CHƯƠNG 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ KÊ KHAI THUẾ VÀ HIỆN ĐẠI HÓA QUẢN LÝ KÊ KHAI THUẾ 1. Quản lý kê khai thuế 1. Quản lý thuế Thuế là nguồn thu chủ yếu của ngân sách Nhà nước, phản ảnh bản chất của chế độ xã hội. Do vậy, trong quản lý thuế, Nhà nước cần phải luôn hoàn thiện để một mặt bảo đảm nguồn thu cho Nhà nước, mặt khác động viên được sự đóng góp của toàn dân trong việc tạo ra một nguồn lực tài chính đủ mạnh để phát triển kinh tế, xây dựng đất nước.
Theo Giáo trình Lý thuyết thuế của Học viện Tài chính thì “Thuế là một khoản đóng góp bắt buộc của các thể nhân và pháp nhân cho Nhà nước, do pháp luật quy định, nhằm phục vụ cho mục đích công cộng” [5, tr25]. Quá trình tổ chức để thuế được chuyển giao từ các tổ chức, cá nhân trong xã hội vào ngân sách nhà nước chính là quá trình quản lý thuế. Quản lý thuế là một lĩnh vực quản lý chuyên ngành thuộc quản lý hành chính nhà nước. Quản lý hành chính là sự tác động của cơ quan hành chính nhà nước vào con người hoặc các mối quan hệ xã hội để đạt được các mục tiêu của chính phủ.
Tiếp cận dưới góc độ thực thi quyền lực nhà nước thì quản lý hành chính là thực thi quyền hành pháp của nhà nước. Tiếp cận dưới góc độ công việc cụ thể thì quản lý hành chính là điều chỉnh hành vi con người, hành vi xã hội và tổ chức thi hành pháp luật đã ban hành. Theo Giáo trình Quản lý thuế của Học viện Tài chính thì “Quản lý thuế có thể được hiểu là việc tổ chức thực thi pháp luật thuế của Nhà nước, tức là, quản lý thuế được hiểu là hoạt động tác động và điều hành hoạt động đóng thuế của người nộp thuế” [18, tr9]. Đây chính là cách hiểu quản lý thuế theo 3 nghĩa hẹp và trong đề tài này việc tiếp cận, giải quyết các vấn đề về quản lý kê khai thuế là theo nghĩa hẹp này.
Quản lý kê khai thuế Theo Giáo trình Quản lý thuế của Học viện Tài chính thì “Kê khai thuế là việc người nộp thuế căn cứ vào số liệu và tình hình thực tế các hoạt động phát sinh nghĩa vụ thuế để kê khai xác định số tiền thuế phải nộp vào NSNN trong kỳ tính thuế theo quy định của pháp luật” [18, tr147]. Trong hệ thống quản lý thuế, công tác quản lý kê khai và kế toán thuế luôn có một vị trí hết sức quan trọng, có thể coi đây như là khâu đầu tiên của quá trình quản lý thuế, cũng có thể coi là khâu cốt lõi của quá trình quản lý thuế, mà cũng có thể coi là khâu thể hiện kết quả của công tác quản lý thuế, bởi lẽ chức năng này vừa cung cấp toàn bộ thông tin cho các chức năng quản lý thuế tiếp theo tiếp tục thực hiện nhiệm vụ, vừa tiếp nhận các kết quả xử lý của các chức năng quản lý thuế đó để theo dõi việc thực hiện nghĩa vụ thuế của NNT. Trong hệ thống tổ chức quản lý thuế theo mô hình chức năng, đây thường được gọi là chức năng “lõi”, các thông tin được xử lý qua công tác này về NNT được gọi là thông tin “lõi”. Như vậy, có thể nói đây là chức năng đầu tiên mà ngành Thuế luôn phải coi trọng và thực hiện tốt thì mới có thể thực hiện tốt các công tác quản lý thuế tiếp theo như quản lý thu nợ và kiểm tra, thanh tra thuế.
Quản lý kê khai thuế có nhiệm vụ xác định cho đúng và đủ đối tượng nào phải tự kê khai thuế, kê khai các loại thuế nào và kê khai khi nào, nghĩa vụ thuế phát sinh và đã nộp của người nộp thuế như thế nào. Các đối tượng còn lại thuộc cơ chế cơ quan thuế tính thuế, ấn định thuế và thông báo thuế và được cơ quan thuế lập danh sách để quản lý theo cơ chế riêng. 4 Như vậy, quản lý kê khai thuế là hoạt động của cơ quan thuế ghi nhận, phản ánh, theo dõi tình hình nộp hồ sơ khai thuế của người nộp thuế và phân tích, đánh giá tính chính xác, trung thực, đúng pháp luật của hồ sơ khai thuế. Mục tiêu quản lý kê khai thuế 1.
Quản lý đầy đủ đối tượng kê khai thuế Mục tiêu tổng thể, bao trùm và quyết định đến mọi hoạt động của ngành Thuế là cần phải nắm bắt, quản lý đầy đủ đối tượng, không bỏ sót nguồn thu, bởi nếu không quản lý tốt đối tượng cơ quan thuế không thể kiểm soát diễn biến hoạt động sản xuất kinh doanh của NNT, không thể lường trước được những hậu quả sẽ xảy ra trong quá trình quản lý thuế. Để làm tốt được nội dung công việc này, trước hết cơ quan thuế cần xác định được các trường hợp phải nộp hồ sơ khai thuế, quản lý danh sách các loại hồ sơ khai thuế phải nộp hàng tháng, hàng quý, hàng năm của từng NNT, thời điểm bắt đầu và thời điểm kết thúc phải nộp hồ sơ khai thuế tương ứng cho từng loại hồ sơ khai thuế; các trường hợp kê khai đặc biệt khác (kê khai theo từng lần phát sinh nghĩa vụ thuế, kê khai đối với trường hợp chấm dứt hoạt động, chấm dứt hợp đồng,…). Các công việc quản lý đối tượng cụ thể theo bảng mô tả công việc dưới đây: 5 Bảng số 1.1: Nội dung công việc quản lý kê khai NNT Trường hợp Nội dung công việc NNT được cấp Xác định loại thuế, loại hồ sơ khai thuế phải nộp, kỳ tính mã số thuế mới thuế, khai thuế và ngày bắt đầu phải nộp hồ sơ khai thuế của từng NNT để cập nhật Danh sách theo dõi NNT phải nộp hồ sơ khai thuế. NNT thay đổi - Cập nhật bổ sung loại thuế, loại hồ sơ khai thuế, kỳ tính thông tin đăng thuế và ngày bắt đầu phải nộp hồ sơ kê khai đối với các hồ ký thuế nhưng sơ mới phát sinh của NNT vào Danh sách theo dõi NNT không làm phải nộp hồ sơ khai thuế.
thay đổi mã số - Cập nhật ngày kết thúc phải nộp hồ sơ khai thuế đối với hồ thuế và không sơ khai thuế không còn phải nộp cho cơ quan thuế vào Danh thay đổi cơ sách theo dõi NNT phải nộp hồ sơ khai thuế. quan thuế quản lý trực tiếp - Đối với cơ quan thuế nơi NNT chuyển đi: + Xác định tình hình nộp hồ sơ khai thuế của NNT đến thời điểm chuyển đi. NNT chuyển + Căn cứ ngày chuyển đi của NNT, cập nhật ngày kết thúc địa điểm và phải nộp hồ sơ khai thuế đối với toàn bộ hồ sơ khai thuế của thay đổi cơ NNT vào Danh sách theo dõi NNT phải nộp hồ sơ khai thuế. quan thuế quản lý trực tiếp 6 - Đối với cơ quan thuế nơi NNT chuyển đến: Căn cứ thông tin của NNT chuyển đến cập nhật loại thuế, loại hồ sơ khai thuế, kỳ tính thuế, ngày bắt đầu phải nộp hồ sơ khai thuế vào Danh sách theo dõi NNT phải nộp hồ sơ khai thuế.
Đồng thời, căn cứ Thông báo về tình trạng kê khai thuế của NNT chuyển cơ quan thuế quản lý do cơ quan thuế nơi NNT chuyển đi gửi đến (nếu có) để tiếp tục theo dõi, giải quyết các vấn đề có liên quan đến việc nộp hồ sơ khai thuế của NNT. - Đối với mã số thuế mới được cấp sau khi tổ chức, sắp xếp lại doanh nghiệp: Cập nhật loại thuế, loại hồ sơ khai thuế, kỳ NNT tổ chức tính thuế, ngày bắt đầu phải nộp hồ sơ khai thuế vào Danh sắp xếp lại sách theo dõi NNT phải nộp hồ sơ khai thuế. doanh nghiệp - Đối với mã số thuế đã chấm dứt hiệu lực: Cập nhật ngày và thay đổi mã kết thúc phải nộp hồ sơ khai thuế đối với toàn bộ hồ sơ khai số thuế thuế của NNT vào Danh sách theo dõi NNT phải nộp hồ sơ khai thuế. Căn cứ thông báo xin tạm ngừng kinh doanh của NNT, cập nhật thời gian tạm ngừng kinh doanh vào Danh sách theo NNT tạm dõi NNT phải nộp hồ sơ khai thuế để tạm dừng việc theo ngừng kinh dõi, đôn đốc NNT nộp hồ sơ khai thuế.
Hết thời gian tạm doanh có thời ngừng kinh doanh, thực hiện khôi phục Danh sách theo dõi hạn NNT phải nộp hồ sơ khai thuế để tiếp tục việc theo dõi, đôn đốc NNT nộp hồ sơ khai thuế. - Cập nhật ngày ngừng hoạt động vào Danh sách theo dõi NNT tạm NNT phải nộp hồ sơ khai thuế để tạm dừng việc theo dõi, ngừng kinh đôn đốc NNT nộp hồ sơ khai thuế. 7 Song song với việc xác định các trường hợp phải nộp hồ sơ khai thuế còn phải quản lý NNT thay đổi kỳ kê khai thuế theo từng lần phát sinh sang khai thuế theo tháng, quản lý NNT thay đổi niên độ kế toán, quản lý NNT chuyển đổi phương pháp tính thuế Giá trị gia tăng và quản lý NNT khai thuế qua tổ chức kinh doanh dịch vụ làm thủ tục về thuế. Kết quả đạt được khi quản lý được đầy đủ đối tượng kê khai thuế là giúp cho cơ quan thuế có được thông tin về nghĩa vụ kê khai nộp thuế của NNT, có căn cứ để kiểm tra, đôn đốc kê khai hàng tháng, hàng quý, năm, căn cứ để xử lý vi phạm hành chính trong trường hợp không kê khai hoặc kê khai không đúng thời gian quy định.
Việc quản lý tốt đối tượng kê khai thuế là tiền đề cho việc theo dõi và đôn đốc thực hiện nghĩa vụ nộp thuế đối với NNT của cơ quan thuế. Trường hợp không thực hiện tốt việc quản lý kê khai thuế, cơ quan thuế sẽ không có căn cứ để đánh giá việc chấp hành quy định về kê khai thuế của NNT theo luật định, kéo theo việc không xác định được đầy đủ và chính xác nghĩa vụ thuế, gây thất thu thuế và cơ quan thuế không đôn đốc nhắc nhở kịp thời nghĩa vụ kê khai thuế đối với NNT, làm cho việc thực thi pháp luật không nghiêm, tạo cho NNT thói quen chây ì, không chấp hành đúng quy định của pháp luật. Ngoài ra, để làm tốt công tác quản lý NNT, cơ quan thuế phải thường xuyên rà soát, nắm bắt địa bàn quản lý để xác định những đối tượng thực tế có hoạt động sản xuất kinh doanh phải đưa vào diện quản lý thuế, nhất là vào dịp đầu năm - thời điểm mà tổ chức, cá nhân kinh doanh phải thực hiện nộp thuế môn bài.