mở đầu, kết luận và tài liệu tham khảo, nội dung luận văn gồm 3 chương: - Chƣơng 1: Những vấn đề lý luận và kinh nghiệm quốc tế về cải cách DNNN trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế. - Chƣơng 2: Thực trạng cải cách DNNN Việt Nam và những vấn đề đặt ra trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế. - Chƣơng 3: Định hƣớng và giải pháp tiếp tục cải cách DNNN theo hƣớng hội nhập kinh tế quốc tế. 6 CHƢƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ KINH NGHIỆM QUỐC TẾ VỀ CẢI CÁCH DNNN TRONG ĐIỀU KIỆN HỘI NHẬP KINH TẾ QUỐC TẾ 1.
DNNN VÀ VAI TRÒ CỦA NÓ TRONG NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG ĐỊNH HƯỚNG XÃ HỘI CHỦ NGHĨA Ở VIỆT NAM 1. Khái niệm DNNN Trước đổi mới kinh tế (năm 1986), ở Việt Nam quan niệm DNNN là doanh nghiệp được thành lập bằng 100% vốn của Nhà nước. Sau đổi mới, Việt Nam chủ trương chuyển từ nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung sang cơ chế thị trường thì quan niệm về DNNN đã có sự thay đổi. Theo luật DNNN Việt nam năm 1995, DNNN được hiểu là tổ chức kinh tế do Nhà nước đầu tư vốn, thành lập và tổ chức quản lý, hoạt động kinh doanh hoặc công ích, nhằm thực hiện các mục tiêu Nhà nước giao.
Doanh nghiệp Nhà nước có tư cách pháp nhân, có các quyền và nghĩa vụ dân sự, tự chịu trách nhiệm về toàn bộ hoạt động sản xuất kinh doanh trong phạm vi số vốn do Nhà nước quản lý. Theo luật này thì các DNNN phải là các doanh nghiệp có 100% vốn thuộc Nhà nước, nhưng Nhà nước không quản lý trực tiếp tất cả mọi hoạt động kinh doanh. Quan điểm về DNNN sau đó có thay đổi cho phù hợp hơn với đặc điểm của DNNN. Luật DNNN năm 2003 có sự điều chỉnh về khái niệm DNNN như sau: DNNN là tổ chức kinh tế do Nhà nước sở hữu toàn bộ vốn điều lệ hoặc cổ phần, vốn góp chi phối, được tổ chức dưới hình thức công ty Nhà nước, công ty cổ phần, công ty trách nhiệm hữu hạn.
Như vậy, theo luật này, DNNN không nhất thiết là nhà nước phải đầu tư 100% vốn như đã quy định tại luật DNNN Việt nam năm 1995, có thể nhà nước chỉ cần giữ phần vốn góp chi phối. Năm 2005, Quốc hội ban hành luật Doanh nghiệp chung (thay cho luật DNNN và Doanh nghiệp tư nhân như trước đây). Theo luật này, DNNN là doanh nghiệp do nhà nước sở hữu trên 50% vốn điều lệ (Khoản 22, điều 4, Luật 7 Doanh nghiệp 2005). Theo luật này, khái niệm về DNNN đã được mở rộng hơn trước đó là chỉ cần nhà nước giữ cổ phần chi phối trong các DNNN.
Như vậy, DNNN là doanh nghiệp được thành lập bởi 100% vốn Nhà nước hoặc những doanh nghiệp mà Nhà nước giữ cổ phần chi phối.2 Phân loại DNNN Căn cứ vào từng tiêu chí khác nhau, người ta có nhiều cách phân loại DNNN khác nhau. Theo Luật doanh nghiệp Việt nam , có 3 cách phân loại DNNN: a. Phân loại theo chức năng: Theo cách phân loại này, DNNN bao gồm 2 loại là doanh nghiệp hoạt động kinh doanh và doanh nghiệp hoạt động công ích. Trong đó doanh nghiệp hoạt động kinh doanh: là DNNN hoạt động với mục tiêu là lợi nhuận, căn cứ vào lợi nhuận để đề ra các chiến lược hoạt động còn doanh nghiệp hoạt động công ích: là những doanh nghiệp hoạt động sản xuất cung ứng dịch vụ công cộng theo các chính sách của nhà nước hoặc trực tiếp thực hiện nhiệm vụ quốc phòng.
Phân loại theo sở hữu: Theo cách phân loại này, DNNN gồm có 2 loại là DNNN chỉ có một chủ sở hữu, DNNN có nhiều chủ sở hữu vốn. Loại DNNN chỉ có một chủ sở hữu là doanh nghiệp trong đó nhà nước nắm giữ 100% vốn của doanh nghiệp. Doanh nghiệp có nhiều chủ sở hữu lại bao gồm 2 loại: Một là các loại DNNN mà nhà nước nắm giữ dưới 50% cổ phần nhưng trong đó cổ phần của nhà nước ít nhất gấp 2 lần cổ phần của cổ đông lớn nhất. Hai là loại DNNN mà trong đó nhà nước không có cổ phần chi phối, nhưng có quyền quyết định một số vấn đề quan trọng của doanh nghiệp theo thoả thuận trong điều lệ.
Phân loại doanh nghiệp theo cấp quản lý: Theo cách phân loại này có 2 loại DNNN là DNNN địa phương và DNNN trung ương. Doanh nghiệp trung ương là những doanh nghiệp do cơ quan trung ương nhà nước giữ cổ phần chi phối. Còn doanh nghiệp địa phương 8 là những doanh nghiệp do các cơ sở địa phương quản lý và chịu sự điều hành của cấp địa phương này. Vai trò của DNNN trong nền kinh tế thị trƣờng định hƣớng XHCN ở Việt Nam DNNN có ba vai trò cơ bản, đó là: Vai trò kinh tế, vai trò chính trị, vai trò xã hội.
Do vậy nó có vai trò quan trọng trong nền kinh tế của mỗi quốc gia: tạo tiềm lực vật chất cho Nhà nước, là công cụ để Nhà nước can thiệp, điều tiết nền kinh tế, đồng thời DNNN giúp thực hiện những nhiệm vụ chính trị, xã hội của Nhà nước. Vai trò kinh tế Trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa nhà nước tác động vào nền kinh tế theo hai cách: điều tiết thông qua các công cụ, chính sách quản lý vĩ mô chung và tác động trực tiếp thông qua hoạt động của các DNNN. Do đó vai trò kinh tế của các DNNN trong nền kinh tế thị trường được thể hiện ở các mặt cơ bản sau: Thứ nhất, DNNN giúp khắc phục những khuyết tật của cơ chế thị trường và khu vực tư nhân. Đây là vai trò quan trọng nhất của các DNNN trong nền kinh tế thị trường nói chung.
Với tính định hướng xã hội chủ nghĩa, vai trò này càng phải được đề cao vì tất cả những khuyết tật của thị trường đều làm giảm hiệu quả xã hội của hệ thống kinh tế do đó cần khắc phục. Vai trò của DNNN thể hiện rõ nét ở hai lĩnh vực đó là: đảm nhận sản xuất các hàng hoá công cộng và đảm nhận vai trò quan trọng trong các ngành độc quyền tự nhiên. Đối với các hàng hoá công cộng, nhất là hàng hoá công cộng thuần tuý, do tính chất của loại hàng hoá này là không loại trừ và không thể phân chia nên các doanh nghiệp tư nhân sẽ không tham gia mà chỉ có DNNN tham gia sản xuất mới tạo ra được tính hiệu quả. Còn đối với những ngành độc quyền, đây là những ngành mà chi phí sản xuất chỉ có thể tối thiểu nếu toàn bộ sản lượng ngành chỉ do một nhà sản xuất cung cấp.
Do vậy DNNN đảm nhiệm trong lĩnh vực này là cần thiết. 9 Thứ hai, DNNN đảm nhận các lĩnh vực sản xuất kinh doanh có tính chiến lược đối với sự phát triển kinh tế xã hội đòi hỏi vốn đầu tư lớn vượt quá khả năng của tư nhân Vai trò này được đề cao đặc biệt ở nước ta. Đó là vì nền kinh tế Việt Nam chưa phát triển, khả năng tích tụ và tập trung vốn của các doanh nghiệp ngoài quốc doanh chưa cao. Do vậy các DNNN với tiềm lực mạnh mẽ sẽ đảm nhiệm các lĩnh vực này.
Để thực hiện được vai trò nêu trên cần có các điều kiện như sau: Một là, phải thực sự xuất hiện lĩnh vực, ngành có tính chiến lược của quốc gia; Hai là, khả năng thực hiện đầu tư tư nhân thấp; Ba là, đội ngũ cán bộ và bộ máy nhà nước đủ sức vận hành dự án đầu tư từ khâu lập dự án đến tổ chức và giám sát thực hiện. Thứ ba, tham gia vào những lĩnh vực mới, có hệ số rủi ro cao. DNNN có vai trò mở đường trong phát triển nền kinh tế nói chung. Do vậy khi tham gia vào những lĩnh vực mới, có hệ số rủi ro cao tức là các DNNN đang làm đúng theo vị trí, vai trò then chốt của mình.
Để thực hiện được vai trò này, phải là những doanh nghiệp nhà nước đặc biệt, có quy mô lớn, được cơ quan nhà nước quy định chức năng, nhiệm vụ rõ ràng. Trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa như Việt Nam, DNNN thực hiện nhiệm vụ này theo hai hướng là vừa trực tiếp tham gia cạnh tranh với các doanh nghiệp tư nhân, vừa có các doanh nghiệp tài chính thực hiện hoạt động đầu tư, tài trợ cho các doanh nghiệp khác thông qua cơ chế vốn, mua cổ phần. tham gia vào một số ngành có lợi thế cạnh tranh Đây là vai trò vừa mang tính chất kinh tế, vừa mang tính chất chính trị. Đối với Việt nam trong giai đoạn hiện nay, vai trò tham gia vào những ngành có lợi thế cạnh tranh và thu ngân sách cao vẫn còn phát huy tác dụng, ít nhất cho đến khi tiềm lực tài chính công đủ mạnh.
Tuy nhiên, trong tương lai, vai trò này dần sẽ mất đi, những DNNN trong khu vực này sẽ được chuyển đổi sở hữu, nhường chỗ cho khu vực tư nhân.Vai trò chính trị Doanh nghiệp nhà nước dù ở mô hình nào cũng có vai trò chính trĩ rõ rệt. Trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa vai trò chính trị của các DNNN có thể thay đổi theo từng thời kỳ, tuỳ thuộc vào các yếu tố khách quan và chủ quan. Tuy nhiên về nguyên tắc, vai trò chính trị thể hiện ở hai nội dung cơ bản: Thứ nhất, nắm giữ những ngành đặc biệt quan trọng liên quan đến an ninh quốc phòng của quốc gia. Thứ hai, tham gia chiếm giữ một số vị trí thiết yếu, quan trọng (tuỳ theo từng thời kỳ phát triển kinh tế) để chủ động định hướng xã hội, làm đối trọng trong phát triển hội nhập kinh tế quốc tế.
Vai trò xã hội Vai trò xã hội của DNNN trong nền kinh tế thị trường thường gắn liền với vai trò kinh tế và vai trò chính trị của khu vực này. Vai trò xã hội của các DNNN được thể hiện ở các nội dung sau: Thứ nhất, DNNN có vai trò là công cụ của nhà nước làm bà đỡ cho hệ thống doanh nghiệp phát triển ổn định. Thực hiện vai trò này, nhà nước với tư cách là chủ sở hữu phải gánh chịu những thiệt hại về kinh tế nhưng do quy mô tác động ở nhiều ngành, có thể bù trừ thu nhập về tổng thể, hoàn toàn có thể không cần hỗ trợ lớn từ ngân sách. Thứ hai, DNNN đảm nhận những ngành ở những địa bàn khó khăn có ý nghĩa chính trị – xã hội mà tư nhân không đầu tư, thực hiện sự bảo đảm cân bằng về đầu tư phát triển theo vùng, địa bàn.