Lời mở đầu - Vấn đề an toàn thực phẩm. - Giới thiệu hệ thống quản lý chất lượng HACCP. - Tổng quan về bia và quy trình sản xuất bia chai. - Xây dựng nhà máy bia.
- Xây dựng hệ thống HACCP cho nhà máy sản xuất bia. Nguyễn Thị Hạnh -K18. TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. THỰC TRẠNG AN TOÀN VỆ SINH THỰC PHẨM Vấn đề đảm bảo chất lượng vệ sinh an toàn thực phẩm (CLVSATTP) hiện đang được nhiều quốc gia quan tâm, đặc biệt là các nước phát triển và đang phát triển.
Nó có vai trò quan trọng trong công việc bảo vệ sức khỏe con người, góp phần giảm tỉ lệ bệnh tật, duy trì và phát triển nòi giống, tăng cường sức lao động, học tập, thúc đẩy sự phát triển kinh tế văn hóa xã hội và nếp sống văn minh của đất nước. Đây là công việc hết sức phức tạp, ngay cả ở các nước công nghiệp phát triển, có hệ thống quản lý CLVSATTP tiên tiến thì những rủi ro vẫn xảy ra. Tình trạng ngộ độc thực phẩm. Theo thống kê của Mayer trong 50 năm gần đây tỷ lệ tử vong do ngộ độc Botulism chiếm tới 34,2%, ở Mỹ tỉ lệ này là 63,7%.960 vụ ngộ độc thực phẩm với 39.989 người mắc, ở Úc mỗi ngày có đến 11.500 người mắc các bệnh cấp tính do ăn uống.
Thống kê của Trung tâm kiểm soát và phòng ngừa bệnh tật (CDC) ở Mỹ mỗi năm có đến con số triệu trường hợp ngộ độc thực phẩm. Tháng 6/2000 xảy ra vụ nhiễm độc tụ cầu trong sữa tươi đóng hộp do hãng Snow Brand sản xuất tại Osaka,Nhật Bản làm 14.700 người ngộ độc kéo theo sự đình trệ sản xuất gây thiệt hại to lớn về kinh tế.[1] Theo thống kê của cục VSATTP, mỗi năm nước ta có khoảng 250 – 500 vụ ngộ độc thực phẩm với hơn 7000 – 10000 nạn nhân và hơn 100 – 200 ca tử vong.Nhà nước ta cũng phải chi trên 3 tỉ đồng cho việc điều trị, xét nghiệm và điều tra tìm nguyên nhân. Trong khi đó tại Mỹ, một quốc gia phát triển hàng năm có tới 9000 người chết, 6,5 – 33 triệu người mắc bệnh do thực phẩm. Riêng chỉ đến 10/06/2014 toàn quốc ghi nhận 67 vụ ngộ độc thực phẩm với 2084 người mắc, 1528 người nhập viện và 24 ca tử vong.
So với năm 2013, số vụ giảm 12 vụ, số người nghập viện giảm 88 người nhưng số ca mắc tăng 278 người, số người tử vong tăng 7 người.Tại Việt Nam, theo thống kê của bệnh viện Bạch Mai (Hà Nội), tỷ lệ bệnh nhânđến chữa trị tại Trung tâm chống độc thì số ngộ độc do thực phẩm là cao nhất. Con số này hoàn toàn hợp lý vì theo số liệu của Tổ chức Y tế thế giới (WHO), mỗi năm nước ta có hơn 8.000 người bị ngộ độc và tiêu Nguyễn Thị Hạnh -K18.1101 Trang2 chảy do đường ăn uống và kết quả báo cáo từ Bộ Y Tế, hơn 70 -80% thức ăn đường phố bị nhiễm khuẩn E. Nguyên nhân ngộ độc Ngộ độc thực phẩm là tình trạng bệnh lý xảy ra do ăn uống thức ăn bị nhiễm độc. Nguyên nhân chủ yếu do thực phẩm bẩn, thực phẩm không rõ nguồn gốc.
Bên cạnh đó là nhận thức và thói quen của người dân trong việc lựa chọn và chế biến thực phẩm còn nhiều hạn chế Có hai dạng ngộ độc: Ngộ độc cấp tính và ngộ độc mãn tính. + Ngộ độc cấp tính: Xảy ra khi ăn phải thực phẩm bị ôi nhiễm VSV hay hóa chất với lượng lớn sau 30 phút đến vài ngày có biểu hiện đâu bụng đi ngoài nhiều lần, buồn nôn hoặc liên tục, mệt mỏi khó chịu, đau đầu hoa mắt chóng mặt. + Ngộ độc mãn tính: Xảy ra khi ăn phải thức ăn bị ôi nhiễm các chất hóa học trong thời gian dài, chất độc sẽ tích lũy trong cơ thể, ảnh hưởng đến chuyển hóa các chất rối loạn tiêu hóa gây suy nhược, mệt mỏi kéo dài sinh ra các bệnh mãn tính có thể dẫn đến tử vong. Ngộ độc mãn tính không có biểu hiện rõ ràng.
Có rất nhiều nguyên nhân gây ra ngộ độc thực phẩm. Trong đó có ba tác nhân chính là: Tác nhân sinh học, tác nhân hóa học và tác nhân lý học. • Tác nhân sinh học: (chiếm 33 – 49%) Chủ yếu là vi khuẩn, nấm mốc, virut, kí sinh trùng. Vi khuẩn Salmonella là nguyên nhân của 70% vụ ngộ độc.
Độc tố: chiếm 20-30% các vụ ngộ độc thực phẩm tập thể. Hơn 70 -80% thức ăn đường phố bị nhiễm khuẩn E. Nấm mốc (Aflatoxin) gây hư hỏng thực phẩm, và còn sản sinh ra các độc tố nguy hiểm. • Tác nhân hoá học: (chiếm 11 – 27 %) Chủ yếu là các chất hóa học CN-, As, Cl-, Hg, Pb, Benladol, hóa chất bảo quản thực phẩm,phụ gia dùng không đúng quy định, hóa chất bảo vệ thực vật,chất kích thích sinh trưởng.
Các độc tố tự nhiên có sẵn trong cá nóc, mầm khoai tây, sắn, măng. • Tác nhân vật lý: (9 – 13%) Bao gồm các mảnh thuỷ tinh, gỗ, kim loại, đá, sạn, xương, lông tóc và các vật lạ khác nhiễm vào thực phẩm gây nguy hại đáng kể, làm mẻ hoặc gẫy răng, tổn thương niêm mạc dạ dày,… Nguyễn Thị Hạnh -K18.1101 Trang3 Ngoài những nguyên nhân kể trên còn rất nhiều trường hơp ngộ độc mà không thể xác định được nguyên nhân.Nguyên nhân gây ngộ độc thực phẩm ở Việt Nam từ năm 2007 - 2011 Nguyên nhân (%) Năm Vi sinh vật Hóa chất Độc tố tự Không rõ nhiên nguyên nhân 2007 36,3 7,7 27 29 2008 7,8 0,5 25,4 66,3 2009 9,52 0,7 19 7,8 6/2010 38,2 5,2 25,4 21,2 2011 27,7 10,8 27 34,5 (Nguồn: Báo cáo của Cục quản lý chất lượng ATVSTP – Bộ Y tế) Giảm thiếu tình trạng ngộ độc thực phẩm cũng như bảo vệ sức khoẻ và quyền lợi người tiêu dùng thông qua việc tăng cường hệ thống quản lí chất lượng và hướng dẫn thực hành VSATTP cho cộng đồng là vấn đề rất cấp bách hiện nay. Hệ thống quản lý HACCP giúp cho các nhà sản xuất dịch vụ thực phẩm kiểm tra VSATTP một cách thuận lợi, nó là kĩ thuật cần thiết để tiền lượng ngăn chặn các mối nguy hiểm đối với thực phẩm. Vậy một hệ thống quản lí chất lượng như thế nào thì được coi là ATTP theo HACCP ? 1.
TÌM HIỂU VỀ HỆ THỐNG HACCP.[4] An toàn thực phẩm luôn là vấn đề quan trọng đối mọi người ở mọi quốc gia, tuy nhiên chỉ trong vài thập kỷ gần đây an toàn thực phẩm mới được quan tâm một cách đúng mức và kiểm soát tương đối có hiệu quả. Phương thức quản lý chất lượng truyền thống dựa trên việc kiểm tra chất lượng thành phẩm cuối cùng không đủ khả năng đảm bảo được chất lượng vệ sinh của thành phẩm cung cấp cho người tiêu dùng. Chỉ khi nào kiểm soát được một cách chủ động hệ thống các yếu tố chất lượng và điều kiện vệ sinh trong quá trình sản xuất, chế biến và cung ứng mới có khả năng đảm bảo an toàn thực phẩm. Một trong các hệ thống có thể kiểm soát chặt chẽ và có hiệu quả các quá trình trên là hệ thống HACCP.
Nguyễn Thị Hạnh -K18. Định nghĩa về hệ thống HACCP HACCP được viết tắt từ tiếng Anh “ Hazard Analasis Critical Control Points” là hệ thống quản lý chất lượng mang tính phòng ngừa, nhằm đảm bảo chất lượng và an toàn thực phẩm dựa trên việc phân tích mối nguy hại và xác định các biện pháp kiểm soát tại điểm kiểm soát tới hạn. HACCP kiểm soát và phòng ngừa các yếu tố gây hại đến sự an toàn thực phẩm thay vì chỉ kiểm tra sản phẩm cuối cùng. Hệ thống HACCP là hệ thống kiểm soát chất lượng toàn diện của thực phẩm dựa trên cơ bản hệ thống giám sát chất lượng của ISO (International Standard Organization).
HACCP là hệ thống phòng ngừa để kiểm soát các mối nguy, nó không phải là hệ thống đối phó mà hệ thống chủ động tích cực để làm cho thực phẩm trở nên an toàn hơn.Lịch sử hình thành Hệ thống HACCP áp dụng trong an toàn thực phẩm đầu tiên từ những năm 1960 ở công ty Pilsbury, các phòng thí nghiệm trong quân đội Mỹ ở Natric và NaSa trong khuôn khổ chế tạo thực phẩm nhằm cung cấp thực phẩm an toàn 100% cho các nhà du hành vũ trụ trong các trương trình vũ trụ của Mỹ, NaSa – cơ quan hàng không vũ trụ Mỹ đã đưa ra các nguyên tắc và các bước thực hiện ý tưởng trên và đó chính là nền móng của hệ thống HACCP. Năm 1971, Công ty Plisbury đã trình bày khái niệm về HACCP tại Hội nghị về an toàn thực phẩm. Sau đó, khái niệm này được áp dụng rộng rãi trong ngành công nghiệp thực phẩm. Năm 1974 Cơ quan Dược phẩm và Thực phẩm của Mỹ đã đưa HACCP vào trong quy chế về thực phẩm đóng hộp ở môi trường axit thấp.
Trong những năm 80, nhiều công ty thực phẩm lớn đã áp dụng hệ thống HACCP. Năm 1985 Viện hàn lâm khoa học Quốc gia Hoa Kỳ (NAS) khuyến nghị tất cả các cơ quan có thẩm quyền nên chấp nhận và tiếp cận với hệ thống kiểm tra giám sát an toàn thực phẩm HACCP. Ngày nay, rất nhiều tổ chức như: Tổ chức Quốc tế về các tiêu chuẩn vi sinh cho thực phẩm (ICMSF), tổ chức Quốc tế về Sữa, Thực phẩm và Vệ sinh môi trường (JAMFES) khuyến khích việc áp dụng HACCP. Uỷ ban tiêu chuẩn hoá và Quốc tế về thực phẩm( Codex Alimentarisu Commission- CAC) gần đây đã và đang khuyến khích thực thi các hệ thống HACCP trong lĩnh vực công nghiệp thực phẩm đã tiến hành soạn thảo những tiêu chuẩn áp dụng HACCP để thực hiện trong các nước hội viên.
Nguyễn Thị Hạnh -K18. Ý nghĩa của việc áp dụng HACCP + HACCP là cách tiếp cận bao quát tất cả các phương diện của ATTP từ nguyên liệu thô, quy trình sản xuất cho đến sản phẩm cuối cùng. + Việc áp dụng HACCP sẽ giúp chuyển từ việc chỉ kiểm tra sản phẩm cuối cùng sang tiếp cận phòng ngừa các nguy hại trong từng giai đoạn của qui trình sản xuất nhằm đảm bảo ATTP. + Nghiên cứu ứng dụng HACCP đúng đắn phải xác định dược những nguy hại bao gồm cả những nguy hại có thể dự báo được trong thực tế.
+ HACCP cung cấp các cơ chế kiểm soát nhanh và dễ giám sát. + HACCP nhấn mạnh vào giám sát các điểm kiểm soát trọng yếu cho người trực tiếp chế biến thực phẩm. + Việc áp dụng HACCP là tiền đề cho việc áp dụng các hệ thống bảo đảm chất lượng khác về hệ thống tiêu chuẩn ISO 9000. Tình hình áp dụng hệ thống HACCP.
+ Trên thế giới Hiện nay trên thế giới, nhiều quốc gia như: Mỹ, Úc, Canada, Singapo,.