CHƯƠNG 1: LÝ LUẬN CHUNG VỀ QUẢN LÝ THUẾ ĐỐI VỚI HOẠT ĐỘNG KINH DOANH SỬ DỤNG TMĐT 1. Tổng quan về TMĐT 1. Khái niệm TMĐT Trong nền kinh tế dưới sự tác động mạnh mẽ cuộc cách mạng công nghiệp 4.0, cùng với sự cải tiến các phương tiện điện tử và nền tảng điện tử, hoạt động kinh doanh TMĐT ngày càng phát triển, khiến TMĐT trở thành một lĩnh vực kinh tế quan trọng của hầu hết các quốc gia, trong đó có Việt Nam. Hiện nay, có rất nhiều quan điểm đưa ra về TMĐT có thể đề cập đến như sau: Theo Từ điển bách khoa toàn thư mở Wikipedia, TMĐT (e-commerce hay EC) là công cụ quan trọng cho thương mại quốc tế, là sự hướng tới của thế giới trong thế kỷ 21.
Cụ thể, TMĐT được hiểu là “chuyển tiền điện tử, quản lý chuỗi dây chuyền cung ứng, tiếp thị Internet, trao đổi dữ liệu điện tử EDI, hệ thống quản lý hàng tồn kho, hệ thống tự động thu thập dữ liệu” dựa trên một số công nghệ như mạng viễn thông, hệ thống Internet, mạng lưới máy tính. “TMĐT thường sử dụng mạng toàn cầu Word Wide Web để thực hiện ít nhất một khâu trong chu trình giao dịch.” Theo Tổ chức thương mại thế giới WTO định nghĩa: “TMĐT là việc sản xuất, tiếp thị, bán hàng hoặc phân phối sản phẩm hàng hóa và dịch vụ được mua bán và thanh toán thông qua các phương tiện điện tử, nhưng được giao nhận một cách hữu hình bao gồm sản phẩm cũng như những thông tin số hóa thông qua mạng Internet”. Theo Tổ chức Hợp tác và phát triển kinh tế của Liên Hợp quốc (OECD), có hai quan điểm về TMĐT được đưa ra như sau: - Theo nghĩa hẹp, TMĐT chỉ giới hạn trong môi trường Internet, được hiểu sơ bộ là các giao dịch mua bán hàng hóa và dịch vụ trên mạng Internet. Theo cách tiếp cận này, các giao dịch TMĐT bao gồm các đơn hàng được tiếp nhận hoặc được đặt thông qua bất kỳ ứng dụng nào trên nền tảng Internet, ngoại trừ các đơn hàng qua điện thoại, fax hay email.
8 - Theo nghĩa rộng, “TMĐT gồm các giao dịch thương mại liên quan đến các tổ chức và cá nhân dựa trên việc sử dụng các phương tiện điện tử, công nghệ xử lý và truyền đi các thông tin đã được số hóa. Hoạt động đặt hàng và bán những hàng hóa, dịch vụ và thanh toán có thể được thực hiện thông qua mạng truyền thông (trực tuyến) và không thông qua mạng (ngoại tuyến).” Theo quy định của pháp luật Việt Nam trong nghị định số 52/2013/NĐ-CP về TMĐT do Chính phủ ban hành ngày 16/05/2013 đã đề cập đến TMĐT như sau: “Hoạt động TMĐT là việc tiến hành một phần hoặc toàn bộ quy trình của hoạt động thương mại bằng phương tiện điện tử có kết nối với mạng Internet, mạng viễn thông di dộng hoặc các mạng mở khác.” Tóm lại, TMĐT có thể hiểu là các hoạt động thương mại được thực hiện trên nền tảng CNTT có kết nối Internet, không đòi hỏi các chủ thể phải tiến hành trao đổi, đàm phán trực tiếp bao gồm các hoạt động cung cấp hàng hóa, dịch vụ thông thường, dịch vụ số, tài nguyên số, sản phẩm số như: hội nghị trực tuyển, tài liệu điện tử, vé điện tử, phần mềm và trò chơi điện tử…nhằm mục đích tạo ra giá trị gia tăng và phát sinh lợi nhuận cho các chủ thể thực hiện. Lịch sử hình thành và phát triển TMĐT Trong thời đại kỷ nguyên kỹ thuật số, sự phát triển mạnh mẽ của TMĐT đã và đang làm thay đổi các phương thức kinh doanh một cách toàn diện. TMĐT bắt đầu từ rất sớm, gắn liền với sự ra đời của mạng Internet đầu tiên tại Mỹ vào năm 1969 mang tên Arpanet (Advanced Research Projects Agency Network).
Cùng thời gian đó, CompuServe – nhà cung cấp dịch vụ thương mại trực tuyến lớn đầu tiên của Mỹ được sáng lập, chủ yếu chia sẻ tin tức và dữ liệu thông qua hệ thống kết nối mạng Internet và email. Đầu những năm 1970, sự ra đời của công nghệ chuyển tiền điện tử (Electronic Fund Transfer - EFT) và trao đổi dữ liệu điện tử (Electronic Data Transfer - EDT) đã cho phép doanh nghiệp, cá nhân trao đổi văn bản, dữ liệu như hợp đồng điện tử, đơn đặt hàng, HĐĐT sang hình thức giao dịch trực tuyến thông qua mạng Internet, mạng viễn thông và có phạm vi toàn cầu. Cùng với sự ra đời của thẻ tín 9 dụng, máy rút tiền tự động và giao dịch ngân hàng qua điện thoại vào những năm 1980, TMĐT được hình thành một cách sơ khai. Hoạt động kinh doanh sử dụng TMĐT chính thức bùng nổ với sự ra đời của mạng lưới toàn cầu (Word Wide Web) vào năm 1990.
Đánh dấu cho bước đột phá này là sự ra đời của trang điện tử Amazon.com với giá trị lên tới hàng triệu đô la Mỹ (1995) và trang đấu giá Ebay vào năm 1996. Năm 1997, tên miền thương mại (.com) đã thay thế cho tên miền giáo dục (.edu) và trở thành tên miền được sử dụng nhiều nhất trên thế giới. Các nhà đầu tư, doanh nghiệp cũng như người tiêu dùng bị thu hút mạnh mẽ bởi TMĐT. Đến cuối năm 2020, nhiều doanh nghiệp tại châu Âu và Mỹ đã xây dựng các website của riêng mình.
Tại Việt Nam, đến cuối tháng 10/2022, số lượng tên miền (.vn) đang đạt mức 564. Sự ra đời và phát triển của mạng Internet cũng góp phần thúc đẩy, tạo điều kiện cho sự phát triển mạnh mẽ của TMĐT trên nền tảng di động. Đầu thập niên 80 của thế kỷ 20, mạng thông tin di động 1G (First generation wireless network) ra đời, cung cấp dịch vụ nghe gọi di động đầu tiên sử dụng kết nối analog. Thế hệ kết nối mạng 2G (Second generation wireless network) sử dụng tín hiệu kỹ thuật số được sử dụng tại Phần Lan năm 1991 với tính năng bổ sung là tin nhắn.
Tiên tiến hơn là hệ thống mạng thông tin di động 3G (Third generation wireless network) cho phép người dùng trao đổi nhiều dữ liệu như tin nhắn, âm thanh, hình ảnh, video… với tốc độ cao. Năm 2012, hệ thống mạng 4G ra đời và được chuẩn hóa. Đến năm 2020, mạng 5G được phát triển và dự báo sẽ đáp ứng được hầu hết nu cầu của người dùng. Đặc điểm TMĐT TMĐT là việc tiến hành các hoạt động thương mại bằng các phương tiện điện tử.
Do đó, sự phát triển của TMĐT phụ thuộc chặt chẽ vào mức độ phát triển của công nghệ thông tin và truyền thông. Không giới hạn khoảng cách: TMĐT là thị trường phi biên giới. Sự phát triển của Internet đã tạo điều kiện cho các chủ thể thực hiện các giao dịch thương mại mà không cần trực tiếp trao đổi, điều này giúp các cơ sở kinh doanh kinh doanh quy mô 10 vừa và nhỏ, các công ty khởi nghiệp có thể mở rộng mạng lưới khách hàng trong và ngoài nước một cách dễ dàng với chi phí cho hoạt động truyền thông được giảm thiểu. Không giới hạn thời gian: các giao dịch hoạt động TMĐT được thực hiện trên toàn cầu thông qua mạng Internet, giúp thúc đẩy, tạo điều kiện đẩy mạnh mức tiêu thụ hàng hóa và dịch vụ trên toàn thế giới.
Không giới hạn vị trí: chủ doanh nghiệp có thể điều hành doanh nghiệp ở bất kỳ đâu, miễn là có phương tiện điện tử kết nối Internet, giúp giảm chi phí vận hành, chi phí thuê nhân công, quản lý hàng hóa dễ dàng hơn. Phân loại TMĐT Căn cứ theo hình thức giao dịch: TMĐT được chia thành 8 nhóm chính, bao gồm: Nhóm 1: cung cấp hàng hóa và dịch vụ thông thường qua các website, sàn đấu giá trực truyến, sàn giao dịch trực tuyến. Nhóm 2: cung cấp tên miền, không gian lưu trữ website, cung cấp dịch vụ lưu trữ, giải pháp phần mềm. Nhóm 3: cung cấp trò chơi điện tử trực tuyến.
Nhóm 4: cung cấp ứng dụng phần mềm trên các kho ứng dụng: trò chơi, báo điện tử, phim, âm nhạc, truyền hình… Nhóm 5: khai thác, kinh doanh tiền điện tử, tiền ảo. Nhóm 6: cung cấp dịch vụ quảng cáo trực tuyến. Nhóm 7: cung cấp dịch vụ kết nối trực tuyến. Nhóm 8: bán hàng trên các trang MXH: Facebook, Instagram, Tiktok… Căn cứ theo hình thức thực hiện TMĐT: Hoạt động TMĐT có thể được thực hiện theo nhiều hình thức khác nhau: Thư điện tử (Email), Website bán lẻ, Sàn giao dịch điện tử, Các trang MXH… Căn cứ theo công nghệ kết nối mạng: TMĐT được chia thành nhóm thương mại di động (Mobile Commerce – Sự phân phối hàng hóa TMĐT trực tiếp tới tay người 11 tiêu dùng ở bất cứ đâu thông qua công nghệ không dây”) và TMĐT 3G, 4G, 5G cho phép người dùng trao đổi dữ liệu với chất lượng và tốc độ ngày càng cao.
Căn cứ theo chủ thể tham gia: Đây là tiêu thức phân loại được sử dụng phổ biến trên thế giới. Các chủ thể liên quan tới giao dịch điện tử bao gồm: cá nhân (C), doanh nghiệp (B), chính phủ (G) và người lao động (E). Khi các chủ thể này thực hiện trao đổi sẽ tạo thành các giao dịch: B2B, B2C, B2E, B2G, C2G, C2C, G2G.1: Phân loại TMĐT căn cứ theo chủ thể tham gia STT Giao dịch Nội dung 1 Giao dịch giữa doanh nghiệp với Giao dịch mua bán các sản phẩm hàng doanh nghiệp (B2B) hóa và dịch vụ giữa các doanh nghiệp trong quá trình sản xuất kinh doanh kèm theo các dịch vụ tư vấn, bảo trì, nâng cấp sau bán hàng, thông qua fax và Internet. Hiện nay, khoảng 80% các TMĐT hiện hành áp dụng theo mô hình này.
2 Giao dịch giữa doanh nghiệp với Giao dịch mua bán trực tiếp giữa người người tiêu dùng (B2C) tiêu dùng và các doanh nghiệp thực hiện việc bán lẻ qua mạng thông qua website của doanh nghiệp hoặc sàn giao dịch. 3 Giao dịch giữa doanh nghiệp với Cơ quan chính phủ đóng vai trò là khách cơ quan chính phủ (B2G) hàng, có thể sử dụng Internet để tiến hành mua sắm công, thực hiện các thủ tục hành chính và các thủ tục khác liên quan đến chính phủ: hải quan điện tử, thuế điện tử, mua bán trái phiếu chính phủ,… 12 4 Giao dịch giữa người tiêu dùng Giao dịch cung cấp các thông tin liên (công dân) và cơ quan chính phủ quan đến chính sách, trả lương, trợ cấp, (C2G) giải đáp thắc mắc,… mà cơ quan thuộc chính phủ có thể sử dụng phương thức TMĐT làm phương tiện. 5 Giao dịch giữa người tiêu dùng Giao dịch giữa những người tiêu dùng, và người tiêu dùng (C2C) cho phép người tiêu dùng có thể trao đổi và mua bán trực tiếp với nhau qua các website, MXH… Ngoài ra các cá nhân có thể tự thành lập website của riêng mình để rao bán hàng hóa, đấu giá sản phẩm. Thành công nhất cho mô hình C2C là website Ebay.