CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CHÍNH SÁCH TIỀN LƯƠNG TRONG DOANH NGHIỆP 1. Khái niệm, bản chất, vai trò và chức năng của tiền lương 1. Khái niệm tiền lương Tiền lương là một phạm trù kinh tế là số tiền mà người sử dụng lao động trả cho người lao động khi họ hoàn thành một công việc nào đó. Có nhiều quan điểm khác nhau về tiền lương.
Nó phụ thuộc vào các thời kỳ khác nhau và góc độ nhìn nhận khác nhau. Trong nền kinh tế thị trường: Điều 55, Bộ luật lao động có định nghĩa về tiền lương như sau: “ Tiền lương của người lao động do hai bên thỏa thuận trong hợp đồng lao động và được trả theo năng suất lao động, chất lượng và hiệu quả công việc. Mức lương của người lao động không được thấp hơn mức lương tối thiểu do Nhà nước quy định”. Thực chất tiền lương trong nền kinh tế thị trường là giá cả của sức lao động, là khái niệm thuộc phạm trù kinh tế, xã hội, tuân thủ theo nguyên tắc cung cầu giá cả thị trường và pháp luật hiện hành của nhà nước.
Tiền lương dưới chế độ TBCN: Trong thời kỳ TBCN, mọi tư liệu lao động đều thuộc sở hữu của các nhà tư bản, người lao động không có tư liệu lao động phải đi làm thuê cho chủ tư bản, do vậy tiền lương được hiểu theo quan điểm sau: “Tiền lương là giá cả của sức lao động mà người chủ lao động trả cho người lao động”. Quan điểm về tiền lương dưới chế độ TBCN được xuất phát từ việc coi sức lao động là một hàng hóa đặc biệt được đưa ra trao đổi và mua bán một cách công khai. Tiền lương luôn được coi là đối tượng quan tâm hàng đầu của người lao động và của các doanh nghiệp. Đối với người lao động thì tiền lương là thu Nguyễn Thanh Hòa Lớp QTDNA – K11 Học Viện Ngân Hàng 5 Khoa Quản trị kinh doanh nhập chủ yếu của bản thân người đó và với gia đình họ, còn đối với doanh nghiệp thì tiền lương lại là yếu tố nằm trong chi phí sản xuất.
Trong mỗi thời kỳ khác nhau, mỗi hình thái kinh tế xã hội khác nhau thì quan niệm về tiền lương cũng có sự thay đổi để phù hợp với hình thái kinh tế xã hội. Để hiểu rõ hơn về tiền lương chúng ta đi sâu phân tích các khái niệm: Tiền lương danh nghĩa: được hiểu là số lượng tiền tệ mà người lao động nhận được từ người sử dụng lao động, thông qua hợp đồng thỏa thuận giữa hai bên, theo quy định của pháp luật. Số tiền này nhiều hay ít phụ thuộc trực tiếp vào khả năng lao động và hiệu quả làm việc của người lao động, vào trình độ kinh nghiệm làm việc… ngay trong quá trình lao động. Tiền lương thực tế: là khối lượng hàng hóa sinh hoạt mà người lao động mua được bằng tiền lương danh nghĩa.
Tiền lương thực tế có quan hệ với tiền lương danh nghĩa và mức giá thông qua công thức: IT LDN ITLTT= IGC Trong đó: ITLTT : Chỉ số tiền lương thực tế ITLDN : Chỉ số tiền lương danh nghĩa IGC : Chỉ số giá Nếu tiền lương danh nghĩa không thay đổi. Chỉ số giá cả thay đổi do lạm phát, giá cả hàng hóa tăng, đồng tiền mất giá, thì tiền lương thực tế có sự thay đổi theo chiều hướng bất lợi cho người lao động. Nguyễn Thanh Hòa Lớp QTDNA – K11 Học Viện Ngân Hàng 6 Khoa Quản trị kinh doanh Tiền lương tối thiểu: Theo nghị định số 94/2006/NĐ- CP của Chính phủ ngày 27 tháng 09 năm 2006 về việc thi hành bộ luật lao động ghi rõ: “ Mức lương tối thiểu là mức lương của người lao động làm công việc đơn giản nhất ( không qua đào tạo, còn gọi là lao động phổ thông), với điều kiện lao động và môi trường bình thường”. Đây là mức lương thấp nhất mà nhà nước quy định cho các doanh nghiệp và các thành phần kinh tế, trả cho người lao động.
Mức lương tối thiểu chung được điều chỉnh tùy thuộc vào mức tăng trưởng kinh tế, chỉ số giá sinh hoạt và cung cầu lao động theo từng thời kỳ. Khi chỉ số giá sinh hoạt tăng lên làm cho tiền lương thực tế của người lao động bị giảm thì Chính phủ điều chỉnh mức lương tối thiểu để đảm bảo tiền lương thực tế.Bản chất của tiền lương Tiền lương chịu sự tác động của quy luật giá trị, quy luật cung cầu lao động và thường xuyên biến động xoay quanh giá trị sức lao động: Tiền lương là giá cả sức lao động được hình thành trên cơ sở thỏa thuận giữa người lao động và người sử dụng lao động thông qua hợp đồng lao động, phù hợp với quan hệ cung cầu sức lao động trên thị trường. Mặt khác, theo C.Mác giá trị sức lao động bao gồm: giá trị tư liệu sinh hoạt cần thiết để bù đắp lại sức lao động đã bị hao phí trong quá trình sản xuất, giá trị của những chi phí nuôi dưỡng những người trước và sau độ tuổi có khả năng lao động, giá trị của những chi phí đào tạo bồi dưỡng nâng cao trình độ. Những chi phí này chịu tác động rất lớn bởi những quy luật kinh tế khách quan trong sự phát triển chung của nền kinh tế xã hội.
Do vậy, tiền lương thường xuyên biến động xoay quanh giá trị sức lao động, nó phụ thuộc vào quan hệ cung – cầu và giá cả tư liệu sinh hoạt. Tiền lương vừa mang tính kinh tế vừa mang tính xã hội: Nguyễn Thanh Hòa Lớp QTDNA – K11 Học Viện Ngân Hàng 7 Khoa Quản trị kinh doanh Về mặt kinh tế, tiền lương là số tiền mà người sử dụng lao động trả cho người lao động trong một khoảng thời gian nào đó. Nó được xác định trên cơ sở tính toán mức độ phức tạp của công việc và tiêu hao lao động trong các điều kiện lao động trung bình của từng ngành nghề và các nhu cầu về sinh học, xã hội học. Mặt khác, tiền lương còn là số tiền đảm bảo cho người lao động có thể mua được những tư liệu sinh hoạt cần thiết để tái sản xuất sức lao động của bản thân và giành một phần để nuôi dưỡng các thành viên trong gia đình cũng như mua bảo hiểm cho bản thân khi hết tuổi lao động, điều này góp phần không nhỏ vào sự ổn định đời sống và trật tự xã hội.
Đó là quan hệ xã hội của tiền lương. Tiền lương là chi phí của người sử dụng lao động, là yếu tố cấu thành chi phí sản xuất: Trong hạch toán kinh tế tại các doanh nghiệp tiền lương là một bộ phận chi phí cấu thành chi phí sản xuất. Vì vậy, tiền lương được tính toán và quản lý chặt chẽ. Đối với người lao động, tiền lương là bộ phận thu nhập từ quá trình lao động, ảnh hưởng trực tiếp tới mức sống của họ.
Phấn đấu nâng cao tiền lương trên cơ sở nâng cao năng suất lao động là mục đích của doanh nghiệp và người lao động. Mục đích này tạo động lực để phát triển doanh nghiệp và nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ của người lao động. Đứng trên phạm vi toàn xã hội, tiền lương được xem xét và đặt trong quan hệ về phân phối thu nhập, quan hệ sản xuất và tiêu dùng, quan hệ về trao đổi…do vậy, các chính sách về tiền lương luôn là các chính sách trọng tâm của mọi quốc gia nói chung và của các tổ chức, cá nhân sử dụng lao động nói riêng.Vai trò của tiền lương Đối với người lao động : Nguyễn Thanh Hòa Lớp QTDNA – K11 Học Viện Ngân Hàng 8 Khoa Quản trị kinh doanh Để thỏa mãn các nhu cầu vật chất và tinh thần cho bản thân, con người phải tham gia vào quá trình lao động. Thông qua quá trình lao động, họ sẽ nhận được khoản tiền tương đương với sức lao động đã bỏ ra để ổn định cuộc sống.
Hay nói cách khác tiền lương là nguồn thu nhập chính của người lao động để ổn định kinh tế gia đình, đủ chi trả, có tích lũy. Ngoài ra, tiền lương còn là đòn bẩy kinh tế khuyến khích tinh thần hăng hái lao động, kích thích và tạo mối quan tâm của người lao động đến kết quả của họ. Nói cách khác, tiền lương là nhân tố thúc đẩy năng suất lao động. Đối với doanh nghiệp : Tiền lương là một chi phí của doanh nghiệp, việc thực hiện chính sách trả lương có vai trò thúc đẩy doanh nghiệp hoàn thiện tổ chức sản xuất, tổ chức quản lý, nâng cao hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp.
Với chế độ trả lương thích hợp nhất cho người lao động trong doanh nghiệp sẽ làm cho người lao động vì lợi ích kinh tế mà ra sức học tập, nâng cao trình độ văn hóa, tay nghề, khoa học kỹ thuật, phát huy sáng kiến cải tiến công nghệ, quan tâm tới kết quả sản xuất và nâng cao hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp. Đối với xã hội : Tiền lương là yếu tố kích thích việc hoàn thiện các mối quan hệ lao động. Thực tế cho thấy việc duy trì các mức tiền lương cao và tăng không ngừng được thực hiện trên cơ sở đảm bảo hài hòa các mối quan hệ lao động trong doanh nghiệp. Việc gắn tiền lương với hiệu quả sản xuất kinh doanh của người lao động và đơn vị kinh tế sẽ thúc đẩy các mối quan hệ hợp tác, giúp đỡ lẫn nhau, nâng cao hiệu quả cạnh tranh của doanh nghiệp.
Bên cạnh đó tạo tiền đề cho sự phát triển toàn diện của con người và thúc đẩy xã hội phát triển theo hướng dân chủ và văn minh. Chức năng xã hội của tiền lương còn được thể hiện ở góc độ điều phối thu nhập trong nền kinh tế quốc dân tạo nên sự công bằng xã hội trong việc Nguyễn Thanh Hòa Lớp QTDNA – K11 Học Viện Ngân Hàng 9 Khoa Quản trị kinh doanh trả lương cho người lao động trong cùng một ngành nghề, một khu vực và giữa các ngành nghề, khu vực khác nhau.Chức năng của tiền lương Tiền lương là phần thu nhập chủ yếu của người lao động do vậy khi thực hiện việc chi trả lương chúng ta cần phải biết được các chức năng của tiền lương như sau: 1. Chức năng thước đo giá trị của sức lao động Tiền lương là giá cả sức lao động, là sự biểu hiện bằng tiền của giá trị sức lao động.