Chương 1. TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Mô ̣t số khái niê ̣m cơ bản 1. Sinh viên y đa khoa Sinh viên (SV) y đa khoa là những SV ho ̣c để trở thành bác sỹ đa khoa điều trị (ĐT) các bệnh cấp và mãn tính, đưa ra các biện pháp phòng bệnh, ĐT phục hồi sức khỏe và kê đơn thuốc cho bệnh nhân (BN).
Bác sỹ đa khoa khám bệnh theo phương pháp tiếp cận toàn diện về thể trạng BN cũng như môi trường sinh học, tâm lý và xã hội nơi BN sinh sống, chẩn đoán (CĐ), ĐT cho BN với nhiều vấn đề sức khỏe mà BN mắc phải [7],[11],[12]. Bê ̣nh truyền nhiễm Bê ̣nh truyề n nhiễm là các bê ̣nh nhiễm khuẩ n có khả năng lây truyề n trực tiế p hoă ̣c gián tiế p nhanh sang các cá thể xung quanh và có xu hướng gây ̣ bê ̣nh trong các cô ̣ng đồ ng dân cư. Bê ̣nh truyề n nhiễm có thể lưu thành dich hành trong cô ̣ng đồ ng cầ n có vai trò nhiề u yế u tố như mầ m bê ̣nh, đố i tươṇ g cảm thu ̣, đường lây truyề n [13],[14],[15]. Bệnh án Bệnh án (BA) là văn bản ghi chép tấ t cả những gì cầ n thiế t cho viê ̣c nắ m tiǹ h hình bê ̣nh tâ ̣t từ lúc BN bắ t đầ u nằ m viê ̣n cho đế n lúc BN ra viện.
BA do thầy thuốc làm ngay khi BN vào (BV), ghi chép lại tất cả các vấn đề có liên quan đến BN bao gồm tên, tuổi, địa chỉ, nghề nghiệp, tình trạng phát sinh, tiến triển của bệnh. Trong BA, người thầy thuốc sẽ ghi lại các biểu hiện bình thường và không bình thường được phát hiện thấy trong khi khám lần đầu tiên cho BN [6],[16]. Bệnh án chuyên khoa truyền nhiễm Bệnh án truyền nhiễm (BATN) là mẫu BA chuyên khoa được lập ra khi có BN nhập viện khoa truyền nhiễm. Mẫu BA nêu rõ thông tin cá nhân, tình trạng của BN khi nhập viện, CĐ của các y bác sĩ, kết quả khám của BN.
Về cơ bản BATN có luan an 4 đầ y đủ các đề mu ̣c và cấ u phầ n như BA nô ̣i khoa nói chung. Tuy nhiên, BATN có đă ̣c điể m riêng phù hợp với tính chấ t lây truyề n của bê ̣nh truyề n nhiễm [17]. Bệnh án điện tử (EMR – Electronic Medical Record) Bệnh án điện tử (BAĐT) là phiên bản số của BA, được ghi chép, hiển thị và lưu trữ bằng phương tiện điện tử, có cơ sở pháp lý và chức năng tương đương BA giấy quy định tại Luật Khám bệnh, chữa bệnh [16],[18],[19]. Công nghệ thông tin Công nghệ thông tin (CNTT - tiếng Anh: Information Technology hay là IT) là một nhánh ngành kỹ thuật sử dụng máy tính và phần mềm máy tính để chuyển đổi, thu thập, lưu trữ, bảo vệ, xử lý và truyền tải thông tin.
Ở Việt Nam, khái niệm CNTT được hiểu và định nghĩa trong Nghị quyết Chính phủ 49/CP ký ngày 04/08/1993: "CNTT là tập hợp các phương pháp khoa học, các phương tiện và công cụ kỹ thuật hiện đại - chủ yếu là kỹ thuật máy tính và viễn thông - nhằm tổ chức khai thác và sử dụng có hiệu quả các nguồn tài nguyên thông tin rất phong phú và tiềm năng trong mọi lĩnh vực hoạt động của con người và xã hội" [20]. Khái niệm thuật ngữ E-Learning E-Learning là quá trình học thông qua các phương tiện điện tử, mạng Internet và các công nghệ Web. Từ góc độ kỹ thuật, E-Learning là hình thức đào tạo có sự hỗ trợ của công nghệ điện tử, quá trình học thông qua Web, qua máy tính, qua lớp học ảo và sự liên kết số. Nội dung được phân phối đến các lớp học thông qua mạng Internet, Extranet, băng audio, video, vệ tinh quảng bá, truyền hình, CD – ROM và các phương tiện điện tử khác [21],[22],[23].
Khái niệm Moodle Moodle là một hệ thống quản lý học tập trực tuyến (LMS – Learning Management System) hay còn gọi là CMS (Course Management System hoặc VLE (Virtual Learning Environment) mã nguồn mở cho phép tạo các khóa luan an 5 học trên mạng Internet hay các trang Web trực tuyến. Moodle (Modular Object-Oriented Dynamic Learning Environment) được sáng lập năm 1999 bởi Martin Dougiamas. Moodle có mã nguồn mở hướng tới giáo dục và người dùng hơn. Từ đó đến nay, Moodle đã có những phát triển vượt bậc và thu hút sự quan tâm lớn của hầu hết các quốc gia trên thế giới [23],[24],[25].
Tổng quan về dạy học lâm sàng 1. Vai trò và mục tiêu của dạy học lâm sàng DHLS là môi trường giáo dục, là cái nôi, cái khuôn để hình thành người cán bộ y tế cả về đức và tài. DHLS thường chiếm tỷ lệ lớn trong các chương trình đào tạo cán bộ y tế trong các trường đại học y. Khi TTLS, SV sẽ phải đạt được 3 mục tiêu chung: 1) Học các thái độ, tác phong, cách ứng xử, qua đó mà rèn luyện y đức và định hình nhân cách người cán bộ y tế.
2) Học tập các kiến thức và kỹ năng nghề nghiệp, ứng dụng các điều đã học được để phát triển nghề nghiệp, chăm sóc sức khoẻ cho con người. 3) Rèn luyện nếp tư duy lâm sàng, học tập phong cách làm việc của cán bộ y tế, học phương pháp luận, hình thành khả năng tự học, tự nghiên cứu và nâng cao năng lực trong công tác [2]. Những đặc điểm của dạy học lâm sàng Việc DHLS được diễn ra ở các BV, phòng khám, các cơ sở y tế có thực hành lâm sàng và gắn liền với nhiệm vụ chăm sóc sức khỏe cho BN. Mối quan hệ GV và SV sẽ thúc đẩy SV phải ứng xử linh hoạt hơn để tạo thuận lợi cho việc học tập đạt kết quả tốt.
Trong quá trình học tập, SV làm việc cơ bản là độc lập hoặc theo nhóm nhỏ với các nội dung và hình thức học tập khác nhau. Nơi DHLS rất linh hoạt diễn ra nhiều nơi có thể là đầu giường bệnh, trong buồng bệnh, trong phòng mổ, phòng giao ban,. Quá trình DHLS đòi hỏi cả GV, SV chủ động, có tổ chức, có phương pháp để đạt kết quả tốt nhất. luan an 6 GV luôn phải hỗ trợ và tạo điều kiện cho SV, lập kế hoạch, giao việc và giám sát quản lý DHLS ở BV.
Phương pháp DHLS theo nhóm và cá nhân đòi hỏi các SV phải tích cực nhiều hơn. Các phương pháp DHLS thường được sử dụng như: quan sát, thực hành, trình diễn mẫu, tư vấn, chỉ dẫn, trao đổi cá biệt, tự học có hướng dẫn, làm việc và thảo luận nhóm nhỏ theo kiểu giải quyết vấn đề và dựa trên năng lực, tự lượng giá, tự suy nghĩ kết hợp với lượng giá và giám sát [2]. Thực trạng của dạy học lâm sàng hiện nay DHLS đóng vai trò quan trọng trong đào tạo y khoa. Tại Việt Nam, ngay từ khi còn kháng chiến chống Pháp, dạy học dựa trên thực tế, dạy học dựa trên năng lực mà bản chất là dạy học lấy người học làm trung tâm đã được hình thành.
Thời kì này số lượng SV tăng nhưng thiếu GV, thiếu điều kiện dạy học, phương pháp dạy học kiểu truyền thống là chủ yếu nếu không nói là duy nhất. Chính cách dạy học mềm dẻo, thiết thực này đã đào tạo được nhiều y sĩ, bác sĩ có đủ năng lực giải quyết các vấn đề của thực tiễn chiến tranh [26]. Trong thời kỳ hòa bình hội nhập, đào tạo y khoa đòi hỏi những thay đổi để phù hợp chung với sự phát triển của y học và hội nhập thế giới. Dự thảo chiến lược phát triển giáo dục Việt Nam 2009 - 2020 đã nêu một số hạn chế: “Chương trình giáo dục Đại học chậm đổi mới, chưa đáp ứng được mục tiêu giáo dục.
Còn có những nội dung không thiết thực, nặng về lý thuyết, nhẹ về thực hành, chưa gắn với yêu cầu xã hội, chưa phù hợp với nhu cầu và khả năng học tập của mọi đối tượng học sinh. Phương pháp dạy học về cơ bản vẫn theo lối truyền thụ một chiều, đòi hỏi người học phải ghi nhớ máy móc, không phát huy được tư duy phê phán, tư duy sáng tạo và tinh thần tự học ở người học”. Đổi mới phương pháp giáo dục đòi hỏi phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo của học sinh; bồi dưỡng phương pháp tự học, khả năng làm việc theo nhóm; rèn luyện kỹ năng vận dụng kiến thức vào thực luan an 7 tiễn; tác động đến tình cảm, đem lại hứng thú học tập cho SV. Vấn đề dạy học lấy người học làm trung tâm đã được đề cập đến khá nhiều trong các tài liệu dạy học trong và ngoài nước.
Ở Pháp, về nguyên tắc, mọi hoạt động giáo dục đều phải lấy người học làm trung tâm [27]. Đổi mới phương pháp dạy học được khởi xướng vào những năm 80. Với sự hỗ trợ của dự án SIDA - Thụy Điển, dự án Việt Nam - Hà Lan một số khóa huấn luyện ngắn ngày do các GV nước ngoài trực tiếp giảng dạy cho một số GV nòng cốt của trường Đại học Y Hà Nội [26]. Tuy nhiên, sự đổi mới về phương pháp dạy học ở các trường đại học y còn chuyển biến chậm [2],[28],[29],[30].
Từ những năm 2000, do sự phát triển của các cơ sở đào tạo về cả số lượng và qui mô đào tạo, số lượng bác sĩ đã tăng lên rõ rệt nhưng đồng thời cũng xảy ra tình trạng chất lượng bác sĩ chưa đảm bảo, ảnh hưởng đến chất lượng dịch vụ y tế, đặc biệt ở tuyến y tế cơ sở và các vùng khó khăn. Bộ Y tế ra quyết định số 1854/QĐ-BYT ngày 18 tháng 5 năm 2015 về việc phê duyệt tài liệu “Chuẩn năng lực cơ bản của bác sĩ đa khoa” đảm bảo các cơ sở đào tạo là phải đào tạo được các bác sĩ đạt được năng lực tối thiểu như nhau [31]. DHLS là một phần đặc biệt quan trọng trong giảng dạy y khoa. Nhờ các kỹ năng lâm sàng, SV mới có thể lồng ghép các kiến thức của mình để cho ra các quyết định đúng đắn và có hiệu quả trong ĐT nói riêng và trong hoạt động ngành nghề nói chung.
Tuy nhiên, trên thực tế việc giảng dạy kỹ năng lâm sàng và thực hành đang dần bị lãng quên và xem nhẹ tại một số trường y trên thế giới. Phương pháp DHLS còn có xu hướng lẫn lộn dạy TTLS với dạy lý thuyết. SV không biết các kỹ năng TTLS. Các phương pháp dạy học tích cực chưa được phổ biến rộng rãi.
Việc tổ chức và hỗ trợ của GV để quá trình TTLS trở nên tích cực chủ động và có hiệu quả chưa được quan tâm đúng mức.