MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài Trong xu hướng toàn cầu hóa, thương mại quốc tế phát triển, một vấn đề đặt ra với quản lý hải quan là phải cân bằng giữa chức năng kiểm soát và chức năng tạo thuận lợi cho thương mại. Và một trong những nội dung cải cách hoạt động hải quan được nhiều nước quan tâm là áp dụng hệ thống quản lý rủi ro (QLRR) vào quá trình quản lý hàng hóa xuất nhập khẩu. Từ năm 2005, nghiệp vụ quản lý rủi ro được Hải quan Việt Nam chính thức áp dụng trong thông quan hàng hóa xuất nhập khẩu, đã giúp cơ quan Hải quan đạt được những mục tiêu của cải cách hiện đại hóa như: đảm bảo sự cân bằng giữa tạo thuận lợi thương mại với kiểm soát chặt chẽ quá trình tuân thủ pháp luật; giúp cho công tác quản lý không bị dàn trải, giảm bớt áp lực về khối lượng công việc thông qua việc xác định đối tượng có rủi ro cao, ưu tiên tập trung nguồn lực vào quản lý đối với số đối tượng này; giảm thiểu các thủ tục hành chính, giảm bớt vai trò can thiệp của cán bộ hải quan trong quá trình làm thủ tục hải quan.Hơn thế nữa, quản lý rủi ro cho phép cơ quan Hải quan tập trung nguồn kiểm soát các đối tượng có mức rủi ro cao nhằm tạo điều kiện cho hàng hóa thông quan nhanh đồng thời thực thi được chức năng kiểm soát hiệu quả của Nhà nước.
Trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình, Cục Hải quan tỉnh Nghệ An đã và đang triển khai áp dụng quản lý rủi ro đối với tất cả các hoạt động nghiệp vụ, bước đầu đạt được những kết quả đáng ghi nhận. Tuy nhiên, tác giả nhận thấy khi áp dụng, triển khai trong thực tế các nội dung của quản lý rủi ro tại Cục Hải quan tỉnh Nghệ An vẫn còn một số hạn chế nhất định như số lượng thông tin doanh nghiệp được cập nhật vào hệ thống nghiệp vụ như Riskman (Hệ thống thông tin quản lý rủi ro) chưa được đầy đủ, thông tin vi phạm phục vụ cho công tác đánh giá tuân thủ doanh nghiệp chưa được thu thập và xử lý thường xuyên, việc thiết lập các tiêu chí phân tích đối với các doanh nghiệp có dấu hiệu rủi ro trong hoạt động xuất 2 nhập khẩu vào hệ thống Vcis (Hệ thống thông tin nghiệp vụ hải quan) chưa đạt yêu cầu, cơ sở vật chất và hạ tầng thông tin cho QLRR còn rất thiếu thốn đã làm giảm hiệu quả của QLRR, công tác kiểm tra sau thông quan, một khâu quan trọng không thể thiếu của QLRR chưa đạt được hiệu quả phòng, chống vi phạm pháp luật hải quan như mong muốn, dẫn đến vẫn phải kiểm tra nhiều tại cửa khẩu,. Căn cứ thông tin cảnh báo của cơ quan chức năng và số liệu thống kê của Tổng cục Hải quan cho thấy dấu hiệu vi phạm pháp luật về hải quan và nguy cơ gian lận thương mại đang tăng lên nhanh chóng cả về thủ đoạn lẫn phương thức thực hiện, trong khi lưu lượng hàng hóa xuất nhập khẩu ngày càng tăng lên. Hơn bao giờ hết đòi hỏi cần phải tăng cường và phát huy thực sự vai trò của quản lý rủi ro ngay từ đơn vị cơ sở, trong đó có Cục Hải quan tỉnh Nghệ An.
Là cán bộ hiện đang công tác tại Cục Hải quan tỉnh Nghệ An, đặc biệt tác giả đã từng trực tiếp thực hiện các bước trong quản lý rủi ro.Với sự tích lũy kiến thức từ công tác hàng ngày và quá trình học tập của bản thân, tác giả nhận thấy việc nghiên cứu về quản lý rủi ro hàng hóa xuất nhập khẩu là quan trọng, không những góp phần khắc phục những hạn chế mảng công tác này tại đơn vị và triển khai hệ thống quản lý rủi ro vào hoạt động nghiệp vụ hải quan đạt được hiệu quả cao mà còn là điều kiện cho tác giả được trau dồi khả năng nghiên cứu, nâng cao trình độ chuyên môn của mình. Xuất phát từ lý do đó, tác giả chọn đề tài nghiên cứu là “Quản lý rủi ro hàng hóa xuất nhập khẩu tại Cục Hải quan tỉnh Nghệ An”làm đề tài nghiên cứu luận văn tốt nghiệp thạc sĩ. Tổng quan nghiên cứu Tính đến thời điểm chọn đề tài này, tác giả nhận thấy đã có một số nghiên cứu có liên quan đến nội dung quản lý rủi ro, trong đó có thể kể đến các công trình nghiên cứu như sau: * Nghiên cứu quốc tế Khái niệm quản lý dựa trên rủi ro được áp dụng trong hầu hết các doanh nghiệp và khuvực chính phủ, có rất nhiều kinh nghiệm có thể được chia sẻ về các 3 vấn đề hải quan.Rủi ro hải quan bao gồm rủi ro do việc không tuân thủ pháp luật Hảiquan như yêu cầu cấp phép, quy định giá, quy tắc xuất xứ, các chế độ miễn giảmthuế, hạn chế thương mại, và các quy định an ninh để tạo thuận lợi cho thương mạiquốc tế (Tổ chức Hải quan thế giới, 2003). QLRR có hệ thống và thực hiện tất cảcác biện pháp cần thiết để hạn chế tiếp xúc với rủi ro hải quan như con người, hànghóa, phương tiện vận tải phải được kiểm tra và rộng hơn (Ngân hàng Thế giới,2005).
Mức độ rủi ro cao về con người, hàng hoá, phương tiện vận tải là đối tượngcủa các kiểm soát và can thiệp cao; mặc dù những người có nguy cơ thấp mà nhậnđược hỗ trợ thương mại cao cấp.Chỉ có cách tiếp cận QLRR có thể đảm bảo tuânthủ các quy định hải quan một cách để đảm bảo thuận lợi thương mại.Bằng cáchxác định, phân tích, đánh giá và xử lý rủi ro nhằm cải thiện hiệu quả các hoạt độngquản lý Hải quan hàng ngày. QLRR hải quan nhằm mục đích cải thiện việc ra quyếtđịnh và giảm thiểu tác động rủi ro về hoạt động nghiệp vụ, quy trình thực hiện kiểmtra hải quan (Geourjon, Laporte & Rota Graziozi,2010). Biljan và Trajkov (2012) nhấn mạnh rằng những vấn đề nan giải chủ yếu trong quản lý hải quan, đặc biệt là trong hai thập kỷ qua đó là cân bằng nhu cầu; tạo thuậnlợi cho thương mại là một quá trình đơn giản hóa, tiêu chuẩn hóa và thống nhất củavăn bản; thủ tục trong chuỗi cung ứng quốc tế là một trong những mức độ kiểmsoát và can thiệp khác nhau. Hải quan thay thếvai trò người gác cổng với những cách tiếp cận mới QLRR hiện đại, phức tạp và rấttinh vi.
Đặc điểm chính của phương pháp QLRR được xác định là người,hàng hóa, phương tiện vận tải phải được kiểm tra và đến mức độ nào. Widdowson(2005) kết luận rằng hiệu quả QLRR là trung tâm của hoạt động hải quan hiện đại,cung cấp các phương tiện để đạt được một sự cân bằng thích hợp giữa tạo thuận lợithương mại và kiểm soát. Ngoài ra, các nguyên tắc của QLRR có thể được áp dụngbằng tay hoặc tự động ở tất cả các cơ quan hành chính, nhưng một trong nhữngyếu tố quan trọng nhất là có được một sự hiểu biết rõ ràng về bản chất của rủi ro. Một trong những nghiên cứu thiết thực nhất đối với các thành phần và vai trò của quản lý rủi ro trên quy mô toàn cầu ngày nay, đối với chính quyền nằm 4 trong GDP bình quân đầu người cao so với GDP bình quân đầu người thấp theo khu vực /quốc gia, và về khả năng cải tiến QLRR cả hai cấp độ chiến lược và hoạt động, được thực hiện bởi Hintsa, Männistö, Hameri, Thibedeau, Sahlstedt, Tsikolenko, Finger và Granqvist (2011).Câu trả lời từ các cuộc khảo sát tiến hành trên QLRR trong 24 chính quyền, họ đã rút ra hai kết luận: Đầu tiên, tất cả 24 chính quyền trong cuộc khảo sát đã có ít nhất một số các yếu tố QLRR được hiểu và thực hiện, nhưng không có chính quyền nào có hệ thống QLRR hiệu quả trên phương diện chiến lược và trên cấp độ hoạt động; thứ hai, Hải quan hoạt động trong nền kinh tế kém phát triển nhận thức được rủi ro tiềm năng là thấp và những trở ngại trong cách tiếp cận rủi ro cao hơn so với đối tác của họ ở các quốc gia giàu có.Hạn chế để quản lý nguồn nhân lực, thiếu các công cụ QLRR và dữ liệu để quản lý rủi ro là những ví dụ quan trọng mà chính quyền ở các nước nghèo đang tụt hậu ngày nay gặp phải.
Djankov, Freund và Cong (2008), kết luận rằng việc giảm 10 phần trăm trong sự chậm trễ làm tăng kim ngạch xuất khẩu khoảng 4 phần trăm. Giảm sự chậm trễ trong thời gian hải quan nhập khẩu và xuất khẩu cóthể được tính như tương đương thuế quan mà sẽ thể hiện tác động của việc giảm độtrễ về tự do hóa thuế quan (Hummels, 2007). * Nghiên cứu trong nước Vũ Ngọc Anh (2010),Nâng cao hiệu quả áp dụng quản lý rủi ro trong lĩnh vựcnghiệp vụ Hải quan, đề tài nghiên cứu khoa học cấp ngành. Là một lãnh đạo cao cấp củaTổng cục hải quan, Tiến sĩ Vũ Ngọc Anh đã có cái nhìn toàn diện và sâu sắc.
Đề tài lànhững nội dung chi tiết, cụ thể về những vấn đề liên quan đến quản lý rủi ro.Tác giả đã nhấn mạnh tầm quan trọng của quản lý rủi ro trong lĩnh vực Hải quan, nêu bật được những kết quả đạt được và những tồn tại của hệ thống quản lý rủi ro trong lĩnh vực Hải quan đồng thời đề xuất các giải pháp góp phần nâng cao hiệu quả áp dụng quản lý rủi ro trong lĩnh vực nghiệp vụ Hải quan Quách Đăng Hòa (2009),Nghiên cứu, xây dựng khung tiêu chuẩn Quản lý rủi ro của Hải quan Việt Nam, đề tài nghiên cứu khoa học cấp ngành. Hiện nay, Ông Quách Đăng Hòa Trưởng ban quản lý rủi ro - Tổng cục Hải quan, với nhiều 5 năm kinh nghiệm. Đề tài là tài liệu tổng hợp các văn bản, nghiệp vụ về Quản lý rủi ro của Hải quan Việt Nam. Quản lý rủi ro trong kiểm tra Hải quan: những vấn đề cơ bản, bài viết đăng trong tạp chí Nghiên cứu Tài chính kế toán của Tiến sĩ Nguyễn Thị Phương Huyền, năm 2008.
Tác giả đã nêu ra lợi ích của việc quản lý rủi ro trong kiểm tra Hải quan như phân bố nguồn nhân lực hiệu quả hơn, tăng nguồn thu ngân sách, nâng cao tính tuân thủ pháp luật của doanh nghiệp… Để áp dụng kỹ thuật quản lý rủi ro các cơ quan Hải quan cần tập trung đến một số vấn đề: nâng cao nhận thức của cán bộ Hải quan, đảm bảo cơ sở hạ tầng công nghệ thông tin, hệ thống pháp luật về Hải quan cần được rà soát và điều chỉnh để phản ánh được bản chất của quản lý rủi ro; thành lập các đơn vị chuyên trách về quản lý rủi ro.