chương 1 trình bày sự phát triển lý luận tiền lương của trường phái kinh tế cổ điển Anh bắt đầu từ W. Ricardo, các lý thuyết tiền lương của trường phái tân cổ điển và lý luận tiền công (tiền lương) của C. Trên cơ sở phê phán, kế thừa và phát triển lý luận tiền lương trường phái cổ điền Anh, C. Mác đã vạch rõ bản chất bóc lột của tiền lương trong chủ nghĩa tư bản và nêu rõ tiền lương là giá cả của hàng hoá sức lao động, là biểu hiện bằng tiền của giá trị sức lao động.
Tiền lương là giá trị của toàn bộ các tư liệu sinh hoạt cần thiết để sản xuất và tái sản xuất sức lao động, để duy trì đời sống của người công nhân bao gồm giá trị những tư liệu sinh hoạt để duy trì cuộc sống của bản thân người công nhân, của con cái họ và chi phí đào tạo. Mác cũng đã chỉ rõ những nhu cầu thiết yếu của người lao động và phương thức thoả mãn những nhu cầu đó là một sản phẩm của lịch sử và phụ thuộc phần lớn vào trình độ văn minh của mỗi quốc gia, do đó tiền lương luôn luôn bao hàm yếu tố lịch sử và tinh thần. Trên cơ sở định nghĩa tiền lương của ILO, khái niệm chính sách tiền lương, chương này đã phân tích cụ thể những nội dung, yêu cầu của chính sách tiền lương trong nền kinh tế thị trường như: chính sách tiền lưong phản ánh những yêu cầu quy luật của kinh tế thị trường (quy luật giá trị, quy luật cung cầu, quy luật cạnh tranh, quy luật tối đa hoá lợi ích); chính sách tiền lương là công cụ điều tiết phân phối thu nhập; chính sách tiền lương chỉ phù hợp với từng giai đoạn do đó nó luôn luôn phải được cải tiến, hoàn thiện. iii Cơ sở lý thuyết là học thuyết của C.
Mác về tiền lương; cơ sở thực tiễn với các yếu tố: trình độ phát triển sản xuất và NSLĐ; hệ thống nhu cầu tối thiểu của người lao động và yêu cầu đảm bảo tái sản xuất sức lao động của tiền lương; tình hình thị trường: các yếu tố cung cầu, tiền tệ… ; mục tiêu phát triển KT - XH từng giai đoạn, tăng trưởng kinh tế gắn với tiến bộ và công bằng xã hội ; sử dụng nhân tài, luân chuyển sức lao động trong điều kiện hội nhập quốc tế… và cơ sở pháp lý Bộ Luật Lao động (được bổ sung, sửa đổi) và Pháp lệnh cán bộ, công chức (được bổ sung sửa đổi) là các căn cứ để hình thành và hoàn thiện chính sách tiền lương trong nền kinh tế thị trường định hướng XHCN ở Việt Nam. Yêu cầu hình thành và phát triển thị trường sức lao động; những mâu thuẫn, bất cập trong chính sách tiền lương hiện tại; yêu cầu của quá trình tái sản xuất và tái sản xuất sức lao động; vấn đề giữa tiến bộ và giải quyết công bằng xã hội; toàn cầu hoá và yêu cầu của quá trình hội nhập đã đặt ra các yêu cầu cấp thiết phải hoàn thiện chính sách tiền lương ở Việt Nam. Với tình hình và các yêu cầu n êu trên thì Việt Nam không thể duy trì mãi chính sách tiền lương với mức lương tối thiểu quá thấp, chưa đủ tái sản xuất sức lao động giản đơn mà phải hoàn thiện chính sách tiền lương ở Việt Nam đáp ứng được yêu cầu tái sản xuất và hơn thế là tái sản xuất mở rộng sức lao động trên các phương diện: thể lực, trí lực, văn hóa tinh thần và chi phí đào tạo cho cả người lao động lẫn con cái họ. Trong chương này những kinh nghiệm từ thực tiễn giải quyết chính sách tiền lương ở Trung Quốc và Thái Lan cũng được nghiên cứu, xem xét và rút ra những bài học cần thiết để học tập trong quá trình hoàn thiện chính sách tiền lương trong nền kinh tế thị trường định hướng XHCN ở Việt Nam.
iv Chương 2 THỰC TRẠNG ĐỔI MỚI VÀ HOÀN THIỆN CHÍNH SÁCH TIỀN LƯƠNG TRONG NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG ĐỊNH HƯỚNG XHCN Ở VIỆT NAM Nội dung chương này trình bày khái quát tình hình cải cách tiền lương trong quá trình chuyển sang nền kinh tế thị trường định hướng XHCN qua các đợt cải cách tiền lương năm 1985, cải cách năm 1993 và cải cách năm 2004. Chương này cũng tập trung đánh giá thực trạng tình hình chính sách tiền lương hiện hành. Qua đánh giá thực trạng đã nêu lên các thành tựu, các mặt hạn chế, nguyên nhân các mặt hạn chế và những vấn đề đặt ra cần giải quyết. Khái quát tình hình cải cách tiền lương trong quá trình chuyển sang kinh tế thị trường định hướng XHCN ở Việt Nam 2.
Cải cách tiền lương năm 1985. Những nội dung cơ bản của chính sách tiền lương năm 1985 là: 2. Quy định mức lương tối thiểu là 220 đồng/tháng, mức lương tối đa là 770 đồng/tháng (Bộ trưởng). Quan hệ tiền lương chung được xác định (1 - 1,32 - 3,5).
Trong cơ cấu tiền lương nhà nước chi trả vẫn gồm 2 phần: phần bằng tiền trả trực tiếp và phần trả gián tiếp qua NSNN. Hệ thống thang, bảng lương gồm: - Các thang, bảng lương khu vực hành chính, sự nghiệp được tổ chức theo tiền lương chức vụ: v Bảng 2.1: Bảng lương kèm theo Nghị định số 235/HĐBT ngày 18/9/1985 (trích) …. DI/4 – CHÍNH TRỊ, KINH TẾ Cán sự 256 272 290 310 333 359 Chuyên viên: 290 310 333 359 390 425 Chuyên viên chính: 425 463 505 Chuyên viên cao cấp: 505 550 596 Cố vấn: 644 693 743 - Hệ thống thang lương của công nhân sản xuất được tổ chức theo nhóm ngành kinh tế kỹ thuật gồm 2 thang lương 7 bậc và 3 thang lương 6 bậc. Hệ thống các chế độ phụ cấp lương gồm 13 loại phân Mỗi loại phụ cấp có từ 2 - 5 mức, tỷ lệ phụ cấp được xác định từ 5 % - 25% so với mức lương cấp bậc hay chức vụ.
Cơ chế quản lý tiền lương Thực hiện cơ chế mới, trong đó tiền lương đối với các đơn vị sản xuất kinh doanh chỉ là thông số để tính toán, nhà nước chỉ khống chế lương tối thiểu, không khống chế thu nhập tối đa. Từ năm 1986 đến 1993: nhiều lần thực hiện chỉnh tiền lương danh nghĩa bằng các chế độ phụ, trợ cấp. Áp dụng trở lại chế độ bán 6 mặt hàng định lượng (gạo, thịt, nước mắm, đường, chất đốt và xà phòng) theo giá thấp. Cải cách tiền lương năm 1993.
Chế độ tiền lương năm 1993 đã được Quốc hội thông qua và được triển khai thực hiện từ 01/4/1993 với những nội dung cơ bản sau: 2. Về mức tiền lương tối thiểu vi Mức tiền lương tối thiểu của công nhân viên chức nhà nước được tiếp cận theo 4 cách: Từ nhu cầu tối thiểu của người lao động có nuôi con với cơ cấu tiền lương tối thiểu gồm 9 yếu tố (ăn, mặc, ở, đi lại, học tập, giao tiếp xã hội, bảo hiểm y tế, BHXH và bảo hiểm thất nghiệp); Từ kết quả điều tra tiền lương và thu nhập của công nhân viên chức nhà nước; Từ thực trạng mức tiền lương tối thiểu của công nhân viên chức nhà nước cộng với tiền tệ hóa các khoản bao cấp ngoài tiền lương từ NSNN về nhà ở, học tập, chữa bệnh, đi lại, đồ dùng gia đình, bù tiền điện, nước sinh hoạt…; Từ khả năng nền kinh tế thông qua quỹ tiêu dùng cá nhân dân cư trong kết cấu GDP. Quốc hội khóa IX, kỳ họp thứ 2 đã thông qua chính sách tiền lương năm 1993, mức tiền lương tối thiểu áp dụng từ 1/4/1993 là 120. Từ 1/4/1993 đến năm 2004 đã thực hiện điều chỉnh tiền lương tối thiểu: - Thời điểm 1/4/1993 tính mức 110.
- Tháng 12/1993, tính đủ mức tiền lương tối thiểu 120. - Tháng 1/1997, nâng mức tiền lương tối thiểu lên 144. - Tháng 1/2000, nâng mức tiền lương tối thiểu lên 180. - Tháng 1/2001, nâng mức tiền lương tối thiểu lên 210.000 đ/tháng và tháng 1/2003 nâng mức tiền lương tối lên 290.
Về các hệ thống thang lương, bảng lương của cán bộ, công chức - Hệ thống bảng lương chức vụ dân cử, bầu cử: + Đối với các chức vụ dân cử ở TW: Chủ tịch nước có hệ số mức lương cao nhất là 10 (bằng Tổng Bí thư). Bộ trưởng và Chủ nhiệm các Uỷ ban Quốc hội, có hệ số mức lương là 8,2. Chủ tịch Hội đồng nhân dân và Chủ tịch Uỷ ban nhân dân Thành phố Hải phòng và các tỉnh có hệ số mức lương là 7,3. - Hệ thống thang, bảng lương cán bộ, công chức hành chính, sự nghiệp: vii Hệ thống thang lương, bảng lương công chức đã được thiết kế và áp dụng cho công chức thuộc 21 ngành, gồm: Tòa án, Kiểm sát và 19 ngành hành chính, sự nghiệp.
Về hệ thống thang lương, bảng lương của doanh nghiệp nhà nước Hệ thống thang lương, bảng lương trong các doanh nghiệp nhà nước gồm: - 2 thang lương công nhân trực tiếp sản xuất, kinh doanh được chia theo 21 ngành, trong đó lấy thang lương cơ khí điện tử tin học làm chuẩn, tổng số có 423 hệ số lương với 181 hệ số mức lương khác nhau, cao nhất có hệ số là 4,24, thấp nhất là 1,08. Về các chế độ phụ cấp lương - Các chế độ phụ cấp khi cải cách tiền lương năm 1993: có 8 loại phụ cấp: phụ cấp chức vụ; phụ cấp khu vực; phụ cấp thu hút; phụ cấp trách nhiệm; phụ cấp làm đêm; phụ cấp lưu động; phụ cấp độc hại, nguy hiểm và phụ cấp đắt đỏ. Cơ chế quản lý tiền lương: Thực hiện nguyên tắc làm công việc gì thì hưởng lương theo công việc đó; làm việc ở ngạch công chức nào thì xếp lương ở ngạch công chức đó, việc nâng ngạch phải thông qua thi. Cải cách tiền lương năm 2004.
Về tiền lương tối thiểu: Về điều chỉnh mức lương tối thiểu chung: đã 4 lần thực hiện điều chỉnh tăng mức lương tối thiểu chung và năm 2005 đạt mức 540. Về quan hệ tiền lương: đã thực hiện mở rộng quan hệ mức lương tối thiểu – trung bình (đại học hết tập sự) - tối đa (chuyên gia cao cấp bậc 3, tương đương mức lương Bộ trưởng) từ 1 – 1,78 – 8,5 lên 1 – 2,34 – 10 (trong các công ty nhà nước là 1 – 2,34 – 9,1). Đã thu gọn hệ thống thang lương, bảng lương áp dụng đối với cán bộ, công chức, viên chức, cụ thể: viii - Quy định bảng lương chức vụ đối với các chức danh từ Bộ trưởng và tương đương trở lên. Các chức danh lãnh đạo (bầu cử, bổ nhiệm) còn lại từ TW đến cấp huyện thực hiện xếp lương chuyên môn theo ngạch, bậc công chức, viên chức và hưởng phụ cấp chức vụ lãnh đạo.
Thực trạng chính sách tiền lương hiện hành.