Chương 1: Lý luận chung về chính sách tiền lương và tiền thưởng trong doanh nghiệp Nội dung cƣơng này sẽ trình bày tổng quan về tiền lƣơng và các hình thức trả lƣởng trong doanh nghiệp. Chương 2: Thực tế tình hình quản trị chính sách tiền lương và tiền thưởng tại công ty Cổ phần Bạch Đằng. Nội dung cƣơng này sẽ giới thiệu tổng quan quá trình hình thành và phát triển của công ty Cổ phần Bạch Đằng, phƣơng châm, mục tiêu hoạt động kinh doanh của công ty; các quy chế, quy định về tiền lƣơng, thang lƣơng, bảng lƣơng và thực trạng công tác tiền lƣơng tại công ty. Ma Thị Huyền – QTDNB_K14 Khoa Quản Trị Kinh Doanh Khóa Luận Tốt Nghiệp 4 Học Viên Ngân Hàng Chương 3: Đề xuất một số giải pháp nhằm hoàn thiện chính tiền lương và tiền thưởng tại công ty Cổ phần Bạch Đằng.
Vận dụng các lý thuyết dã trình bày ở chƣơng I và thực trạng những vấn đề còn tồn tại đƣợc xác định ở chƣơng II, đề tài sẽ đƣa ra các kiến nghị và kết luận để chính sách tiền lƣơng của công ty ngày càng hoàn thiện hơn. Ma Thị Huyền – QTDNB_K14 Khoa Quản Trị Kinh Doanh Khóa Luận Tốt Nghiệp 5 Học Viên Ngân Hàng CHƢƠNG 1: LÝ LUẬN CHUNG VỀ CHÍNH SÁCH TIỀN LƢƠNG TRONG DOANH NGHIỆP 1. Khái niệm tiền lương Tiền lƣơng là một thành phần của thù lao lao động. Đó là phần thù lao cố định bằng tiền mặt mà ngƣời lao động nhận đƣợc một cách thƣờng kỳ thông qua quan hệ thuê mƣớn giữa họ với tổ chức.
Sơ đồ sau sẽ bao quát vị trí của tiền lƣơng trong hệ thống thù lao mà ngƣời lao động đƣợc hƣởng khi họ tham gia làm việc, cống hiến cho một tổ chức: Tiền mặt - Tiền Lƣơng - Tiền Thƣởng - Hoa hồng. Phúc lợi Phi tài chính Bảo hiểm,lƣơng hƣu Công việc tốt, phù hợp Nghỉ lễ, nghỉ mát Môi trƣờng làm việc Chăm sóc sức khỏe Điều kiện làm việc,cơ hội Chƣơng trình giải trí thăng tiến.1: Hệ thống thù lao của ngƣời lao động (Nguồn: GT Quản Trị Nguồn Nhân Lực, George T.Boudreau) Qua các thời kỳ khác nhau thì tiền lƣơng cũng đƣợc hiểu theo những cách khác nhau. Trong nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung tiền lƣơng là một phần của thu nhập quốc dân, đƣợc nhà nƣớc phân phối một cách có kế hoạch cho ngƣời lao động theo số lƣợng và chất lƣợng lao động. Hay nói cách khác, tiền lƣơng chịu sự tác động của quy luật phát triển cân đối, có kế hoạch và chịu sự cho phối của trực tiếp của nhà nƣớc.
Trong nền kinh tế thị trƣờng, bản chất của tiền lƣơng đã thay đổi do Ma Thị Huyền – QTDNB_K14 Khoa Quản Trị Kinh Doanh Khóa Luận Tốt Nghiệp 6 Học Viên Ngân Hàng có sự tồn tại khách quan của thị trƣờng sức lao động nên tiền lƣơng không chỉ thuộc phạm trù phân phối mà còn là phạm trù trao đổi, phạm trù giá trị. Tiền lƣơng là giá của hàng hoá sức lao động, đƣợc hình thành qua thoả thuận giữa ngƣời sử dụng lao động và ngƣời lao động phù hợp với quan hệ cung cầu lao động trên thị trƣờng. Nhƣ vậy, từ chỗ coi tiền lƣơng chỉ là yếu tố của phân phối, thì nay đã coi tiền lƣơng là yếu tố của sản xuất. Tức là chi phí tiền lƣơng không chỉ để tái sản xuất sức lao động, mà còn là đầu tƣ cho ngƣời lao động.
Ngày nay, ngƣời ta đã đi đến thống nhất về khái niệm tiền lƣơng, dù cách diễn đạt về khái niệm này có thế có những điểm khác nhau. Theo tổ chức Lao động Quốc tế: “Tiền lương là sự trả công hoặc thu nhập, bất luận tên gọi hay cách tính thế nào mà có thể biểu hiện bằng tiền và được ấn định bằng thỏa thuận giữa người sử dụng lao động và người lao động, hoặc bằng pháp luật, pháp lý quốc gia, do người sử dụng lao động trả cho người lao động theo một hợp đồng lao động được viết ra hay bằng miệng cho một công việc đã được thực hiện hay sẽ phải thực hiện, hay cho những dịch vụ đã làm hay sẽ phải làm” (Điều 1, Công ƣớc về bảo vệ tiền lƣơng, năm 1949) Theo Điều 55 bộ luật lao động nƣớc CHXHCN Việt Nam năm 1994:”Tiền lương của người lao động do hai bên thỏa thuận trong hợp đồng lao động và được trả theo năng suất lao động, chất lượng và hiệu quả công việc. Mức lương của người lao động không được thấp hơn mức lương tối thiểu do Nhà Nước quy định”. Điều 90, Bộ luật Lao động (sửa đổi) năm 2012 ghi rõ: "Tiền lương là khoản tiền mà người sử dụng lao động trả cho người lao động để thực hiện công việc theo thỏa thuận.
Tiền lương bao gồm mức lương theo công việc hoặc chức danh, phụ cấp lương và các khoản bổ sung khác". Văn kiện Đại hội XI của Đảng: “Tiền lương, tiền công phải được coi là giá cả sức lao động, được hình thành theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước” Nhƣ vậy, dù hiểu theo cách nào thì tiền lƣơng chính là giá cả của sức lao động, đƣợc hình thành trên cơ sở thoả thuận giữa ngƣời lao động với ngƣời sử dụng lao động thông qua hợp đồng lao động, phù hợp với quan hệ cung cầu sức lao động Ma Thị Huyền – QTDNB_K14 Khoa Quản Trị Kinh Doanh Khóa Luận Tốt Nghiệp 7 Học Viên Ngân Hàng trên thị trƣờng lao động và phù hợp với các quy định tiền lƣơng của pháp luật lao động. Tiền lƣơng đƣợc ngƣời sử dụng lao động trả cho ngƣời lao động một cách thƣờng xuyên, ốn định trong khoảng thời gian hợp đồng lao động (tuần, tháng, năm. * Phân biệt tiền lương và tiền công: Nhiều ý kiến cho rằng, tiền công chỉ là một biểu hiện, một tên gọi khác của tiền lƣơng, vì tiền lƣơng và tiền công đều là số tiền (hoặc hiện vật) trả công lao động cho ngƣời lao động, là biểu hiện của giá cả hàng hóa sức lao động.
Tuy nhiên, hai khái niệm này có sự khác nhau: Tiền lƣơng là lƣợng tiền mà ngƣời sử dụng lao động mang tính chất thƣờng xuyên và thƣờng gắn bó với hình thức biên chế, định biên trong một doanh nghiệp, tổ chức. Tiền công là lƣợng tiền mà ngƣời sử dụng lao động trả công cho ngƣời lao động để thực hiện một hoặc một số công việc cụ thể, hoặc làm việc trong khoảng thời gian nào đó, đƣợc xác lập thông qua thuê khoán lao động, hoặc qua hợp đồng dân sự. Trong nền kinh tế mà công nghiệp hóa ngày càng phát triển thì lao động hƣởng tiền lƣơng ngày càng mở rộng, vì vậy trong nội dung đề tài này đề cập chủ yếu là vấn đề tiền lƣơng, nhƣng trong từng bộ phận nghiên cứu tiền lƣơng bao gồm cả vấn đề tiền công. Bản chất của tiền lương Bản chất tiền lƣơng cũng thay đổi tùy theo các điều kiện, trình độ phát triển kinh tế xã hội và nhận thức của con ngƣời.
Tiền lƣơng đƣợc nghiên cứu trên hai phƣơng diện: a. Về mặt kinh tế: Tiền lƣơng là phần đối trọng của sức lao động mà ngƣời lao động đã cung cấp cho ngƣời sử dụng lao động của mình trong một khoảng thời gian nào đó và sẽ nhận đƣợc một khoản tiền lƣơng theo thỏa thuận từ ngƣời sử dụng lao động. Trong nền kinh tế thị trƣờng, để hiểu rõ hơn về tiền lƣơng ngƣời ta nghiên cứu tiền lƣơng ở hai khía cạnh: Tiền lƣơng danh nghĩa và tiền lƣơng thực tế. Ma Thị Huyền – QTDNB_K14 Khoa Quản Trị Kinh Doanh Khóa Luận Tốt Nghiệp 8 Học Viên Ngân Hàng * Tiền lương danh nghĩa: Là số tiền mà ngƣời sử dụng sức lao động trả cho ngƣời lao động phù hợp với số lƣợng và chất lƣợng lao động mà họ đã hao phí.
Trên thực tế , mọi mức lƣơng mà ngƣời sử dụng lao động trả cho ngƣời lao động đều là mức lƣơng danh nghĩa. * Tiền lương thực tế: Là số tƣ liệu sinh hoạt, dịch vụ mà ngƣời lao động có thể mua đƣợc bằng tiền lƣơng danh nghĩa của mình sau khi đóng góp các khoản thuế theo quy định của Pháp Luật. Mối quan hệ giữa tiền lƣơng danh nghĩa và tiền lƣơng thực tế: Chỉ số giá cả = Chỉ số tiền lƣơng danh nghĩa (%) Chỉ số tiền lƣơng thực tế + Chỉ số giá cả: nói lên sự thay đổi của tổng mức giá cả của các nhóm hàng hóa nhất định trong thời kỳ này so với thời kỳ khác đƣợc xem là thời kỳ gốc. Về mặt xã hội: Tiền lƣơng là một khoản thu nhập của ngƣời lao động để bù đắp nhu cầu tối thiểu của ngƣời lao động ở một thời điểm kinh tế xã hội nhất định.
Khoản tiền phải đƣợc thỏa thuận giữa ngƣời lao động và ngƣời sử dụng lao động (chủ doanh nghiệp) có tính đến mức lƣơng tối thiểu do nhà nƣớc ban hành. Tầm quan trọng của tiền lương Nhƣ đã nói, tiền lƣơng có vai trò vô cùng quan trọng đối với đời sống ngƣời lao động, với sự phát triển của doanh nghiệp và cả lợi ích chung của xã hội. Đối với người lao động Sức lao động là yếu tố quan trọng nhất của lực lƣợng sản xuất để đảm bảo tái sản xuất và sức lao động cũng nhƣ lực lƣợng sản xuất của xã hội. Sức lao động sẽ bị hào mòn trong quá trình lao động tạo ra sản phẩm, do vậy tiền lƣơng trƣớc hết phải đảm bảo tái sản xuất sức lao động, hơn nữa, tiền lƣơng cần thiết phải đủ nuôi sống chính ngƣời lao động và gia đình của họ.
Trên thực tế tiền lƣơng hiện nay còn đƣợc coi nhƣ một thƣớc đo chủ yếu về trình độ lành nghề và thâm niên nghề nghiệp, vì thế ngƣời lao động sẽ rất tự hào khi nhận đƣợc mức lƣơng cao hay khi đƣợc tăng lƣơng, mặc dù có nhiều khi tiền lƣơng chỉ chiếm một phần nhỏ trong tổng thu nhập của họ. Ma Thị Huyền – QTDNB_K14 Khoa Quản Trị Kinh Doanh Khóa Luận Tốt Nghiệp 9 Học Viên Ngân Hàng Đảm bảo tiền lƣơng của ngƣời lao động không những duy trì đƣợc cuộc sống hằng ngày mà còn dự phòng cho cuộc sống lâu dài khi họ hết khả năng lao động hoặc có biến cố xảy ra với họ. Tiền lƣơng là một trong những hình thức kích thích lợi ích vật chất đối với ngƣời lao động. Vì vậy khả năng kiếm đƣợc tiền lƣơng cao hơn sẽ tạo ra động lực thúc đẩy ngƣời lao động ra sức học tập để nâng cao giá trị của họ đối với tố chức thông qua sự nâng cao trình độ và sự đóng góp cho tổ chức.
Hiệu quả công việc càng cao thì tiền lƣơng về mặt nguyên tắc càng cao và ngƣợc lại.