cách khác là làm tăng số lượng đơn vị sản phẩm được sản xuất ra trong một đơn vị thời gian. Từ đó dẫn đến giảm chi phí tiền lương trong một đơn vị sản phẩm. Tiền lương là giá cả của sức lao động, là thành phần cấu thành lên giá cả sản phẩm. Do vậy, giảm chi phí tiền lương là cách để giảm giá thành sản phẩm, tăng khả năng tiêu thụ hàng hóa dịch vụ trên thị trường, tăng doanh thu cho doanh nghiệp.
Không những thế, năng suất lao động tăng, chí phí tiền lương trên một đơn vị sản phẩm giảm làm tăng tiết kiệm quỹ tiền lương của doanh nghiệp. Hơn nữa, thông qua đào tạo, người lao động sẽ nâng cao được khả năng làm việc độc lập, tăng tính tự giác trong công việc, nhờ đó doanh nghiệp có thể tiết kiệm thời gian và nguồn lực dành cho hoạt động giám sát trong quá trình làm việc; đồng nghĩa với việc doanh nghiệp sẽ giảm được chi phí lao động cho công tác quản lý nguồn nhân lực, tránh được sự quản lý lỗi thời. 4 Đào tạo làm duy trì và nâng cao chất lượng của người lao động, tăng tính ổn định cho doanh nghiệp, đặc biệt với sự phát triển hiện nay, việc đào tạo sẽ giúp tổ chức có thể ứng dụng kịp thời các công nghệ hiện đại vào hoạt động sản xuất kinh doanh và hoạt động quản lý doanh nghiệp. Thực hiện công tác đào tạo giúp cho doanh nghiệp hạn chế được tai nạn lao động xảy ra do con người được học tập và hiểu biết hơn về an toàn vệ sinh lao động, tránh được những sự cố xảy ra trong quá trình làm việc.
Việc doanh nghiệp có thể đảm bảo chất lượng nguồn nhân lực thông qua quá trình đào tạo không những tạo được lợi thế cạnh tranh trên thị trường mà còn giúp tạo dựng được vị trí, “thương hiệu của doanh nghiệp”, nhờ đó doanh nghiệp có thể thu hút và giữ chân được nhiều nhân lực tài năng và có chuyên môn trong và ngoài tổ chức. Đối với người lao động Việc được đào tạo và đáp ứng nguyện vọng đào tạo của người lao động sẽ giúp họ cảm thấy hài lòng hơn với công việc hiện tại, làm tăng mức độ gắn bó với tổ chức. Nhờ các chương trình đào tạo, trình độ chuyên môn của người lao động sẽ được cải thiện và cách thức làm việc cũng trở nên chuyên nghiệp hơn. Hay nói cách khác, đào tạo giúp người lao động tạo được “thương hiệu cá nhân”, có được vị thế và chỗ đứng trên thị trường lao động, từ đó có thể nhận được mức giá công lao động cao.
Đồng thời việc cập nhật các kỹ năng, kiến thức cần thiết giúp người lao động có thể dễ dàng tiếp cận và làm việc với máy móc, kỹ thuật, thiết bị công nghệ hiện đại trong doanh nghiệp. Nhờ đó làm thay đổi cách làm việc hiệu quả hơn, tăng khả năng tư duy, không ngừng đóng góp những ý tưởng mới trong các hoạt động của doanh nghiệp, khiến họ dễ dàng thích ứng với sự thay đổi công việc hiện tại và tương lai. Nhu cầu học tập và nâng cao trình độ gắn liền với nhu cầu phát triển của người lao động, giúp họ có cơ hội thăng tiến trong công việc. Người lao động trong quá trình học tập có thể nhận ra được điểm yếu, điểm mạnh của bản thân từ đó có định hướng đúng đắn trong phát triển sự nghiệp cá nhân.
Đối với xã hội Công tác đào tạo nguồn nhân lực không những có vai trò đối với mỗi doanh nghiệp hay cá nhân người lao động mà còn là vấn đề sống còn của một đất nước, nó trực tiếp ảnh hưởng đến sự phát triển của xã hội. Cụ thể, đào tạo đem lại cho xã hội những lợi ích sau: 5 Từng cá nhân người lao động trong doanh nghiệp được đào tạo kiến thức chuyên môn, cập nhật kỹ năng cần thiết, học tập hoàn thiện bản thân, đồng nghĩa với việc chất lượng nguồn nhân lực của xã hội được nâng cao, tạo ra nhiều của cải vật chất cho xã hội, đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của con người. Hơn nữa, đào tạo nguồn nhân lực đã có những đóng góp lớn cho sự tăng trưởng mạnh mẽ của nền kinh tế, phát triển xã hội bền vững, giúp cho đất nước theo kịp các nước tiên tiến trong khu vực và toàn thế giới. Trong điều kiện xã hội đang chuyển sang nền kinh tế công nghiệp 4.0, khi các công cụ thiết bị và phương pháp làm việc lạc hậu được thay thế bằng máy móc, công nghệ hiện đại trong hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp thì việc đào tạo giúp đất nước có thể đáp ứng kịp thời nguồn nhân lực đủ khả năng thích ứng với sự chuyển mình của nền kinh tế.
Khoản đầu tư cho đào tạo là khoản đầu tư mang tính chất chiến lược chủ chốt quyết định đến sự phồn vinh của một đất nước, là một trong những giải pháp hiệu quả giải quyết vấn nạn thất nghiệp của quốc gia. Các nhân tố ảnh hưởng đến công tác đào tạo nguồn nhân lực trong doanh nghiệp 1. Các nhân tố khách quan 1. Môi trường kinh tế - chính trị - xã hội Đất nước đang trong tiến trình hội nhập, cơ chế pháp luật ở Việt Nam khá thông thoáng, cơ chế cạnh tranh lành mạnh nên các doanh nghiệp nước ngoài dễ dàng tiếp cận thị trường Việt Nam, trong khi các doanh nghiệp trong nước ngày càng mở rộng và phát triển mạnh mẽ khiến cho tính cạnh tranh giữa các doanh nghiệp trở nên gay gắt.
Do đó để có được chỗ đứng trên thị trường, doanh nghiệp đã có những chiến lược nâng cao chất lượng các nguồn lực chủ chốt, trong đó có nguồn lực con người, Trong những năm gần đây, nhà nước ta đã có những chính sách quan tâm, khuyến khích đến giáo dục và đào tạo, đáp ứng nhu cầu tuyển dụng nhân sự của các doanh nghiệp. Hệ thống pháp luật và đào tạo nguồn nhân lực của nhà nước được xây dựng hoàn thiện sẽ là điều kiện giúp các doanh nghiệp thực hiện công tác đào tạo một cách thuận lợi. Hơn nữa, sự ổn định về mặt chính trị và sự nhất quán trong việc đưa ra các chính sách của một quốc gia không những tạo cơ hội cho công tác đào tạo nguồn nhân lực diễn ra suôn sẻ mà còn thu hút các nhà đầu tư trong nước và ngoài nước quan tâm đến đào tạo.