Chương 1: Những vấn đề lý luận và thực tiễn về quản lý vốn trong Tổng Công ty. Chương 2: Thực trạng cơ chế quản lý vốn tại Tổng Công ty Sông Đà. Chương 3: Định hướng và những giải pháp cơ bản nhằm Hoàn thiện cơ chế quản lý vốn tại Tổng Công ty Sông Đà. 4 CHƢƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ QUẢN LÝ VỐN TRONG TỔNG CÔNG TY 1.1 Một số vấn đề chung về Tổng Công ty Nhà nƣớc 1.1 Khái niệm và phân loại Tổng Công ty 1.
Khái niệm Quá trình phát triển kinh tế - xã hội, đã chứng minh sự phát triển của lực lượng sản xuất luôn gắn liền với sự phát triển của khoa học, kỹ thuật và Công nghệ. Theo đó, các hình thức tổ chức sản xuất ngày càng phát triển và hoàn thiện theo hướng chuyên môn hóa, hợp tác hóa, tập trung hóa và liên hợp sản xuất. Sau năm 1986, khi kinh tế Việt Nam chuyển từ nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung sang nền kinh tế thị trường có sự quản lý của Nhà nước thì các hình thức và cơ chế hoạt động của các Công ty nhà nước cũng dần được thay đổi, nhất là khi chính phủ ban hành Quyết định 90,91/TTg ngày 07/03/1994 về việc tiếp tục sắp xếp lại các doanh nghiệp nhà nước và thí điểm thành lập các tập đoàn kinh tế, Tổng Công ty khi đó đã ra đời thay thế cho tên gọi có Xí nghiệp liên hợp (XNLH), Liên hợp các xí nghiệp (LHCXN) trong các năm trước đó. Theo luật doanh nghiệp nhà nước ban hành năm 1995, khái niệm Tổng Công ty được hiểu “là các doanh nghiệp nhà nước có quy mô lớn được thành lập và hoạt động trên cơ sở liên kết của nhiều đơn vị thành viên, có mối liên hệ gắn bó với nhau về lợi ích kinh tế, công nghệ, cung ứng, tiêu thụ, dịch vụ, thông tin, đào tạo, nghiên cứu, tiếp thị, hoạt động kinh doanh trong một số ngành, lĩnh vực quan trọng của nền kinh tế quốc dân”.
Với sự phát triển của nền kinh tế, nhận thức về Tổng Công ty trong Luật doanh nghiệp nhà nước năm 2003 (có hiệu lực từ ngày 01/07/2004) đã có những thay đổi. Theo đó “Tổng Công ty Nhà nước là hình thức liên kết kinh tế trên cơ sở tự đầu tư, góp vốn giữa các Công ty Nhà nước với các doanh nghiệp khác hoặc được hình thành trên cơ sở tổ chức và liên kết các đơn vị thành viên có mối quan hệ 5 gắn bó với nhau về lợi ích kinh tế, công nghệ, thị trường và các dịch vụ kinh doanh khác, hoạt động trong cùng một hoặc một số chuyên ngành kinh tế - kỹ thuật chính nhằm tăng cường khả năng kinh doanh và thực hiện lợi ích của các đơn vị thành viên và toàn Tổng Công ty”. Như vậy, theo Luật doanh nghiệp nhà nước hiện hành, Tổng Công ty nhà nước có đặc điểm như sau: - Tổng Công ty nhà nước là một hình thức liên kết kinh tế trên cơ sở tự đầu tư, tự góp vốn giữa các doanh nghiệp, các đơn vị thành viên được Nhà nước giao vốn, tài nguyên, đất đai và các nguồn lực khác thông qua Công ty mẹ, có trách nhiệm sử dụng có hiệu quả, bảo toàn và phát triển nguồn vốn được giao, có các quyền và nghĩa vụ dân sự, tự chịu trách nhiệm về hoạt động kinh doanh trong phạm vi số vốn nhà nước do Tổng Công ty quản lý. - Tổng Công ty có các đơn vị thành viên hạch toán độc lập, hạch toán phục thuộc và các đơn vị sự nghiệp có mối liên kết chặt chẽ với nhau về mặt lợi ích kinh tế, tài chính, kỹ thuật – công nghệ, chương trình đầu tư phát triển đào tạo kỹ năng quản lý, các dịch vụ về cung ứng vận chuyển, tiêu thụ, thông tin thị trưởng.
- Tổng Công ty giao vốn và các nguồn lực khác cho đơn vị thành viên trên cơ sở vốn và nguồn lực nhà nước đã giao cho Tổng Công ty, phù hợp với nhiệm vụ kinh doanh của từng đơn vị thành viên. - Mục tiêu của Tổng Công ty là nhằm nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh và khả năng cạnh tranh trên cơ sở phối hợp, liên kết và sử dụng hợp lý mọi nguồn lực của doanh nghiệp thành viên. Phân loại các Tổng Công ty * Phân loại theo tính chất chuyên môn hóa - Tổng Công ty chuyên ngành là Tồng Công ty hoạt động theo hướng chuyên môn hóa trong từng ngành kinh tế - kỹ thuật, các Công ty thành viên hoạt động trong cùng một ngành hẹp, hay cùng sản xuất một loại sản phẩm, phối hợp chặt chẽ với nhau để khai thác thế mạnh chuyên môn. Ở nhóm này có các Tổng Công ty như: Tổng Công ty Than, Tổng Công ty Chè, Tổng Công ty Dầu khí, Tổng Công ty Dệt may, Tổng Công ty Thép.
6 - Tổng Công ty đa ngành là Tổng Công ty kinh doanh nhiều ngành nghề khác nhau, song vẫn có một ngành, một lĩnh vực kinh doanh hạt nhân. Các ngành nghề và lĩnh vực kinh doanh tạo thành một kiểu cấu trúc 3 lớp: lớp trong cùng là ngành hạt nhân của Tổng Công ty, lớp thứ 2 gồm những ngành có liên quan mật thiết về Công nghệ hoặc thị trường với ngành hạt nhân, lớp ngoài cùng là các ngành được mở rộng, ít liên quan đến hạt nhân. * Phân loại theo hình thức liên kết giữa các đơn vị thành viên - Tổng Công ty liên kết theo chiều ngang: bao gồm các Công ty độc lập và có cùng một loại sản phẩm, một lĩnh vực kinh doanh liên kết với nhau. Nhiều nhà kinh tế cho rằng, tổng Công ty liên kết theo chiều ngang được ghép nối theo kiểu cơ học, không dựa trên cơ sở thống nhất về kỹ thuật Công nghệ của quá trình sản xuất.
Tuy nhiên, việc sắp xếp các doanh nghiệp sản xuất kinh doanh cùng một loại sản phẩm, cùng một thị trường tiêu thụ có thế đem lại lợi ích lớn hơn nhờ lợi thế về quy mô. - Tổng Công ty liên kết theo chiều dọc là mô hình Công ty liên kết theo kiểu cung ứng – sản xuất. Thông thường nó bao gồm các Công ty thành viên trong cùng một khối ngành kinh tế kỹ thuật, có mối quan hệ chặt chẽ với nhau trong việc sử dụng các sản phẩm, dịch vụ đầu ra của từng doanh nghiệp để tạo ra sản phẩm cuối cùng. Tổng Công ty Điện lực, Tổng Công ty Bưu chính viễn thông, Tổng Công ty Hàng không… thuộc mô hình này.
- Tổng Công ty liên kết hỗn hợp là hình thức liên kết có sự kết hợp giữa liên kết theo chiều dọc và liên kết theo chiều ngang, nó bao gồm các Công ty có thể thuộc cùng một ngành hoặc nhiều ngành khác nhau song có sự liên kết, hỗ trợ hoặc bổ sung cho nhau. Các Tổng Công ty theo mô hình này thường có quy mô lớn, kinh doanh đa ngành, đa lĩnh vực. Tổng Công ty Công nghiệp Hàng hải Việt Nam, Tổng Công ty Tàu thủy Việt Nam, Tổng Công ty Cao su Việt Nam… thuộc mô hình này. * Phân loại theo quy mô, các tổng Công ty ở Việt Nam được chia thành: - Tổng Công ty 90 là những Tổng Công ty được thành lập theo Quyết định 90/QĐ-TTg ngày 07/03/1994 của Thủ tướng chính phủ.
Các Tổng Công ty này có quy mô tương đối lớn (phải có ít nhất nhất 5 đơn vị thành viên và có vốn pháp định 7 trên 500 tỷ VNĐ). Một số ngành đặc thù vốn pháp định có thể thấp hơn song tối thiểu phải có 100 tỷ VNĐ. - Tổng Công ty 91 là những Tổng Công ty được thành lập theo Quyết định số 91/QĐ-TTg ngày 07/03/1994 của Thủ tướng chính phủ. Theo đó các thành viên của tổng Công ty 91 do Thủ tướng chính phủ chỉ định, quy mô của Tổng Công ty 91 phải có số vốn trên 1.000 tỷ VNĐ với ít nhất 7 đơn vị thành viên.
* Phân loại theo Luật DNNN ban hành năm 2003, các Tổng Công ty được phân thành 3 loại: - Tổng Công ty do Nhà nước quyết định đầu tư và thành lập là hình thức liên kết và tập hợp các Công ty thành viên hạch toán độc lập có tư cách pháp nhân, hoạt động trong một hoặc một số chuyên ngành kinh tế - kỹ thuật chính, nhằm tăng cường tích tụ, tập trung vốn và chuyên môn hóa kinh doanh của các đơn vị thành viên và toàn Tổng Công ty. - Tổng Công ty do các Công ty tự đầu tư và thành lập: là hình thức liên kết thông qua đầu tư, góp vốn của Công ty nhà nước quy mô lớn do Nhà nước sở hữu toàn bộ vốn điều lệ với các doanh nghiệp khác, trong đó Công ty Nhà nước giữ quyền chi phối doanh nghiệp khác. - Tổng Công ty đầu tư và kinh doanh vốn nhà nước là Tổng Công ty được thành lập để thực hiện quyền, nghĩa vụ của chủ sở hữu đối với các Công ty trách nhiệm hữu hạn nhà nước một thành viên chuyển đổi từ các Công ty nhà nước độc lập và Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên do mình thành lập; thực hiện chức năng đầu tư và kinh doanh vốn Nhà nước và quyền, nghĩa vụ chủ sở hữu đối với cổ phần, vốn góp của Nhà nước tại các doanh nghiệp đã chuyển đổi sở hữu hoặc hình thức pháp lý từ các Công ty nhà nước độc lập. Tổng Công ty hoạt động theo mô hình Công ty mẹ - Công ty con 1.
Khái niệm về Công ty mẹ - Công ty con Lịch sử phát triển của nền sản xuất hàng hóa trên thế giới đã chứng minh, từ những đơn vị sản xuất ban đầu, trải qua các giai đoạn hình thành và phát triển trên cơ sở tích tụ và tập trung vốn theo hướng tối ưu hóa, đến nay trên thế giới đã xuất 8 hiện và tồn tại các mô hình kinh tế khác nhau trong nhiều lĩnh vực sản xuất kinh doanh. Và một trong số những doanh nghiệp hoạt động hiệu quả ở nhiều nước trên thế giới là mô hình Công ty mẹ - Công ty con. Thực tế hiện nay tồn tại nhiều quan niệm khác nhau về mô hình Công ty mẹ - Công ty con. Tác giả Hồ Xuân Hùng cho rằng: “Công ty mẹ - Công ty con là một nhóm các Công ty trong đó có một Công ty mẹ có quyền sở hữu trực tiếp hoặc gián tiếp các Công ty trong nhóm.