Chương 1 - MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ CHÍNH SÁCH PHÂN PHỐI TRONG CUNG ỨNG DỊCH VỤ VIỄN THÔNG DI ĐỘNG 1. Giới thiệu về dịch vụ viễn thông di động 1. Giới thiệu về công nghệ GSM và 3G Công nghệ GSM (Global System for Mobile Communications) - hệ thống thông tin di động toàn cầu - hoạt động trên 4 băng tần 850Mhz/900Mhz/1800Mhz/1900Mhz. GSM thực chất là phiên bản của công nghệ TDMA – sử dụng phương thức đa truy cập phân chia theo thời gian.
GSM số hóa và nén dữ liệu, sau đó chuyển lên kênh truyền dẫn bằng 2 luồng dữ liệu người dùng khác nhau, mỗi luồng chiếm trên một khe thời gian riêng. Băng thông lúc đầu chia thành những kênh sóng 200 kHz và sau đó phân kênh dựa trên khe thời gian. Người dùng kênh sóng sẽ thay phiên nhau tuần tự, do vậy chỉ có một người sử dụng trên một kênh và chỉ có thể sử dụng được theo những giai đoạn rất ngắn. 3G ( Third-generation technology ) là công nghệ truyền thông thế hệ thứ ba, cho phép truyền cả dữ liệu thoại và dữ liệu phi thoại (tải dữ liệu, gửi email, tin nhắn nhanh, hình ảnh.) Hệ thống thông tin di động thế hệ thứ ba có thể cung cấp các dịch vụ với tốc độ từ 2Mbps đến 14.
Với công nghệ 3.5G (HSDPA) tốc độ truy cập Internet tăng gấp 6 lần so với EDGE và 8 lần so với GPRS. Quá trình hình thành và phát triển của dịch vụ viễn thông di động tại Việt Nam Lịch sử hình thành và phát triển của thị trường di động Việt Nam được lưu dấu lại với những cột mốc đáng chú ý như sau: Năm 1993, Công ty VMS chính thức thành lập mạng di động theo công nghệ GSM với mã mạng 090 và mang thương hiệu Mobifone; Tháng 5/1994, cuộc gọi di động đầu tiên được thực hiện tại Việt Nam tại các tỉnh, thành miền Nam (thành phố HCM, Khánh Hoà, Vũng Tàu) Tháng 06/1996, mạng thông tin di động VinaPhone - mạng thông tin di đông GSM thứ hai của Việt Nam chính thức đi vào hoạt động. Đến cuối 1996, Mobifone có gần 50 nghìn thuê bao và VinaPhone có khoảng 6500 thuê bao. Năm 1999, một bước đột phá quan trọng của thị trường thông tin di động là sự xuất hiện của các gói dịch vụ thuê bao trả trước.
Người dân có thu nhập thấp và trung bình đã có thể sở hữu một số thuê bao di động mà không phải chịu những khoản cước phí hàng tháng quá lớn so với nhu cầu gọi và nghe của họ. Tháng 7/2003, cạnh tranh trên thị trường di động Việt Nam mới bắt đầu được khởi động với sự ra đời của mạng di động CDMA đầu tiên - mạng Sfone với mã mạng 095. Tuy nhiên, phương thức tính cước 1 phút + 10 giây không giúp Sfone khắc phục được nhiều hạn chế của vùng phủ sóng và thiết bị đầu cuối khi mà đến hơn 80% cuộc gọi của khách hàng đều dưới 1 phút. Thị trường di động Việt Nam vẫn tiếp tục giai đoạn độc quyền với sự chiếm lĩnh thị trường của 2 mạng di động con ông lớn VNPT.
Thị trường di động Việt Nam chính thức đi vào cạnh tranh thực sự với sự xuất hiện của mạng di động GSM 098 do Viettel thiết lập. Ra đời từ tháng 10/2004, Viettel thực sự tạo ra sự bùng nổ trên thị trường với phương thức tính cước theo block 6 giây. Luan van 6 Tháng 5/2006, EVN Telecom chính thức khai trương mạng di động toàn quốc E-Mobile sử dụng công nghệ CDMA 450MHz, trở thành mạng di động CDMA thứ 2 tại Việt Nam với mã mạng 096. Tháng 1/2007, mạng di động CDMA thứ 3 do HT Mobile cung cấp với mã mạng 092 đã xuất hiện.
Tuy nhiên, đến tháng 4/2009 HT Mobile đã chính thức đổi tên thành Vietnamobile và chuyển sang công nghệ GSM và là mạng di động GSM đang trong thời kỳ phát triển nhanh tại Việt Nam kể từ khi chính thức giới thiệu dịch vụ tới người tiêu dùng vào tháng 4/2009 Beeline được thành lập ngày 8/7/2008 trên cơ sở thỏa thuận hợp tác giữa Tổng công ty Viễn thông Di động Toàn cầu và Tập đoàn VimpelCom- Một trong những Tập đoàn Viễn thông hàng đầu ở Đông Âu và Trung Á, GTEL Mobile là công ty liên doanh chuyên cung cấp các dịch vụ thoại và truyền số liệu trên công nghệ GSM/EDGE. Sự ra đời của GTEL Mobile xuất phát từ thỏa thuận thành lập một liên doanh viễn thông tại Việt Nam được ký kết với tập đoàn VimpelCom vào cuối năm 2007. GTEL Mobile không chỉ là một doanh nghiệp hoạt động vì mục đích kinh tế đơn thuần mà đây còn là sự kết hợp các nhân tố quốc tế nhằm mang lại trào lưu và phong cách truyền thông mới cho người dân Việt Nam. Tháng 12/2011 Chính Phủ ra quyết định bàn giao nguyên trạng Công ty Viễn thông Điện lực ( EVN Telecom) cho Viettel quản lý và khai thác.
Như vậy hiện nay, cạnh tranh trên thị trường di động Việt Nam vẫn đang tiếp tục trong giai đoạn bùng nổ và cạnh tranh quyết liệt trên 2 khía cạnh là: Cạnh tranh giữa doanh nghiệp và doanh nghiệp (6 nhà cung cấp); Cạnh tranh giữa công nghệ và công nghệ (GSM và CDMA). Đặc điểm dịch vụ viễn thông di động Dịch vụ viễn thông là một ngành thuộc kết cấu hạ tầng, hoạt động của Luan van 7 ngành viễn thông ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả sản xuất xã hội. Do đặc điểm hoạt động, vai trò vị trí của Ngành trong nền kinh tế quốc dân, chất lượng hoạt động viễn thông có ý nghĩa rất quan trọng. Các tin tức phục vụ cho hoạt động quản lý, sản xuất, kinh doanh, sinh hoạt,.
được truyền đi càng nhanh, càng chính xác, độ hoạt động tin cậy của các thiết bị và của mạng lưới càng cao thì hiệu quả sản xuất xã hội, điều hành, quản lý, kinh doanh,. điều kiện sống của con người ngày càng được nâng cao. Sự thiếu chính xác về nội dung tin tức truyền đưa và việc truyền đưa tin tức chậm sẽ làm giảm hoặc mất đi giá trị sử dụng của dịch vụ viễn thông. Sản phẩm dịch vụ viễn thông không phải là vật thể cụ thể mà là hiệu quả có ích của quá trình truyền đưa tin tức.
Chính vì vậy chất lượng sản phẩm dịch vụ viễn thông là những tính năng tác dụng của sản phẩm dịch vụ viễn thông mà khách hàng sử dụng yêu cầu đáp ứng họ. Những tính năng này bao gồm tốc độ truyền đưa tin tức; độ chính xác trung thực của việc truyền đưa và khôi phục tin tức và độ hoạt động ổn định của các phương tiện thông tin. Nếu thiếu một trong những tính năng trên thì sản phẩm dịch vụ viễn thông sẽ mất đi giá trị sử dụng và gây ra những thiệt hại cho người sử dụng, trong một số trường hợp gây ra những thiệt hại về vật chất và tinh thần không thể bù đắp được. Chất lượng phục vụ trong viễn thông thể hiện mức độ đáp ứng nhu cầu của khách hàng về các dịch vụ viễn thông, mức độ tiệm cận các phương tiện thông tin đến người sử dụng, thái độ phục vụ của nhân viên viễn thông,.
Trong điều kiện cạnh tranh, chất lượng trở thành tiền đề cho hiệu quả hoạt động và phát triển của các doanh nghiệp viễn thông, đảm bảo lợi nhuận và khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp. Do vậy mọi hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp viễn thông đều nhằm nâng cao chất lượng các dịch Luan van 8 vụ truyền thống và cung cấp các dịch vụ mới chất lượng cao, đạt mức chất lượng tương ứng với các yêu cầu hiện tại, yêu cầu sẽ nảy sinh của xã hội. Chất lượng sản phẩm dịch vụ viễn thông là đặc trưng tổng thể hoạt động của các tổ chức, doanh nghiệp viễn thông và của từng cán bộ công nhân viên theo một loạt các thông số về kỹ thuật - sản xuất kinh doanh, về kinh tế xã hội, về tâm sinh lý. Chất lượng sản phẩm dịch vụ viễn thông phụ thuộc vào các yếu tố khách quan và chủ quan.
Đối với người sử dụng dịch vụ viễn thông, điều quan trọng đối với họ là mức độ thoả mãn nhu cầu, tức là sự sẵn sàng và khả năng cung cấp các dịch vụ viễn thông một cách thuận tiện về mặt thời gian, địa điểm và với chất lượng cao. Các loại hình dịch vụ viễn thông di động Dịch vụ viễn thông là dịch vụ truyền ký hiệu, tín hiệu, số liệu, chữ viết, âm thanh, hình ảnh hoặc các dạng khác của thông tin giữa các điểm kết cuối của mạng viễn thông. Theo tài liệu công bố của Bộ Thông tin và Truyền thông thì dịch vụ viễn thông di động bao gồm các dịch vụ sau: + Dịch vụ cơ bản thoại, nhắn tin + Dịch vụ giá trị gia tăng + Dịch vụ truy nhập Internet + Dịch vụ ứng dụng Internet 1. Chính sách Marketing và khái niệm, vị trí, nội dung của chính sách phân phối 1.
Khái niệm về Marketing và chính sách marketing dịch vụ 1. Khái niệm về marketing Marketing là một tiến trình xã hội và quản lý theo đó các cá nhân và các nhóm có được cái mà họ mong muốn thông qua việc tạo ra, trao đổi những sản phẩm có giá trị với những người khác. Luan van 9 Ngày nay, hầu hết các trường phái nghiên cứu Marketing điều thống nhất ở quan điểm marketing là thỏa mãn nhu cầu khách hàng. Thật vậy, nếu trước đây người ta cho rằng marketing là làm sao quảng bá tốt để bán được nhiều hàng thì ngày nay điều mà các nhà làm marketing quan tâm là làm thế nào để hiểu rõ khách hàng, hiểu rõ nhu cầu của họ, từ đó phát triển những sản phẩm mang lại cho khách hàng những giá trị vượt trội với mức giá hợp lý, phân phối và cổ động một cách hiệu quả, thì việc bán những sản phẩm đó có thể không còn quan trọng nữa.
Do vậy có thể nói rõ ràng bán hàng và quảng cáo chỉ là một phần của phối thức marketing rộng lớn, một tập hợp các công cụ phối hợp với nhau nhằm ảnh hưởng đến thị trường. Chính sách marketing dịch vụ Cũng giống như các công ty sản xuất, các công ty dịch vụ sử dụng marketing để định vị mình một cách mạnh mẽ trên phân đoạn thị trường mục tiêu. Các công ty dịch vụ đều sử dụng các hoạt động của phối thức marketing truyền thống để định vị. Tuy nhiên, vì dịch vụ khác với sẩn phẩm hữu hình, nên thường đòi hỏi các cách tiếp cận marketing khác biệt hơn.
Đối với các công ty cung ứng các sản phẩm hữu hình, sản phẩm là tương đối chuẩn và có thể lưu kho để chờ khách hàng đến mua. Nhưng với kinh doanh dịch vụ, khách hàng và các nhân viên trực tiếp tương tác với nhau để tạo ra dịch vụ.