Hiệu Chỉnh Liều Vancomycin Thông Qua Giám Sát Nồng Độ Thuốc Trong Máu Bằng Phương Pháp Bayesian

Luận văn tốt nghiệp y tế nghiên cứu Nguyễn thị cúc hiệu chỉnh liều vancomycin thông qua giám sát nồng độ thuốc trong máu với tiếp cận, điều tra thực trạng, phân tích số liệu, đề

Chuyên ngành

Dược sĩ

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

khóa luận tốt nghiệp

2022

84
4
0

Phí lưu trữ

30 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CẢM ƠN

1. ĐẶT VẤN ĐỀ

2. TỔNG QUAN VỀ KHÁNG SINH VANCOMYCIN

2.1. Đặc điểm dược động học

2.2. Đặc điểm dược lực học

2.2.1. Cơ chế tác dụng của vancomycin

2.2.2. Phổ tác dụng của vancomycin

2.2.3. Chỉ số PK/PD của vancomycin trong điều trị

3. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

3.1. Đối tượng nghiên cứu

3.2. Phương pháp nghiên cứu

3.2.1. Thiết kế nghiên cứu

3.2.2. Quy trình giám sát nồng độ thuốc trong máu và hiệu chỉnh liều vancomycin ở bệnh nhân người lớn

3.2.3. Chỉ tiêu nghiên cứu

3.2.4. Mục tiêu 1: Phân tích đặc điểm bệnh nhân, đặc điểm sử dụng thuốc và hiệu chỉnh liều vancomycin trên bệnh nhân người lớn tại Bệnh viện Bạch Mai thông qua giám sát nồng độ thuốc trong máu dựa trên AUC theo ước đoán Bayes

3.2.4.1. Mô tả đặc điểm chung của bệnh nhân trong mẫu nghiên cứu
3.2.4.2. Mô tả đặc điểm sử dụng và giám sát điều trị vancomycin
3.2.4.3. Đánh giá tính phù hợp của mô hình popPK và khả năng ước đoán Bayes

3.2.5. Mục tiêu 2: Phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến khả năng đạt đích AUC 400 – 600 mg.h/L ở lần định lượng đầu tiên khi áp dụng áp dụng quy trình TDM theo Bayes

3.2.6. Phương pháp thu thập và xử lý số liệu

3.2.6.1. Phương pháp thu thập số liệu
3.2.6.2. Phân tích và xử lý số liệu

4. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

4.1. Phân tích đặc điểm bệnh nhân, đặc điểm sử dụng thuốc và hiệu chỉnh liều vancomycin trên bệnh nhân người lớn tại Bệnh viện Bạch Mai thông qua giám sát nồng độ thuốc trong máu dựa trên AUC theo ước đoán Bayes

4.1.1. Đặc điểm chung của bệnh nhân trong mẫu nghiên cứu

4.1.2. Đặc điểm triển khai TDM vancomycin theo AUC trên bệnh nhân người lớn

4.1.3. Đánh giá tính phù hợp của mô hình popPK và khả năng ước đoán Bayes

4.1.4. Phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến khả năng đạt đích AUC 400 – 600 mg.h/L ở lần định lượng đầu tiên khi áp dụng quy trình TDM theo Bayes

4.1.5. Phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến nguy cơ AUC dưới 400 mg.h/L so với AUC đạt đích ở lần định lượng đầu tiên

4.1.6. Phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến nguy cơ AUC vượt ngưỡng 600 mg.h/L so với AUC đạt đích tại lần định lượng đầu tiên

4.1.7. Phân tích hiệu quả của việc triển khai quy trình giám sát nồng độ thuốc trong máu và hiệu chỉnh liều vancomycin dựa trên AUC theo ước đoán Bayes trên bệnh nhân người lớn tại Bệnh viện Bạch Mai

4.1.7.1. Đặc điểm về bệnh nhân trong mẫu nghiên cứu
4.1.7.2. Đặc điểm sử dụng vancomycin trong nghiên cứu
4.1.7.3. Đặc điểm giám sát điều trị vancomycin
4.1.7.4. Về tính phù hợp của mô hình popPK và khả năng ước đoán Bayes trong giám sát điều trị vancomycin
4.1.7.5. Phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến khả năng đạt đích AUC 400 – 600 mg.h/L tại lần định lượng đầu tiên khi áp dụng quy trình TDM theo Bayes
4.1.7.5.1. Yếu tố cân nặng của bệnh nhân
4.1.7.5.2. Yếu tố mức liều duy trì được sử dụng so với khuyến cáo
4.1.7.5.3. Yếu tố bệnh nhân suy thận tại thời điểm ban đầu
4.1.7.5.4. Yếu tố có sử dụng đồng thời furosemid tại thời điểm TDM vancomycin
4.1.7.6. Một số ưu điểm và hạn chế của nghiên cứu

TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Tóm tắt

I. Tổng Quan Về Hiệu Chỉnh Liều Vancomycin Tại Bệnh Viện Bạch Mai

Hiệu chỉnh liều vancomycin là một vấn đề quan trọng trong điều trị nhiễm khuẩn, đặc biệt là với các bệnh nhân có tình trạng sức khỏe phức tạp. Tại Bệnh viện Bạch Mai, việc giám sát nồng độ thuốc trong máu bằng phương pháp Bayesian đã được áp dụng để tối ưu hóa liều lượng vancomycin. Phương pháp này không chỉ giúp đảm bảo hiệu quả điều trị mà còn giảm thiểu nguy cơ độc tính cho bệnh nhân.

1.1. Vancomycin và Vai Trò Trong Điều Trị Nhiễm Khuẩn

Vancomycin là một kháng sinh quan trọng trong điều trị nhiễm khuẩn do tụ cầu vàng kháng methicillin (MRSA). Với cơ chế tác dụng ức chế tổng hợp vách tế bào vi khuẩn, vancomycin đã trở thành lựa chọn hàng đầu trong các trường hợp nhiễm khuẩn nặng.

1.2. Tầm Quan Trọng Của Giám Sát Nồng Độ Thuốc

Giám sát nồng độ thuốc trong máu (TDM) là phương pháp cần thiết để đảm bảo nồng độ vancomycin trong phạm vi điều trị. Việc này giúp tối ưu hóa hiệu quả điều trị và giảm thiểu nguy cơ xuất hiện đề kháng kháng sinh.

II. Thách Thức Trong Hiệu Chỉnh Liều Vancomycin

Việc hiệu chỉnh liều vancomycin gặp nhiều thách thức, đặc biệt là trong việc xác định nồng độ thuốc trong máu. Các yếu tố như chức năng thận, tình trạng bệnh lý và tương tác thuốc đều ảnh hưởng đến hiệu quả điều trị. Do đó, cần có các phương pháp chính xác để giám sát nồng độ thuốc.

2.1. Các Yếu Tố Ảnh Hưởng Đến Hiệu Chỉnh Liều

Chức năng thận là yếu tố quan trọng nhất ảnh hưởng đến liều vancomycin. Bệnh nhân có suy thận cần được điều chỉnh liều để tránh nguy cơ tích lũy thuốc và độc tính.

2.2. Khó Khăn Trong Việc Xác Định Nồng Độ Thuốc

Việc xác định nồng độ vancomycin trong máu có thể gặp khó khăn do sự biến đổi sinh lý của từng bệnh nhân. Điều này đòi hỏi các phương pháp giám sát chính xác và kịp thời.

III. Phương Pháp Bayesian Trong Hiệu Chỉnh Liều Vancomycin

Phương pháp Bayesian đã được áp dụng để ước tính nồng độ AUC của vancomycin, giúp tối ưu hóa liều lượng thuốc. Phương pháp này cho phép sử dụng ít mẫu máu hơn và có thể điều chỉnh liều sớm hơn, đặc biệt trong các trường hợp nhiễm khuẩn nặng.

3.1. Nguyên Tắc Của Phương Pháp Bayesian

Phương pháp Bayesian sử dụng thông tin từ các nghiên cứu trước đó để ước tính nồng độ thuốc trong máu. Điều này giúp cải thiện độ chính xác trong việc hiệu chỉnh liều vancomycin.

3.2. Lợi Ích Của Việc Áp Dụng Phương Pháp Bayesian

Việc áp dụng phương pháp Bayesian giúp giảm thiểu số lượng mẫu cần thiết, đồng thời tăng cường khả năng đạt được mục tiêu điều trị sớm hơn cho bệnh nhân.

IV. Kết Quả Nghiên Cứu Tại Bệnh Viện Bạch Mai

Nghiên cứu tại Bệnh viện Bạch Mai cho thấy việc áp dụng phương pháp Bayesian trong giám sát nồng độ vancomycin đã mang lại kết quả tích cực. Tỷ lệ bệnh nhân đạt được mục tiêu AUC 400-600 mg.h/L đã tăng lên đáng kể.

4.1. Đặc Điểm Bệnh Nhân Trong Nghiên Cứu

Đặc điểm bệnh nhân tham gia nghiên cứu cho thấy sự đa dạng về tình trạng sức khỏe, từ bệnh nhân có chức năng thận bình thường đến những người có suy thận. Điều này cho thấy sự cần thiết của việc hiệu chỉnh liều.

4.2. Tác Động Của Phương Pháp Bayesian Đến Kết Quả Điều Trị

Kết quả cho thấy phương pháp Bayesian không chỉ giúp đạt được mục tiêu điều trị mà còn giảm thiểu nguy cơ gặp phải các tác dụng phụ không mong muốn.

V. Kết Luận Về Hiệu Chỉnh Liều Vancomycin

Hiệu chỉnh liều vancomycin thông qua giám sát nồng độ thuốc trong máu bằng phương pháp Bayesian tại Bệnh viện Bạch Mai đã chứng minh được tính hiệu quả và an toàn. Việc áp dụng phương pháp này cần được mở rộng và nghiên cứu thêm để tối ưu hóa điều trị cho bệnh nhân.

5.1. Tương Lai Của Nghiên Cứu Vancomycin

Nghiên cứu tiếp theo cần tập trung vào việc mở rộng quy mô và áp dụng phương pháp Bayesian cho các loại thuốc khác, nhằm nâng cao hiệu quả điều trị trong lâm sàng.

5.2. Đề Xuất Cải Tiến Quy Trình TDM

Cần có các đề xuất cải tiến quy trình TDM vancomycin để đảm bảo tính chính xác và hiệu quả trong việc giám sát nồng độ thuốc, từ đó nâng cao chất lượng điều trị cho bệnh nhân.

14/08/2025
Nguyễn thị cúc hiệu chỉnh liều vancomycin thông qua giám sát nồng độ thuốc trong máu với tiếp cận bayesian trên bệnh nhân người lớn tại bệnh viện bạch mai khóa luận tốt nghiệp dược sĩ

Trích đoạn nội dung tài liệu

ĐẶT VẤN ĐỀ Tối ưu hóa chế độ liều dựa trên nguyên lý dược động học/dược lực học (PK/PD) của vancomycin nhằm đảm bảo hiệu quả điều trị, giảm thiểu độc tính cũng như hạn chế sự xuất hiện đề kháng kháng sinh là vấn đề đã và đang được nghiên cứu rộng rãi từ hơn 60 năm qua. Giám sát nồng độ thuốc trong máu (TDM) được coi là phương pháp hiệu quả được áp dụng để kiểm soát nồng độ thuốc trong phạm vi điều trị, đáp ứng nhu cầu đảm bảo an toàn và hiệu quả. Theo thời gian, các hướng dẫn giám sát nồng độ thuốc trong máu của vancomycin cũng được thay đổi dựa trên cập nhật các kết quả nghiên cứu PK/PD, đặc biệt về việc lựa chọn đích giám sát để tối ưu hóa chế độ liều trên thực hành lâm sàng. Các nghiên cứu ghi nhận tỷ số diện tích dưới đường cong nồng độ - thời gian trên nồng độ ức chế tối thiểu (AUC/MIC) là thông số phản ánh tốt nhất hiệu quả lâm sàng của vancomycin trong điều trị nhiễm khuẩn gây ra bởi các chủng vi khuẩn Gram dương, đặc biệt là tụ cầu vàng kháng methicillin (MRSA) [14], [36], [97], [99].

Trước đây, do những khó khăn khi ước tính AUC trên thực tế lâm sàng, đích Ctrough đã được lựa chọn trong TDM vancomycin [101]. Tuy nhiên đến năm 2020, các hiệp hội chuyên môn Hoa Kỳ ban hành hướng dẫn đồng thuận mới về TDM vancomycin, trong đó khuyến cáo sử dụng diện tích dưới đường cong nồng độ - thời gian (AUC) thay cho nồng độ đáy (Ctrough). Khuyến cáo này đưa ra dựa trên các bằng chứng ghi nhận sự không phù hợp khi dùng Ctrough thay thế cho AUC trong TDM vancomycin và sự sẵn có của các công cụ hỗ trợ tính toán [99]. Đồng thuận cũng đưa ra khuyến cáo về việc lựa chọn phương pháp Bayes trong ước tính AUC với ưu điểm hạn chế số lượng mẫu TDM trên bệnh nhân, có khả năng lấy mẫu sớm hơn trạng thái cân bằng giúp hiệu chỉnh liều nhằm đạt sớm mục tiêu đích điều trị, đặc biệt trong các trường hợp nhiễm khuẩn nặng bao gồm nhiễm khuẩn huyết, viêm nội tâm mạc nhiễm khuẩn, viêm phổi, viêm tủy xương và viêm màng não [99].

Bệnh viện Bạch Mai là bệnh viện đa khoa hạng đặc biệt, tuyến cuối lớn nhất khu vực phía Bắc, trở thành đơn vị điều trị nhiều bệnh nhân nhiễm khuẩn nặng, có mô hình bệnh tật phức tạp và mức độ sử dụng vancomycin cao. Do đó, việc tối ưu sử dụng vancomycin nhằm đảm bảo hiệu quả và hạn chế nguy cơ gặp biến cố bất lợi là vấn đề rất được các đơn vị lâm sàng trong Bệnh viện quan tâm. Giám sát điều trị vancomycin thông qua nồng độ thuốc trong máu trên bệnh nhân người lớn đã được đưa vào áp dụng trong thực hành lâm sàng tại Bệnh viện, kết quả đánh giá việc triển khai hoạt động này đã được công bố trước đó [6], [8], [13]. Với khuyến cáo mới của IDSA-ASHP-PIDS- SIDP năm 2020 về việc sử dụng đích AUC thay cho Ctrough trong giám sát nồng độ vancomycin trong máu, Bệnh viện Bạch Mai đã triển khai TDM vancomycin dựa trên AUC ước tính theo Bayes từ tháng 01/2021.

Với mong muốn tổng kết kết quả triển khai hoạt động này trong năm 2021, từ đó rút kinh nghiệm tiếp tục hoàn thiện hơn nữa quy 1 trình TDM vancomycin tại Bệnh viện, chúng tôi tiến hành nghiên cứu “Hiệu chỉnh liều vancomycin thông qua giám sát nồng độ thuốc trong máu với tiếp cận Bayesian trên bệnh nhân người lớn tại Bệnh viện Bạch Mai” với 2 mục tiêu: 1. Phân tích đặc điểm bệnh nhân, đặc điểm sử dụng thuốc và hiệu chỉnh liều vancomycin trên bệnh nhân người lớn tại Bệnh viện Bạch Mai thông qua giám sát nồng độ thuốc trong máu dựa trên AUC theo ước đoán Bayes. Phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến khả năng đạt đích AUC 400 – 600 mg.h/L ở lần định lượng đầu tiên khi áp dụng áp dụng quy trình TDM theo Bayes. Tổng quan về kháng sinh vancomycin Vancomycin là kháng sinh đầu tiên của nhóm glycopeptid đầu tiên được phân lập từ Streptomyces orientalis từ giữa những năm 1950 bởi nhà hóa học E.

Năm 1958, thuốc được đưa vào sử dụng điều trị các chủng tụ cầu vàng kháng penicillin. Tuy nhiên, kháng sinh này sau đó không được ưu tiên sử dụng do có nguy cơ độc tính trên thận và thính giác, cùng với đó là sự cạnh tranh bởi sự ra đời của methicillin và các penicillin kháng tụ cầu khác [67]. Chỉ cho đến khi có sự xuất hiện của tụ cầu vàng kháng methicillin (MRSA), vai trò của vancomycin mới dần quay trở lại vào đầu những năm 1990 và tiếp tục được nghiên cứu rộng rãi hơn nhằm tối ưu hóa hiệu quả của thuốc trên lâm sàng và hạn chế đề kháng thuốc [67], [78]. Vancomycin có trọng lượng phân tử khoảng 1450 dalton, thuốc có cấu trúc ba vòng phức tạp với nhiều liên kết peptid nên là một kháng sinh thân nước, được phân bố rộng vào khắp các mô và dịch ngoại bào trong cơ thể [65].

Cấu trúc phân tử của vancomycin được trình bày tại Hình 1. Cấu trúc phân tử của vancomycin [65] 1. Đặc điểm dược động học Hấp thu: Vancomycin hấp thu kém qua đường tiêu hóa với sinh khả dụng đường uống thấp < 5%, thuốc đạt nồng độ cao tại đại tràng nên thường được chỉ định trong trường hợp nhiễm khuẩn do Clostridium difficile. Thuốc không được khuyến cáo sử dụng đường tiêm bắp do gây đau và hấp thu không ổn định.

Do vậy, thuốc thường được sử dụng truyền tĩnh mạch trong điều trị các nhiễm khuẩn toàn thân [30], [84]. Phân bố: Vancomycin có tỷ lệ liên kết với protein huyết tương thấp, dao động từ 10 – 50% tùy theo từng đối tượng và chủ yếu liên kết với albumin và IgA [16], [18]. Mô hình dược động học phù hợp với vancomycin khi sử dụng đường tĩnh mạch thường được mô tả là mô hình 2 ngăn [56]. Vancomycin có tính thân nước nên phân bố rộng rãi vào các mô và dịch cơ thể, thể tích phân bố ước đoán từ các nghiên cứu vào khoảng 0,39 – 2,04 L/kg và thể tích ngăn trung tâm thường bằng khoảng 10% thể tích phân bố chung [75], [95].

Đối với các dịch cơ thể, thuốc có khả năng thấm tốt vào dịch ngoài màng tim, 3 dịch màng phổi, dịch cổ trướng hay các dịch áp xe [60]. Đối với mô, thuốc thấm tốt qua các mô dưới da nhưng thấm rất kém vào các mô mỡ, khả năng thấm qua các mô rất dao động và tùy thuộc vào tình trạng viêm [25]. Chuyển hóa và thải trừ: Vancomycin hầu như không bị chuyển hóa trong cơ thể mà thải trừ dưới dạng còn hoạt tính. Thuốc được thải trừ khoảng 80 – 90% qua nước tiểu trong vòng 24 giờ đầu ở những bệnh nhân có chức năng thận bình thường và thời gian bán thải của thuốc khoảng từ 7 – 9 giờ [65].

Đối với mô hình dược động học quần thể ở người trưởng thành, độ thanh thải vancomycin có mối tương quan cao với độ thanh thải creatinin, tuổi và trọng lượng cơ thể của người bệnh [70], [110]. Do vậy cần thiết phải hiệu chỉnh liều vancomycin trong trường hợp bệnh nhân có suy giảm chức năng thận nhằm hạn chế nguy cơ tích lũy thuốc gây độc tính cho bệnh nhân [84]. Đặc điểm dược lực học 1. Cơ chế tác dụng của vancomycin Vancomycin là kháng sinh có tác dụng diệt khuẩn, với thông số phản ánh tốt nhất khả năng đạt hiệu quả điều trị là AUC24h/MIC [99].

Cơ chế tác dụng của thuốc là ức chế quá trình tổng hợp vách tế bào vi khuẩn ở giai đoạn muộn trong quá trình phân chia. Do thuốc liên kết với đầu tận cùng D-alanyl-D-alanin các đơn vị tiền chất thành tế bào ngăn cản tạo thành peptidoglycan và ức chế quá trình tổng hợp vách. Tuy nhiên với vi khuẩn Gram âm, vancomycin khó có thể xâm nhập được vào vách tế bào để gây tác dụng do thuốc có trọng lượng phân tử lớn [65]. Phổ tác dụng của vancomycin Vancomycin có tác dụng trên nhiều chủng vi khuẩn Gram dương cả kỵ khí và hiếu khí.

Các vi khuẩn Gram âm thường đề kháng tự nhiên với vancomycin [25], [60]. Thuốc tác dụng trên tụ cầu Staphylococcus aureus (bao gồm các chủng kháng methicillin) và Staphylococcus epidermidis (bao gồm các chủng đa kháng) [25], [119]. MIC của tụ cầu với vancomycin còn ở mức ≤ 2 mg/L, tuy nhiên gần đây cũng xuất hiện các chủng giảm nhạy cảm, thậm chí đề kháng với vancomycin (VISA/VRSA) [45]. Với cầu khuẩn ruột, vancomycin có tác dụng kìm khuẩn với phần lớn các chủng Enterococcus faecalis và một tỷ lệ nhất định Enterococcus faecium [25], [119].

Tất cả các chủng Streptococcus pneumoniae và Streptococcus pyogenes đều còn nhạy cảm với vancomycin [25], [119]. Thuốc cũng có tác dụng trên một số vi khuẩn không điển hình khác như Listeria monocytogenes, các chủng Bacillus, Corynebacterium spp, và Clostridium difficile [25], [119]. Chỉ số PK/PD của vancomycin trong điều trị Nghiên cứu in vitro và trên mô hình chuột nhiễm khuẩn bắp đùi có giảm bạch cầu trung tính cho thấy tỷ số diện tích dưới đường cong nồng độ - thời gian trên nồng độ ức chế tối thiểu (AUC/MIC) là chỉ số tốt nhất để dự đoán tác dụng của vancomycin 4 trên S.aureus bao gồm cả MSSA và MRSA [41].2 biểu diễn sự thay đổi khuẩn lạc trong 24 giờ theo các chỉ số PK/PD trên S.aureus nhạy cảm với methicillin [41]. Mối liên hệ giữa chỉ số PK/PD và tác dụng diệt khuẩn của vancomycin trên S.aureus nhạy cảm với methicillin (MSSA) [41] Nghiên cứu của Ebert và cộng sự cho thấy khuẩn lạc trong 24 giờ thay đổi theo 3 chỉ số AUC24h/MIC, Cpeak/MIC và T>MIC của mô hình nhiễm khuẩn bắp đùi thực nghiệm trên chuột có giảm bạch cầu trung tính, trong đó AUC24h/MIC là chỉ số có giá trị nhất trong dự đoán khả năng diệt khuẩn của vancomycin [41].

Trong hướng dẫn TDM vancomycin năm 2009 của các hiệp hội chuyên môn Hoa Kỳ, giá trị AUC24h/MIC ≥ 400 được coi là chỉ số PK/PD mục tiêu để tối ưu hóa hiệu quả của vancomycin [101]. Do MIC là một thành phần trong thông số mục tiêu PK/PD của thuốc nên mức độ nhạy cảm của vi khuẩn tại địa phương là một yếu tố quan trọng. Theo thời gian hiện tượng giảm nhạy cảm và đề kháng vancomycin có xu hướng gia tăng, gây nên hiện tượng “MIC creep” có thể ảnh hưởng bất lợi đến khả năng đạt chỉ số PK/PD mong muốn cũng như khả năng điều trị sạch khuẩn trên bệnh nhân [107]. Năm 2006, Viện Chuẩn thức lâm sàng và xét nghiệm Hoa Kỳ (CLSI) đã hạ giá trị điểm gãy MIC của vancomycin với S.aureus từ 4 mg/L xuống 2 mg/L.

Tuy nhiên, năm 2019 một tổng quan hệ thống nghiên cứu xu hướng về khả năng nhạy cảm với kháng sinh của S.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ