CHƯƠNG I LÝ THUYẾT CƠ BẢN VỀ NSNN VÀ CƠ CẤU CHI NSNN Trang 2 VỚI CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU KINH TẾ 1. Ngân sách Nhà nước 1. Bản chất NSNN 1. Khái niệm về NSNN NSNN là một bộ phận quan trọng nhất của tài chính Nhà nước (TCNN).
Tuy nhiên, TCNN đã hình thành trước và từ rất lâu so với NSNN, nó gắn liền với sự ra đời của Nhà nước và cùng với sự xuất hiện của tiền tệ, làm tiền tệ hóa các khoản thuế và chi tiêu của Nhà nước. Nguyên nhân xuất hiện của TCNN: Quá trình sản xuất xã hội trải qua bốn khâu là sản xuất, phân phối, trao đổi và tiêu dùng. Trong lịch sử phát triển của loài người, ở giai đoạn đầu chưa có sự phân công lao động, mọi người trong cộng đồng làm chung và cùng hưởng sản phẩm làm ra dưới hình thức phân phối bình quân trực tiếp. Đến giai đoạn sau của chế độ cộng sản nguyên thủy, mặc dù đã có sự phân công lao động xã hội nhưng hình thức phân phối vẫn là bình quân trực tiếp nên chưa xuất hiện trao đổi hàng hóa và chưa cần thiết phải hình thành Nhà nước.
Khi phân công lao động xã hội đã phát triển, nền sản xuất hàng hóa giản đơn ra đời cùng với sự xuất hiện sản phẩm thặng dư và yêu cầu trao đổi hàng hóa. Xã hội phân hóa thành các tầng lớp giàu, nghèo, từ đó hình thành nên các giai cấp. Sự xuất hiện của giai cấp và đấu tranh giai cấp đã làm Nhà nước xuất hiện với bộ máy Nhà nước, mà Nhà nước muốn tồn tại được thì phải có TCNN. Như vậy, sản xuất hàng hóa là nguồn gốc hay nguyên nhân sâu xa quyết định sự ra đời của phạm trù TCNN.
Nhà nước sử dụng TCNN để nuôi dưỡng bộ máy Nhà nước và làm công cụ để thực hiện tốt chức năng cai trị, do đó Nhà nước là nguyên nhân trực tiếp quyết định sự ra đời của phạm trù TCNN. TCNN gắn liền với sự xuất hiện của nền sản xuất hàng hóa, gắn với sự ra đời và tồn tại của Nhà nước nên TCNN là một phạm trù kinh tế lịch sử, chỉ khi sản xuất hàng hóa không còn cần thiết và Nhà nước diệt vong thì mới không còn phạm trù TCNN. NSNN xuất hiện muộn hơn rất nhiều so với TCNN, nó chỉ ra đời và tồn tại khi mà: TCNN đã tồn tại và hoạt động; vai trò của TCNN không chỉ còn bó hẹp trong việc nuôi dưỡng bộ máy Nhà nước, mà còn thực hiện các chức năng, nhiệm vụ khác của xã hội; thể chế xã hội đã có sự biến đổi từ “Quân chủ” sang “Cộng hòa”, tức là đã có sự tách rời giữa cơ quan lập pháp và cơ quan hành pháp; luật pháp đã được hoàn chỉnh ở mức độ nhất định. Trang 3 Khi ra đời, chính NSNN đã tập hợp và cân đối thu - chi của Nhà nước, quy định bắt buộc mọi khoản chi phải theo dự toán, mọi khoản thu phải theo luật định, chấm dứt sự tùy tiện trong quản lý thu- chi của Nhà nước.
Khi nói về ngân sách Nhà nước, trên thế giới có nhiều cách định nghĩa về ngân sách, chẳng hạn như: Từ điển Bách khoa toàn thư của Liên Xô (cũ) viết: ngân sách là bảng liệt kê các khoản thu, chi bằng tiền trong một giai đoạn nhất định của Nhà nước. Mọi kế hoạch thu chi bằng tiền của bất kỳ một xí nghiệp, cơ quan hay một cá nhân nào trong một giai đoạn nhất định. Theo từ điển Novean Petit Lavosse của Pháp thì ngân sách được giải thích là bảng liệt kê dự kiến các khoản thu nhập và chi trả của một cơ quan hay một công xã. Theo từ điển của nước Anh giải thích thuật ngữ ngân sách là bảng kế toán về khả năng thu nhập (tiền thu vào) và chi tiêu (tiền xuất ra) trong một giai đoạn nhất định của tương lai, thường là một năm.
Một nhà kinh tế học người Anh khác lại cho rằng NSNN là bảng kê các khoản dự thu và dự chi trong thời kỳ nào đó, thường là một năm. Ở nước ta, một số ý kiến trước đây cho rằng NSNN là kế hoạch tài chính cơ bản của Nhà nước, là quỹ tiền tệ tập trung lớn nhất của Nhà nước, là bộ phận chủ đạo trong hệ thống tài chính. Tất cả những cách nhìn nhận như trên về NSNN là chưa thật sự đầy đủ cả về mặt xác định khái niệm cũng như làm rõ bản chất NSNN. Khái niệm về NSNN được hiểu đầy đủ theo Luật NSNN là toàn bộ các khoản thu, chi của Nhà nước đã được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền quyết định và được thực hiện trong một năm để đảm bảo thực hiện các chức năng nhiệm vụ của Nhà nước.
Bản chất NSNN Các biểu hiện của NSNN rất phong phú, đa dạng nhưng cũng rất rời rạc; đó là bảng tổng hợp các khoản thu, khoản chi của Nhà nước, là mức động viên các nguồn lực tài chính vào tay Nhà nước, những khoản đóng góp của các thành viên trong xã hội cho Nhà nước và cấp phát kinh phí của Nhà nước cho mỗi thành viên, mỗi tổ chức. NSNN tuy có những biểu hiện rời rạc, phân tán nhưng hoạt động của nó không hề mang tính tự phát mà nằm trong sự kiểm soát của Nhà nước. Các nội dung bên trong của NSNN có mối quan hệ ràng buộc rất chặt chẽ, các khoản thu Trang 4 ngân sách phần lớn mang tính chất bắt buộc, còn các khoản chi lại mang tính cấp phát. Chính những nội dung này đóng vai trò quyết định sự tồn tại của NSNN.
Hoạt động của NSNN là hoạt động phân phối các nguồn tài chính, là quá trình giải quyết các quyền lợi kinh tế giữa Nhà nước với xã hội. Từ đó, các nguồn tài chính được chia thành hai phần là phần nộp vào NSNN và phần để lại cho xã hội. Phần nộp vào ngân sách tiếp tục được phân phối lại thông qua các khoản cấp phát từ ngân sách cho tiêu dùng và đầu tư. Quá trình phân phối tổng sản phẩm quốc dân đã làm xuất hiện hệ thống các quan hệ tài chính thể hiện ở phần thu và phần chi NSNN.
Hệ thống các quan hệ tài chính tạo nên bản chất của NSNN. Các quan hệ tài chính này bao gồm: Quan hệ kinh tế giữa NSNN với các doanh nghiệp sản xuất kinh doanh; quan hệ kinh tế giữa NSNN với các đơn vị thuộc lĩnh vực phi sản xuất vật chất; quan hệ kinh tế giữa NSNN với hộ gia đình và dân cư; quan hệ kinh tế giữa NSNN với thị trường tài chính. Như vậy, mặc dù các biểu hiện của NSNN rất phong phú và đa dạng nhưng về thực chất chúng phản ảnh các nội dung cơ bản là: Thứ nhất, như đã phân tích ở trên, NSNN là một phạm trù kinh tế. Thứ hai, xét theo nội dung vật chất NSNN là quỹ tiền tệ tập trung lớn nhất của Nhà nước, được sử dụng để phục vụ các chức năng, nhiệm vụ của Nhà nước.
Quỹ tiền tệ này thể hiện lượng tiền huy động từ thu nhập quốc dân để đáp ứng cho các khoản chi tiêu của Nhà nước theo nguyên tắc không hoàn trả. Quỹ tiền tệ tập trung của ngân sách Nhà nước có cả hai mặt là mặt tĩnh và mặt động. Mặt tĩnh thể hiện số liệu các nguồn tài chính được tập trung vào ngân sách Nhà nước mà chúng ta có thể xác định được vào bất kỳ thời điểm nào. Mặt động thể hiện các quan hệ phân phối dưới hình thức giá trị gắn liền với quỹ tiền tệ tập trung của ngân sách Nhà nước, đó là số lượng các nguồn tài chính được tập trung vào ngân sách và từ ngân sách phân bổ các nguồn tài chính cho nền kinh tế quốc dân.
Thứ ba, xét về nội dung quản lý thì NSNN là kế hoạch tài chính cơ bản của Chính phủ. NSNN là một kế hoạch tài chính bao gồm các khoản thu và chi của Nhà nước được mô tả dưới hình thức cân đối bằng giá trị tiền tệ bao quát ba khu vực chủ yếu của nền kinh tế là Nhà nước, doanh nghiệp và hộ gia đình. Phần thu thể hiện các nguồn tài chính được huy động vào ngân sách Nhà nước. Phần chi thể hiện chính sách phân phối các nguồn tài chính đã huy động để thực hiện các mục tiêu kinh tế vĩ mô của quốc gia.
Ngân sách Nhà nước được lập và thực hiện cho một thời gian nhất định, thường là một năm, được Quốc hội phê chuẩn và thông qua. Trang 5 Thứ tư, xét về mặt pháp lý thì NSNN là một đạo luật tài chính có thời hạn trong thời gian là một năm. Thứ năm, cơ sở quyết định của ngân sách là kết quả hoạt động của nền kinh tế quốc dân. Từ đó, có thể đi đến kết luận một cách toàn diện và khoa học: Bản chất của NSNN, đó là tổng thể các mối quan hệ kinh tế được phát sinh trong quá trình phân phối bằng giá trị tổng sản phẩm xã hội và thu nhập quốc dân để hình thành quỹ tiền tệ tập trung nhằm thực hiện các chức năng và nhiệm vụ kinh tế - xã hội của Nhà nước trong một thời kỳ nhất định, thường là một năm.
Cơ cấu NSNN NSNN là một chỉnh thể kinh tế - xã hội được hợp thành bởi hai nội dung cơ bản là thu và chi; các nội dung lớn đó lại được hình thành từ các nội dung nhỏ. Do vậy, có thể nói NSNN là một chỉnh thể kinh tế - xã hội bao gồm nhiều nội dung thu - chi được sắp xếp theo một cơ cấu nhất định. Nói cách khác, cơ cấu NSNN chỉ mối quan hệ giữa các nội dung thu – chi của NSNN trong những khoảng thời gian nhất định nhằm phục vụ thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của Nhà nước. Cơ cấu NSNN được thể hiện qua các mối quan hệ như sau: Thứ nhất, cơ cấu NSNN được thể hiện qua các mối quan hệ dưới giác độ tổng thể như quan hệ giữa tổng thu với tổng chi, giữa tổng thu và tổng chi với tổng sản phẩm xã hội, giữa tổng thu và tổng chi với tổng kim ngạch xuất nhập khẩu, giữa tốc độ tăng thu và tăng chi với tốc độ tăng trưởng kinh tế ….
Mối quan hệ giữa tổng thu với tổng chi được xem là quan trọng và cơ bản nhất.