Tổng quan luận án

Luận án tiến sĩ chuyên ngành Dinh dưỡng (mã số 9720401) của tác giả Lê Văn Khoa, thực hiện tại Viện Dinh dưỡng, hoàn thành năm 2020, dưới sự hướng dẫn của PGS.TS.BS. Lê Bạch Mai và PGS.TS.BS. Phạm Thị Tâm.

Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu

Suy dinh dưỡng (SDD) và thiếu vi chất dinh dưỡng (VCDD) ở trẻ em là vấn đề có ý nghĩa sức khoẻ cộng đồng (YNSKCĐ) tại nhiều nước đang phát triển. Theo số liệu tác giả dẫn từ WHO và UNICEF, đến năm 2015 toàn thế giới có khoảng 157,3 triệu trẻ dưới 5 tuổi bị thấp còi, 96,9 triệu trẻ nhẹ cân và năm 2016 có 51,7 triệu trẻ gầy còm. Tại Việt Nam, SDD thấp còi trẻ dưới 5 tuổi giảm từ 29,6% năm 2005 xuống 24,6% năm 2015 nhưng vẫn ở mức cao theo phân loại WHO. Tổng điều tra dinh dưỡng năm 2009–2010 ghi nhận tỉ lệ SDD thấp còi của trẻ 5–10 tuổi là 23,4%.

Tác giả chỉ ra khoảng trống nghiên cứu rõ ràng: phần lớn số liệu về SDD và bổ sung VCDD trong nước tập trung vào bà mẹ mang thai và trẻ dưới 5 tuổi. Số liệu ở lứa tuổi học đường và tiền dậy thì còn hạn chế. Ngoài ra, các kết quả nghiên cứu về hiệu quả can thiệp vi chất đối với trí tuệ trẻ em chưa thống nhất, cần được tiếp tục làm rõ bằng bằng chứng thực địa.

Mục tiêu nghiên cứu

  1. Đánh giá hiệu quả can thiệp về nhân trắc ở học sinh 6–9 tuổi huyện Cờ Đỏ, TP Cần Thơ sau 6 tháng ăn bánh được tăng cường vi chất.
  2. Đánh giá hiệu quả can thiệp về tình trạng vi chất dinh dưỡng ở học sinh 6–9 tuổi huyện Cờ Đỏ, TP Cần Thơ sau 6 tháng ăn bánh được tăng cường vi chất.
  3. Đánh giá hiệu quả can thiệp về trí tuệ ở học sinh 6–9 tuổi huyện Cờ Đỏ, TP Cần Thơ sau 6 tháng ăn bánh được tăng cường vi chất.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

  • Đối tượng: Học sinh 6–9 tuổi tại các trường tiểu học huyện Cờ Đỏ, thành phố Cần Thơ.
  • Phạm vi không gian: Huyện Cờ Đỏ, thành phố Cần Thơ, khu vực Đồng bằng sông Cửu Long.
  • Phạm vi thời gian: 6 tháng can thiệp, đánh giá tại hai thời điểm T0 (trước can thiệp) và T6 (sau 6 tháng can thiệp).

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Các hướng nghiên cứu trước mà tác giả điểm lại

Về thực trạng SDD ở trẻ tiểu học trên thế giới, tác giả tổng hợp nhiều nghiên cứu theo vùng địa lý:

  • Châu Phi: Opara D. và cộng sự (2010) báo cáo tỉ lệ thấp còi ở trẻ 2–14 tuổi tại Uyo, Nigeria là 17,1% (trường tư) và 25,3% (trường công); Kristin Huldah Frye và cộng sự ghi nhận tỉ lệ trẻ 5–14 tuổi bị thấp còi là 28% trên toàn cầu, riêng Đông phi là 45% năm 2010; báo cáo năm 2017 tại Obafemi Owode, Đông Nam Nigeria cho thấy tỉ lệ thấp còi học sinh tiểu học nông thôn và thành thị là 46,2% và 33,8%; Erismann Séverine và cộng sự (2017) ghi nhận tỉ lệ thấp còi trẻ 8–14 tuổi ở Burkina Faso là 29,4%; báo cáo năm 2018 tại Humbo, nam Ethiopia cho thấy tỉ lệ thấp còi trẻ 6–12 tuổi là 57%; Ayogu và cộng sự (2018) ghi nhận tỉ lệ thấp còi ở Enugu, Đông Nam Nigeria là 41,6%.

  • Châu Á: Mian và cộng sự ghi nhận tỉ lệ thấp còi trẻ 5–10 tuổi tại Islamabad, Pakistan năm 2002 là 35%; Srivastava Anurag và cộng sự (2012) báo cáo tỉ lệ thấp còi trẻ 9–10 tuổi ở Bareilly, Ấn Độ là 20,2%; Kazi Muhammad và cộng sự (2015) tại phía Bắc Bangladesh ghi nhận tỉ lệ thấp còi trẻ 5–10 tuổi là 35%, nhẹ cân là 48,9% và gầy còm là 31,6%; Galgamuwa LS và cộng sự (2017) báo cáo tỉ lệ thấp còi trẻ 1–15 tuổi ở Sri Lanka là 26,9%; Yasmin Ghaida và cộng sự (2014) ghi nhận tỉ lệ thấp còi học sinh tiểu học tại 8 tỉnh Indonesia là 28,1%; Lestari và cộng sự (2018) cho thấy tỉ lệ thấp còi học sinh tiểu học phía Bắc Sumatera là 38,8%.

  • Việt Nam: Nguyễn Thị Mai Anh ghi nhận tỉ lệ thấp còi học sinh 6–8 tuổi tại Yên Thường, Gia Lâm, Hà Nội năm 2006 là 14,1%; Hồ Thu Mai và cộng sự (2007) ghi nhận tỉ lệ thấp còi học sinh 6–8 tuổi tại huyện Sóc Sơn, Hà Nội là 28%; Lê Thị Hợp và Lê Nguyễn Bảo Khanh (2012) báo cáo tỉ lệ thấp còi học sinh phổ thông khu vực thành thị, nông thôn và miền núi tại ba tỉnh phía Bắc là 6,1%, 20,7% và 23,9%; Nguyễn Song Tú và cộng sự (2017) ghi nhận tỉ lệ thấp còi học sinh tiểu học 7–10 tuổi tại huyện Phú Bình, Thái Nguyên là 17,2%.

Về tình trạng thiếu vi chất, tác giả dẫn điều tra vi chất quốc gia của Viện Dinh dưỡng năm 2014–2015: tỉ lệ trẻ dưới 5 tuổi thiếu máu là 27,8%; tỉ lệ thiếu vitamin A tiền lâm sàng ở các nhóm 6–59 tháng dao động từ 11,2% đến 22%; tỉ lệ thiếu kẽm ở phụ nữ mang thai là 80,3%, ở phụ nữ độ tuổi sinh đẻ là 63,6%. Về bổ sung vi chất và trí tuệ, tác giả nhận định các nghiên cứu trong và ngoài nước cho kết quả chưa thống nhất.

Khoảng trống luận án lựa chọn giải quyết

Luận án xác định hai khoảng trống: (1) thiếu bằng chứng về hiệu quả bổ sung đa vi chất trên các chỉ số nhân trắc và sinh hóa ở trẻ lứa tuổi tiểu học tại Việt Nam; (2) hiệu quả của can thiệp VCDD đối với trí tuệ (chỉ số IQ) của trẻ chưa được làm rõ, đặc biệt ở lứa tuổi 6–9 tuổi tại vùng Đồng bằng sông Cửu Long.


Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Lý thuyết, khái niệm và khung phân tích

Luận án dựa trên các khung lý thuyết và tiêu chuẩn đánh giá quốc tế sau:

  • Phân loại và đánh giá SDD: Chuẩn tăng trưởng WHO 2006, thang phân loại WHO 1981, hệ thống phân loại Z-score (HAZ, WAZ, WHZ) với ngưỡng -2SD.
  • Mô hình nguyên nhân SDD: Mô hình UNICEF (1998) phân tầng nguyên nhân trực tiếp, tiềm tàng và cơ bản.
  • Đánh giá vi chất: Tiêu chuẩn phân loại của IOM (2010) cho vitamin D; ngưỡng của IVACG cho vitamin A; tiêu chuẩn của IZiNCG cho kẽm; phân loại iod niệu theo Rainer và cộng sự.
  • Đánh giá trí tuệ: Phân loại trí lực dựa vào IQ theo Weschler (1981); phân loại chậm phát triển trí tuệ theo ICD-10; khái niệm IQ của Binet: IQ = (MA/CA)×100.
  • Nhu cầu dinh dưỡng khuyến nghị: Tài liệu của Viện Dinh dưỡng Việt Nam (2016) và SEA-RDAs cho các nhóm vi chất kẽm, vitamin A, vitamin D, canxi, iod.

Phương pháp nghiên cứu

Luận án thuộc hướng định lượng, sử dụng thiết kế thử nghiệm can thiệp có đối chứng (randomized controlled trial) trên thực địa.

  • Thiết kế: Nghiên cứu can thiệp có nhóm đối chứng, đánh giá tại hai thời điểm T0 và T6.
  • Địa điểm: Hai trường tiểu học tại huyện Cờ Đỏ, thành phố Cần Thơ.
  • Cỡ mẫu và chọn mẫu: Văn bản đề cập cỡ mẫu tại từng thời điểm qua Bảng 3.1 (số lượng mẫu tại từng thời điểm). Phương pháp chọn mẫu được trình bày từ mục 2.2.3.
  • Sản phẩm can thiệp: Bánh GOODI do Công ty TNHH BELL Việt Nam (nhà máy tại Bình Dương) sản xuất và tài trợ, có thành phần vitamin và khoáng chất được trình bày trong Bảng 2.1 (Thành phần Vitamin và khoáng chất trong bánh GOODI).

Phương pháp thu thập và phân tích số liệu

Lĩnh vực đánh giá Chỉ số Phương pháp/Công cụ
Nhân trắc Cân nặng, chiều cao, Z-score (HAZ, WAZ, WHZ) Cân, thước đo chuẩn; so sánh với chuẩn WHO 2006
Vi chất Hemoglobin, vitamin A, vitamin D huyết thanh Xét nghiệm sinh hóa tại Phòng thí nghiệm Khoa Nghiên cứu Vi chất Dinh dưỡng – Viện Dinh dưỡng
Vi chất Canxi ion hóa, ferritin, transferrin receptor huyết thanh, iod niệu Xét nghiệm sinh hóa
Trí tuệ Chỉ số IQ Bộ trắc nghiệm phân loại theo Weschler 1981 và ICD-10
Khẩu phần Giá trị dinh dưỡng, tính cân đối khẩu phần Điều tra khẩu phần trước và sau can thiệp

Phân tích số liệu bao gồm so sánh số trung bình (±SD), Z-score, tỉ lệ SDD và các chỉ số hiệu quả can thiệp (AR, ARR, RR, RRR, NNT). Ngoài ra, tác giả sử dụng phân tích hồi quy tuyến tính chuẩn hóa đa biến và phương pháp Stepwise để xác định các yếu tố ảnh hưởng đến sự thay đổi IQ sau can thiệp.

Nguồn tư liệu và dữ liệu

Số liệu thực địa thu thập tại hai trường tiểu học huyện Cờ Đỏ, với sự tham gia của sinh viên Y6 Trường Đại học Y Dược Cần Thơ (khóa 2005–2011, YK32) và cán bộ Trung tâm Y tế dự phòng thành phố Cần Thơ. Xét nghiệm sinh hóa thực hiện tại Phòng thí nghiệm Khoa Nghiên cứu Vi chất Dinh dưỡng – Viện Dinh dưỡng.


Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Tổng quan tài liệu

Chương này hệ thống hóa bốn nhóm nội dung lý thuyết và thực trạng: (1) SDD ở trẻ em gồm khái niệm, phương pháp đánh giá bằng chỉ số nhân trắc (CN/T, CC/T, CN/CC, MUAC, BMI), thực trạng toàn cầu và trong nước, nguyên nhân (trực tiếp, tiềm tàng, cơ bản theo mô hình UNICEF 1998) và hậu quả; (2) Vi chất dinh dưỡng gồm vai trò của kẽm, vitamin A, vitamin D, canxi, iod; thực trạng thiếu hụt và nhu cầu khuyến nghị theo từng nhóm tuổi; (3) Hoạt động thần kinh cấp cao ở trẻ em, bao gồm các khái niệm về trí thông minh (IQ), lịch sử phát triển trắc nghiệm trí tuệ từ Francis Galton, Alfred Binet – Theodore Simon đến Wilhelm Stern, và khái niệm trí nhớ; (4) Hiệu quả can thiệp bổ sung, tăng cường vi chất đối với tình trạng dinh dưỡng và trí tuệ trẻ em.

Số liệu đáng chú ý được tổng hợp: điều tra vi chất Viện Dinh dưỡng 2014–2015 ghi nhận tỉ lệ thiếu kẽm ở phụ nữ mang thai là 80,3%; thiếu VAD-TLS ở trẻ dưới 5 tuổi là 13,0% năm 2015; tỉ lệ thiếu máu trẻ dưới 5 tuổi là 27,8%. Một phân tích hệ thống về bổ sung kẽm cho thấy chiều cao trung bình tăng 0,35 cm (CI 95% = 0,19–0,51) và cân nặng tăng 0,31 kg (CI 95% = 0,18–0,44), nhưng một số nghiên cứu khác không ghi nhận cải thiện chiều cao khi bổ sung kẽm đơn lẻ.

Chương 2: Đối tượng và phương pháp nghiên cứu

Chương trình bày tiêu chuẩn lựa chọn đối tượng, địa điểm và thời gian nghiên cứu tại huyện Cờ Đỏ. Sản phẩm can thiệp là bánh GOODI với thành phần vi chất được trình bày trong Bảng 2.1. Các bước tiến hành, phương pháp thu thập số liệu và tiêu chuẩn đánh giá được tóm tắt qua Bảng 2.2. Phân loại trí lực theo IQ của Weschler (1981) và phân loại chậm phát triển trí tuệ theo ICD-10 được trình bày tại Bảng 2.3 và Bảng 2.4. Tiêu chuẩn phân loại thiếu vitamin D theo IOM (2010) trình bày tại Bảng 2.5. Quá trình nghiên cứu can thiệp được tóm tắt qua Sơ đồ 2.1. Chương cũng đề cập đến sai số có thể xảy ra và biện pháp khắc phục, cùng với các nguyên tắc đạo đức trong nghiên cứu.

Chương 3: Kết quả nghiên cứu

Kết quả được tổ chức thành ba nhóm chính:

Nhóm 1 – Hiệu quả đối với tình trạng nhân trắc: Tác giả trình bày sự thay đổi cân nặng và chiều cao trung bình (Bảng 3.8), Z-score nhân trắc (Bảng 3.9), và tỉ lệ SDD theo ba thể nhẹ cân, thấp còi, gầy còm (Bảng 3.10). Các chỉ số hiệu quả can thiệp AR, ARR, RR, RRR, NNT được tính riêng cho từng thể SDD (Bảng 3.11–3.16). Phân tích bổ sung thực hiện riêng trên nhóm trẻ SDD trong từng nhóm can thiệp.

Nhóm 2 – Hiệu quả đối với các chỉ số sinh hóa: Tỉ lệ thiếu máu, vitamin A, vitamin D theo nhóm tuổi tại T0 được trình bày tại Bảng 3.17; tỉ lệ thiếu iod niệu, canxi, sắt dự trữ và thiếu máu thiếu sắt tại Bảng 3.18. Hiệu quả can thiệp đối với nồng độ Hb, vitamin A, vitamin D sau 6 tháng trình bày tại Bảng 3.20; đối với canxi, ferritin, transferrin receptor và iod niệu tại Bảng 3.21. Các chỉ số hiệu quả can thiệp riêng cho tình trạng thiếu máu, thiếu vitamin D, thiếu canxi, thiếu iod niệu được báo cáo tại Bảng 3.22–3.29.

Nhóm 3 – Hiệu quả đối với trí tuệ: Đặc điểm IQ ban đầu của các nhóm trình bày tại Bảng 3.30; hiệu quả can thiệp trên chỉ số IQ trung bình sau 6 tháng tại Bảng 3.31; các chỉ số hiệu quả can thiệp lên tình trạng IQ tại Bảng 3.32. Hai mô hình hồi quy tuyến tính chuẩn hóa đa biến được xây dựng để xác định các yếu tố ảnh hưởng đến sự thay đổi IQ (Bảng 3.33 – mô hình đầy đủ; Bảng 3.34 – mô hình rút gọn theo phương pháp Stepwise), báo cáo dưới dạng RR.

Chương 4: Bàn luận

Chương bàn luận theo từng nhóm kết quả: so sánh tỉ lệ SDD với các nghiên cứu trong nước và quốc tế giai đoạn 2010–2018 (Bảng 4.1); thảo luận về tăng trưởng chiều cao của trẻ từ lúc sinh đến 6 tuổi làm cơ sở giải thích các thay đổi nhân trắc (Bảng 4.2); bàn luận về hiệu quả trên các chỉ số sinh hóa và so sánh với bằng chứng khoa học hiện có; bàn luận về hiệu quả can thiệp lên trí tuệ và kết quả phân tích hồi quy đa biến. Chương cũng trình bày những hạn chế của nghiên cứu.


Kết quả và những đóng góp mới

Đóng góp mới về lý luận

Luận án cung cấp bằng chứng thực địa từ thử nghiệm can thiệp có đối chứng về hiệu quả của sản phẩm bánh GOODI tăng cường đa vi chất trên ba nhóm chỉ số nhân trắc, sinh hóa và trí tuệ ở trẻ tiểu học 6–9 tuổi, một nhóm tuổi còn thiếu dữ liệu nghiên cứu can thiệp tại Việt Nam. Việc sử dụng đồng thời nhiều chỉ số hiệu quả (AR, ARR, RR, RRR, NNT) cùng phân tích hồi quy đa biến góp phần cung cấp khung đánh giá can thiệp dinh dưỡng toàn diện hơn cho nhóm tuổi học đường.

Đóng góp mới về thực tiễn

Luận án cung cấp bằng chứng cho giải pháp bổ sung vi chất qua đường ăn uống bằng thực phẩm tăng cường (bánh có vi chất) như một biện pháp có thể triển khai trong môi trường trường học tại vùng nông thôn Đồng bằng sông Cửu Long. Kết quả nghiên cứu có thể là cơ sở để xem xét mở rộng các chương trình dinh dưỡng học đường, phù hợp với định hướng của Chiến lược Quốc gia về Dinh dưỡng giai đoạn 2011–2020 và Quyết định số 718/QĐ-BYT ngày 29/01/2018 phê duyệt Kế hoạch hành động quốc gia về Dinh dưỡng đến năm 2020.


Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Luận án trình bày mục "Những hạn chế của nghiên cứu" tại trang 133. Dựa trên phạm vi và thiết kế nghiên cứu, một số hạn chế có thể nhận diện từ cấu trúc văn bản: nghiên cứu được thực hiện tại hai trường tiểu học thuộc một huyện duy nhất là huyện Cờ Đỏ, thành phố Cần Thơ, nên khả năng tổng quát hóa kết quả ra các vùng có điều kiện kinh tế-xã hội và địa lý khác nhau cần được cân nhắc. Thời gian can thiệp 6 tháng (T0–T6) cho phép đánh giá hiệu quả ngắn hạn nhưng chưa cung cấp thông tin về tính bền vững của các thay đổi quan sát được sau khi ngừng can thiệp. Mô hình hồi quy đa biến được xây dựng để xác định các yếu tố ảnh hưởng đến thay đổi IQ, song đây là chỉ số chịu tác động của nhiều biến số xã hội và môi trường khó kiểm soát hoàn toàn trong thiết kế thực địa.


Giá trị tham khảo

Luận án có giá trị tham khảo trực tiếp cho các nhóm đối tượng sau:

  • Nghiên cứu sinh và giảng viên chuyên ngành Dinh dưỡng, Y tế công cộng, Nhi khoa: Phần tổng quan tài liệu (Chương 1) cung cấp cơ sở lý thuyết có hệ thống về vai trò và tương tác sinh học của kẽm, vitamin A, vitamin D, canxi và iod, cùng bộ số liệu thực trạng SDD và thiếu vi chất từ nhiều nghiên cứu quốc tế và trong nước giai đoạn 2002–2018. Phần phương pháp (Chương 2) cung cấp khung đo lường đa chỉ số và cách tính các chỉ số hiệu quả can thiệp cộng đồng.
  • Người làm chính sách trong lĩnh vực dinh dưỡng và y tế học đường: Kết quả tại Chương 3 và Chương 4 cung cấp bằng chứng cho việc thiết kế can thiệp dinh dưỡng tại trường tiểu học ở vùng nông thôn, phù hợp với định hướng của Chiến lược Quốc gia về Dinh dưỡng giai đoạn 2011–2020.
  • Cán bộ y tế tuyến cơ sở tại Đồng bằng sông Cửu Long: Phần số liệu thực trạng SDD và thiếu vi chất tại địa bàn (Chương 3, mục Thông tin chung và Kết quả T0) là tài liệu tham chiếu cho công tác giám sát và can thiệp dinh dưỡng địa phương.

Phần đáng tham khảo nhất về mặt phương pháp là bộ chỉ số giám sát và đánh giá (Bảng 2.2), quy trình kết hợp đánh giá nhân trắc – sinh hóa – trí tuệ trong cùng một nghiên cứu can thiệp, và phần phân tích hồi quy đa biến tìm hiểu các yếu tố ảnh hưởng đến thay đổi IQ (Bảng 3.33–3.34).


Câu hỏi thường gặp

1. Sản phẩm can thiệp trong nghiên cứu là gì và do đơn vị nào cung cấp? Sản phẩm can thiệp là bánh GOODI, do Công ty TNHH BELL Việt Nam (nhà máy tại Bình Dương) sản xuất và tài trợ. Thành phần vitamin và khoáng chất trong bánh được trình bày chi tiết trong Bảng 2.1 của luận án.

2. Trẻ được đánh giá trí tuệ theo công cụ nào và dựa trên hệ thống phân loại nào? Trí tuệ của trẻ được đánh giá qua chỉ số IQ. Phân loại trí lực dựa vào IQ theo Weschler (1981) được trình bày tại Bảng 2.3; phân loại chậm phát triển trí tuệ theo ICD-10 tại Bảng 2.4. Hai mô hình hồi quy tuyến tính chuẩn hóa đa biến (đầy đủ và rút gọn theo phương pháp Stepwise, báo cáo RR) được xây dựng để xác định các yếu tố ảnh hưởng đến thay đổi IQ sau 6 tháng (Bảng 3.33 và 3.34).

3. Các chỉ số sinh hóa nào được đo lường trong nghiên cứu? Nghiên cứu đo lường: nồng độ Hemoglobin (Hb), vitamin A huyết thanh, vitamin D huyết thanh, canxi ion hóa, ferritin huyết thanh, transferrin receptor huyết thanh và iod niệu tại cả hai thời điểm T0 và T6. Kết quả hiệu quả can thiệp được báo cáo theo các chỉ số AR, ARR, RR, RRR, NNT cho từng tình trạng thiếu hụt (Bảng 3.22–3.29).

4. Chiến lược quốc gia nào tại Việt Nam được tác giả dẫn chiếu như bối cảnh chính sách của nghiên cứu? Tác giả dẫn chiếu Chiến lược Quốc gia về Dinh dưỡng giai đoạn 2011–2020 (phê duyệt nhằm cải thiện bữa ăn, giảm SDD thấp còi, nâng cao tầm vóc người Việt Nam và kiểm soát thừa cân béo phì) và Quyết định số 718/QĐ-BYT ngày 29/01/2018 phê duyệt Kế hoạch hành động quốc gia về Dinh dưỡng đến năm 2020. Tác giả lưu ý rằng các chiến lược này chủ yếu hướng đến trẻ dưới 5 tuổi và phụ nữ mang thai, trong khi dinh dưỡng học đường chỉ đang trong giai đoạn thử nghiệm với kinh phí còn hạn chế.

5. Tỉ lệ SDD thấp còi ở Đồng bằng sông Cửu Long vào thời điểm gần nhất được luận án đề cập là bao nhiêu? Theo số liệu tác giả dẫn từ Viện Dinh dưỡng, tỉ lệ thấp còi ở Đồng bằng sông Cửu Long là 28,2% năm 2010 và giảm xuống 23,5% năm 2015; tỉ lệ nhẹ cân tương ứng là 16,8% và 12,2%. Tác giả nhận định tỉ lệ thấp còi tại khu vực này vẫn còn ở mức khá cao theo thang phân loại của WHO, dù thấp hơn một số vùng khác trong cả nước.


Kết luận

Luận án của Lê Văn Khoa (2020) là nghiên cứu can thiệp định lượng có đối chứng, đánh giá hiệu quả của bánh GOODI tăng cường vi chất trên ba nhóm chỉ số nhân trắc, sinh hóa và trí tuệ ở học sinh 6–9 tuổi tại huyện Cờ Đỏ, thành phố Cần Thơ sau 6 tháng can thiệp. Nghiên cứu lấp vào khoảng trống số liệu về can thiệp dinh dưỡng ở lứa tuổi tiểu học, một nhóm tuổi ít được chú ý hơn so với trẻ dưới 5 tuổi trong các chương trình quốc gia. Phương pháp đánh giá kết hợp nhiều chỉ số (Z-score, các chỉ số sinh hóa vi chất, IQ) cùng phân tích hồi quy đa biến cung cấp bức tranh tương đối toàn diện về tác động của can thiệp. Kết quả nghiên cứu được đặt trong bối cảnh Chiến lược Quốc gia về Dinh dưỡng 2011–2020 và có thể làm cơ sở tham chiếu cho các chương trình dinh dưỡng học đường tại các vùng nông thôn Đồng bằng sông Cửu Long.