Tổng quan luận án
Công trình "Pháp luật về bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng trong lĩnh vực an toàn, vệ sinh thực phẩm ở Việt Nam hiện nay" được tác giả Phạm Văn Hảo thực hiện dưới dạng luận án tiến sĩ luật học, chuyên ngành Luật Kinh tế (mã số 62.07), tại Học viện Khoa học Xã hội thuộc Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam vào năm 2017, dưới sự hướng dẫn khoa học của TS. Trần Quang Huy và TS. Đặng Vũ Huân.
Về tính cấp thiết, văn bản xác định người tiêu dùng (NTD) là một bên trong quan hệ thương mại, dân sự với vai trò người tiêu thụ sản phẩm hàng hóa hoặc dịch vụ, nhưng luôn ở vị thế yếu hơn và có nguy cơ gánh chịu rủi ro, thiệt hại. Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng (BVQLNTD) được Quốc hội thông qua ngày 17/11/2010 (có hiệu lực từ ngày 01/7/2011), song quyền lợi của NTD vẫn đứng trước nguy cơ bị xâm phạm, nhất là trong lĩnh vực an toàn, vệ sinh thực phẩm (ATVSTP). Tình trạng ngộ độc thực phẩm có chiều hướng gia tăng; hoạt động sản xuất, kinh doanh thực phẩm ở Việt Nam cơ bản vẫn nhỏ lẻ, quy mô hộ gia đình gây khó khăn cho kiểm soát. Bên cạnh đó, công tác quản lý nhà nước bộc lộ sự chồng chéo, đùn đẩy trách nhiệm, thiếu chế tài đủ mạnh để ngăn chặn, xử phạt và bồi thường thỏa đáng cho NTD. Do đó, việc hoàn thiện pháp luật về BVQLNTD trong lĩnh vực ATVSTP trở thành nhu cầu cấp bách.
Khoảng trống nghiên cứu được chỉ ra là sự thiếu vắng các công trình nghiên cứu hệ thống, trực diện về pháp luật BVQLNTD trong lĩnh vực ATVSTP. Các công trình trước đây phần lớn nghiên cứu tách biệt giữa hai mảng pháp luật hoặc chỉ tiếp cận dưới góc độ kỹ thuật quản lý, chưa gắn kết cơ chế bảo vệ bên yếu thế với các đặc thù của giao dịch thực phẩm.
Mục đích nghiên cứu của luận án là làm rõ lý luận pháp luật và thực trạng pháp luật về BVQLNTD trong lĩnh vực ATVSTP ở Việt Nam hiện nay, từ đó đề xuất phương hướng, giải pháp hoàn thiện pháp luật và cơ chế thực hiện pháp luật trong thời gian tới. Luận án xác định 3 nhiệm vụ cụ thể:
- Một là, nghiên cứu làm sáng tỏ những vấn đề lý luận pháp luật về BVQLNTD trong lĩnh vực ATVSTP.
- Hai là, phân tích, đánh giá toàn diện thực trạng pháp luật về BVQLNTD trong lĩnh vực ATVSTP ở Việt Nam trên cơ sở so sánh với pháp luật một số quốc gia.
- Ba là, đề xuất, kiến nghị các giải pháp hoàn thiện pháp luật và cơ chế thực hiện pháp luật theo hướng đồng bộ, khả thi, hiệu quả.
Hệ thống câu hỏi nghiên cứu gồm 3 câu:
- (i) Tại sao phải BVQLNTD trong lĩnh vực ATVSTP?
- (ii) Các quy định pháp luật và việc tổ chức thực hiện pháp luật ở Việt Nam hiện nay đã đáp ứng được yêu cầu bảo vệ quyền lợi NTD trong lĩnh vực ATVSTP hay chưa?
- (iii) Làm thế nào để bảo vệ hiệu quả quyền lợi của NTD trong lĩnh vực ATVSTP ở điều kiện nước ta hiện nay?
Hệ thống giả thuyết nghiên cứu gồm 3 giả thuyết tương ứng:
- (i) ATVSTP có ý nghĩa quan trọng với sức khỏe, tính mạng con người, quá trình hội nhập và phát triển kinh tế, cũng như sự phát triển của giống nòi. Tuy nhiên, hiện nay quyền của NTD thực phẩm chưa thực sự được bảo vệ và tiếp tục có nguy cơ bị xâm hại.
- (ii) Các quy định của pháp luật về BVQLNTD trong lĩnh vực ATVSTP còn hạn chế và bất cập, chưa đáp ứng được yêu cầu BVQLNTD thực phẩm. Việc thực thi pháp luật về BVQLNTD thực phẩm ở nước ta hiện nay bị ảnh hưởng bởi điều kiện kinh tế - xã hội, tập quán, nhận thức xã hội, khả năng của các chủ thể áp dụng pháp luật nên NTD thực phẩm gặp khó khăn trong việc bảo vệ quyền lợi của mình.
- (iii) Muốn BVQLNTD thực phẩm ở Việt Nam hiệu quả, thì cần có giải pháp toàn diện từ chủ trương, chính sách, pháp luật, đến cơ chế thực hiện pháp luật phù hợp và sự vào cuộc của toàn xã hội trong đó có chính NTD.
Về đối tượng nghiên cứu, luận án tập trung vào các vấn đề lý luận và thực tiễn các quy định pháp luật về BVQLNTD trong lĩnh vực ATVSTP. Phạm vi nghiên cứu về nội dung là các vấn đề lý luận, thực trạng pháp luật về BVQLNTD được soi chiếu trong lĩnh vực ATVSTP, không nghiên cứu riêng rẽ từng lĩnh vực. Phạm vi không gian là cả nước Việt Nam có tham khảo kinh nghiệm quốc tế; phạm vi thời gian nghiên cứu thực hiện trong 3 năm (2014 đến 2017).
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Tác giả phân loại và điểm luận các công trình nghiên cứu trước đây theo 5 nhóm vấn đề chính:
Nhóm 1: Các nghiên cứu về quyền của NTD và sự cần thiết BVQLNTD trong lĩnh vực ATVSTP. Tác giả Nguyễn Trọng Điệp nghiên cứu định nghĩa NTD tại Đài Loan, Ấn Độ, Malaysia, xác định điểm chung là đối tượng thụ hưởng sản phẩm cuối cùng vì mục đích sinh hoạt riêng phi thương mại. Nguyễn Thị Thư tiếp cận NTD dưới góc độ pháp lý là bên yếu thế cần được bảo vệ. Về các quyền cơ bản của NTD theo công bố của Liên Hợp Quốc và Tổ chức Quốc tế người tiêu dùng (CI), các công trình của Nguyễn Thị Vân Anh, Nguyễn Mạnh Hà, Trần Mai Vân, Đoàn Thị Hường và tài liệu của Viện Luật Châu Á - Đại học Quốc gia Singapore (2011) đều khẳng định tính tất yếu của việc bảo vệ tính mạng, sức khỏe NTD trước thực phẩm kém chất lượng.
Nhóm 2: Các nghiên cứu về khái niệm, đặc điểm, cấu trúc pháp luật BVQLNTD trong lĩnh vực ATVSTP. Luận án tiến sĩ của Nguyễn Thị Thư xác định cấu trúc pháp luật BVQLNTD gồm 7 nội dung (quyền và nghĩa vụ NTD; trách nhiệm nhà cung cấp; cơ chế giải quyết tranh chấp; trách nhiệm tổ chức xã hội; trách nhiệm quản lý nhà nước; kiểm soát điều khoản giao dịch không công bằng; hành vi bị cấm và chế tài xử lý). Phạm Thị Hồng Yến phân tích quy định pháp lý về sản xuất, kinh doanh, xuất nhập khẩu, kiểm nghiệm và thanh tra ATVSTP. Đặng Công Hiến đánh giá hình thức và nội dung pháp luật kiểm soát ATVSTP trong hoạt động thương mại. Tác giả luận án nhận định các nghiên cứu này còn thiếu vắng việc kết hợp trực diện giữa cấu trúc pháp luật BVQLNTD với lĩnh vực ATVSTP.
Nhóm 3: Các nghiên cứu về pháp luật BVQLNTD trong lĩnh vực ATVSTP của thế giới. Đề tài của Nguyễn Văn Thành khảo sát pháp luật tại Thái Lan, Trung Quốc, Ấn Độ, Mỹ, Úc, EU, Canada, Hàn Quốc, Malaysia, Singapore, Đài Loan, Nhật Bản. Nguyễn Thị Vân Anh nghiên cứu vai trò hội bảo vệ NTD ở Mỹ và Châu Á. Báo cáo tổng kết năm 2009 của Bộ Y tế đúc kết 5 nguyên tắc xây dựng pháp luật ATVSTP quốc tế: khuyến khích cạnh tranh, quan tâm đầu ra, thỏa mãn nhu cầu xã hội, phòng ngừa hơn cứu chữa, phân quyền trong quản lý.
Nhóm 4: Các nghiên cứu về hoạt động kiểm soát ATVSTP. Nhóm nghiên cứu tiêu chuẩn kỹ thuật (Phạm Thị Hồng Yến, Phạm Duy Tường) chỉ ra thực trạng thiếu hụt quy chuẩn: trong hàng chục ngàn loại thực phẩm lưu thông năm 2009, mới có gần 500 TCVN liên quan đến ATVSTP dù đã rà soát hơn 1300 tiêu chuẩn nông nghiệp. Nhóm tác giả khác chỉ ra sự thiếu khả thi dẫn đến các điều khoản bị "treo" trong Luật An toàn thực phẩm và Bộ luật Hình sự.
Nhóm 5: Các nghiên cứu về thiết chế thực thi và cơ chế giải quyết tranh chấp. A. Brooke Overby và Nguyễn Văn Cương phân tích mô hình thiết chế tại Bắc Mỹ và Nhật Bản. Về tài phán, Bùi Nguyên Khánh và Nguyễn Trọng Điệp chỉ rõ rào cản khiến các vụ việc vi phạm ít được đưa ra Tòa án. Đinh Thế Hưng phân tích hạn chế của Bộ luật Hình sự khi chưa coi "dịch vụ" là đối tượng tác động của tội phạm xâm phạm quyền lợi NTD. Khảo sát của Cục Quản lý cạnh tranh và điều tra năm 2016 của Viện Khoa học pháp lý (Bộ Tư pháp) tại 5 tỉnh/thành phố phản ánh thực trạng cơ chế thực thi tại cơ sở.
Từ tổng quan, luận án xác định khoảng trống lựa chọn giải quyết: xây dựng hệ thống lý luận hoàn chỉnh về pháp luật BVQLNTD trong lĩnh vực ATVSTP; đánh giá cơ chế thực thi đặc thù về khả năng chứng minh lỗi, kiểm soát, khiếu nại; làm rõ mối quan hệ giữa các chế tài dân sự, hành chính, hình sự nhằm bảo đảm quyền con người theo tinh thần Hiến pháp năm 2013.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Luận án vận dụng 4 cơ sở lý thuyết và quan điểm nền tảng:
- Lý thuyết về vị trí, vai trò của NTD trong nền kinh tế thị trường: Xuất phát từ phát biểu của Tổng thống Mỹ John F. Kennedy ngày 15/3/1962 tại Thượng viện Mỹ và tuyên bố của Liên Hợp Quốc về Ngày Quyền của NTD thế giới, khẳng định NTD là lực lượng đông đảo chi phối cung cầu, nếu không có tiêu dùng thì sản xuất không thể tồn tại.
- Lý thuyết về kiểm soát thực phẩm an toàn nhằm bảo đảm quyền sống: Dựa trên Tuyên bố Hội nghị quốc tế về dinh dưỡng (Rome, 1992) của WHO và FAO ("tiếp cận với thực phẩm đầy đủ dinh dưỡng và an toàn là một quyền cá nhân của tất cả người tiêu dùng") và chủ đề Ngày Sức khỏe Thế giới 7/4/2015 của WHO về an toàn thực phẩm.
- Lý thuyết thông tin bất cân xứng (Asymmetric Information): Vận dụng công trình nghiên cứu thị trường của George Akerlof, Michael Spence và Joseph Stiglitz (đoạt giải Nobel Kinh tế năm 2001) để giải thích thế yếu của NTD khi thiếu thông tin về chất lượng thực phẩm, dẫn đến nguy cơ thất bại thị trường và đòi hỏi Nhà nước phải can thiệp bằng pháp luật.
- Quan điểm, chủ trương của Đảng và chính sách của Nhà nước Việt Nam: Bao gồm Hiến pháp năm 2013 (Điều 34, 38, 43, 59); Chỉ thị 08-CT/TW năm 2011 và Kết luận 11-KL/TW năm 2017 của Ban Bí thư; Nghị quyết 46-NQ/TW năm 2005 và Kết luận 43-KL/TW của Bộ Chính trị; Nghị quyết 34/2009/NQ-QH12 của Quốc hội; Nghị quyết 48-NQ/TW; Quyết định 20/QĐ-TTg năm 2012 của Thủ tướng Chính phủ về Chiến lược quốc gia ATVSTP giai đoạn 2011-2020, tầm nhìn 2030.
Về phương pháp luận, luận án tiếp cận dựa trên chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đồng thời triển khai 3 cách tiếp cận:
- Phương pháp tiếp cận hệ thống: Đặt quy định pháp luật BVQLNTD trong mối tương quan chỉnh thể với pháp luật an toàn thực phẩm, dân sự, hành chính, hình sự.
- Phương pháp tiếp cận đa ngành và liên ngành: Kết hợp khoa học pháp lý với kinh tế học, xã hội học, tâm lý học, luật học so sánh.
- Phương pháp tiếp cận dựa trên quyền: Lấy quyền con người, trong đó quyền được bảo đảm an toàn tính mạng, sức khỏe làm trung tâm để soi chiếu trách nhiệm của Nhà nước và thương nhân.
Các phương pháp nghiên cứu cụ thể gồm:
- Phương pháp thống kê và hệ thống hóa: Phân loại, tổng hợp tài liệu thứ cấp, văn bản quy phạm pháp luật ở Chương 1, Chương 2, Chương 3.
- Phương pháp phân tích, tổng hợp: Luận giải mối liên hệ giữa lý luận và thực trạng thực thi, làm cơ sở xây dựng giải pháp ở Chương 4.
- Phương pháp so sánh luật: Đối chiếu pháp luật Việt Nam với các hướng dẫn quốc tế (LHQ, WHO, FAO) và luật thực định của Hoa Kỳ, EU, Trung Quốc, Nhật Bản, Thái Lan, Malaysia, Ấn Độ, Đài Loan.
- Phương pháp nghiên cứu tình huống: Khảo sát các vụ việc vi phạm cụ thể trên thực tế ở Chương 3 để làm rõ tính khả thi của quy định pháp luật.
Nguồn tư liệu và dữ liệu gồm hệ thống văn bản quy phạm pháp luật của Việt Nam và quốc tế; số liệu điều tra cơ bản của Viện Khoa học pháp lý (Bộ Tư pháp) năm 2016 tại 5 tỉnh/thành phố; số liệu khảo sát của Cục Quản lý cạnh tranh; báo cáo thực hiện pháp luật ATVSTP của Bộ Y tế năm 2009; số liệu giám sát 24.046 mẫu thức ăn đường phố của các Chi cục ATVSTP; kết quả điều tra nhiễm khuẩn bàn tay người chế biến tại 11 địa phương; dữ liệu tranh chấp tại Trung tâm Trọng tài Quốc tế Việt Nam (VIAC) giai đoạn 2010-2016 và báo cáo khiếu nại tiêu dùng 4 tháng đầu năm 2017.
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu và cơ sở lý thuyết nghiên cứu
Chương 1 hệ thống hóa các tài liệu khoa học theo 5 nhóm vấn đề, đánh giá kết quả đạt được và chỉ rõ những hạn chế của các công trình đi trước. Tác giả luận giải việc kế thừa các khái niệm nền tảng về NTD, các quyền cơ bản theo hướng dẫn của Liên Hợp Quốc, kinh nghiệm quản lý ATVSTP quốc tế; đồng thời xác định nhiệm vụ nghiên cứu tiếp theo là xây dựng cơ sở lý luận riêng cho lĩnh vực BVQLNTD thực phẩm. Chương này thiết lập khung lý thuyết gồm 4 lý thuyết và quan điểm nền tảng, công bố 3 câu hỏi nghiên cứu và 3 giả thuyết nghiên cứu làm kim chỉ nam cho toàn bộ luận án.
Chương 2: Những vấn đề lý luận pháp luật về bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng trong lĩnh vực an toàn, vệ sinh thực phẩm
Chương này tập trung làm rõ khái niệm, sự cần thiết và cấu trúc quyền của NTD thực phẩm:
- Khái niệm NTD: Phân tích so sánh pháp luật quốc tế. Chỉ thị 1999/44/EC của Liên minh Châu Âu, án lệ Tòa Công lý Châu Âu năm 1991, luật pháp Hoa Kỳ và Điều 2 Luật BVQLNTD năm 1993 của Trung Quốc đều quy định NTD chỉ là thể nhân (cá nhân) mua sắm ngoài mục đích kinh doanh, nghề nghiệp. Ngược lại, luật Đài Loan (1994, sửa đổi 2005) và Điều 2 Đạo luật Bảo vệ NTD năm 1986 của Ấn Độ công nhận cả tổ chức. Đánh giá Khoản 1 Điều 3 Luật BVQLNTD năm 2010 của Việt Nam ("người mua, sử dụng hàng hóa, dịch vụ cho mục đích tiêu dùng sinh hoạt của cá nhân, gia đình, tổ chức"), tác giả phân tích hai luồng ý kiến và khẳng định thông lệ quốc tế hợp lý là chỉ nên giới hạn NTD là cá nhân để tập trung nguồn lực bảo vệ đối tượng thực sự yếu thế.
- Mối quan hệ giữa ATVSTP và chất lượng thực phẩm: ATVSTP là điều kiện tiên quyết, cốt lõi nhưng chất lượng thực phẩm mang nội hàm rộng hơn (bao gồm dinh dưỡng, cảm quan, mùi vị, cam kết thương mại).
- Sự cần thiết bảo vệ: Luận chứng qua 5 khía cạnh: (1) Bảo đảm quyền con người, quyền an toàn tính mạng, sức khỏe theo Hiến pháp 2013; (2) Thiết lập sự công bằng, bình đẳng trong quan hệ tiêu dùng; (3) Thúc đẩy kinh tế thị trường lành mạnh và hội nhập quốc tế; (4) Giảm thiểu chi phí y tế và ngăn chặn suy giảm nguồn nhân lực; (5) Bảo đảm an ninh con người và an sinh xã hội.
- Bốn nhóm quyền trung tâm của NTD thực phẩm: (1) Quyền được bảo đảm an toàn tính mạng, sức khỏe (quyền cốt lõi, quan trọng nhất); (2) Quyền được cung cấp thông tin trung thực, chính xác; (3) Quyền được khiếu nại, tố cáo, khởi kiện, yêu cầu bồi thường thiệt hại; (4) Quyền được tư vấn, hỗ trợ, hướng dẫn kiến thức tiêu dùng an toàn.
- Sáu yếu tố tác động: (1) Kiến thức, kỹ năng tiêu dùng; (2) Nhận thức về quyền của bản thân và cộng đồng; (3) Thói quen tiêu dùng (chuộng thực phẩm tươi sống, ăn tái, sử dụng thức ăn đường phố, mua sắm chợ cóc); (4) Điều kiện kinh tế - xã hội và trình độ công nghệ; (5) Ý thức tuân thủ của nhà sản xuất, kinh doanh; (6) Năng lực của cơ quan quản lý nhà nước.
- Đặc điểm pháp luật: Gắn liền trực tiếp với chu trình sản xuất, chế biến, lưu thông thực phẩm; mang tính liên ngành tổng hợp cao, kết hợp chặt chẽ giữa quy phạm dân sự, kinh tế, hành chính và hình sự.
Chương 3: Thực trạng pháp luật và thực hiện pháp luật về bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng trong lĩnh vực an toàn, vệ sinh thực phẩm ở Việt Nam hiện nay
Chương 3 khảo sát thực trạng quy định pháp luật và thực tiễn thực hiện giai đoạn 2014-2017:
- Thực trạng quy định: Pháp luật đã hình thành khung cơ bản (Luật BVQLNTD 2010, Luật An toàn thực phẩm 2010, Luật Chất lượng sản phẩm, hàng hóa, Nghị định xử phạt vi phạm hành chính, BLHS, BLDS). Tuy nhiên, các quy định còn thiếu đồng bộ; trách nhiệm sản phẩm chưa nghiêm ngặt; gánh nặng chứng minh lỗi và thiệt hại thuộc về NTD còn quá lớn; thiếu vắng các quy định cụ thể bảo vệ quyền lợi trong dịch vụ ăn uống.
- Thực trạng thực hiện pháp luật: Tác giả sử dụng các bảng biểu, dữ liệu điều tra thực chứng để đánh giá mức độ vi phạm và năng lực bộ máy:
| Nhóm dữ liệu / Chỉ số thực trạng |
Phạm vi và nguồn số liệu trong luận án |
Kết quả và phát hiện chính |
| Giám sát thức ăn đường phố (TĂĐP) |
24.046 mẫu do Chi cục ATVSTP các tỉnh, thành phố thực hiện |
Tỷ lệ mẫu không đạt tiêu chuẩn an toàn vi sinh và hóa học còn ở mức cao; kiểm soát nguồn nguyên liệu gặp khó khăn. |
| Nhiễm khuẩn bàn tay người chế biến |
Khảo sát tại 11 địa phương |
Tỷ lệ vi sinh vật gây hại trên bàn tay người trực tiếp chế biến thức ăn đường phố phổ biến, phản ánh điều kiện vệ sinh kém. |
| Xử lý vi phạm hành chính ATVSTP |
Báo cáo cơ quan chức năng qua các năm |
Số vụ xử phạt tăng nhưng chủ yếu dừng ở mức phạt tiền thấp, biện pháp khắc phục hậu quả chưa triệt để, thiếu tính răn đe. |
| Phản ứng của NTD khi quyền lợi bị xâm hại |
Khảo sát xã hội học của cơ quan quản lý |
Đa số NTD lựa chọn im lặng, tự chịu thiệt hại hoặc tẩy chay cá nhân; tỷ lệ gửi đơn khiếu nại, khởi kiện rất thấp do e ngại thủ tục. |
| Khiếu nại của người tiêu dùng |
Báo cáo tổng hợp 4 tháng đầu năm 2017 |
Trách nhiệm giải quyết khiếu nại của tổ chức, cá nhân kinh doanh bị đánh giá không tốt; thiếu thiện chí bồi thường. |
| Giải quyết tranh chấp tại Trọng tài |
Dữ liệu Trung tâm Trọng tài Quốc tế Việt Nam - VIAC (2010-2016) |
Gần như không có tranh chấp tiêu dùng thực phẩm được giải quyết qua VIAC; phương thức giải quyết qua cơ quan tài phán không phát huy hiệu quả với NTD nhỏ lẻ. |
Phân tích tổ chức bộ máy cho thấy mô hình phân tán quản lý ATVSTP giữa 3 Bộ (Y tế, Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Công Thương) theo Sơ đồ Hình 3.1 bộc lộ sự chia cắt chuỗi thực phẩm "từ trang trại đến bàn ăn", phát sinh kẽ hở quản lý và đùn đẩy trách nhiệm. Vai trò của tổ chức xã hội (VINASTAS) còn mang tính hình thức, thiếu nguồn lực và tư cách đại diện tố tụng độc lập.
Chương 4: Định hướng và giải pháp hoàn thiện pháp luật về bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng trong lĩnh vực an toàn, vệ sinh thực phẩm ở Việt Nam
Chương 4 đưa ra các định hướng và giải pháp cụ thể:
- Định hướng: Thể chế hóa chủ trương của Đảng và quy định của Hiến pháp năm 2013 về quyền con người; bảo đảm tính thống nhất, đồng bộ với các cam kết quốc tế; cân bằng giữa tự do kinh doanh và quyền được bảo vệ an toàn tính mạng, sức khỏe của cộng đồng.
- Giải pháp hoàn thiện pháp luật:
- Sửa đổi Điều 3 Luật BVQLNTD năm 2010 theo hướng giới hạn NTD chỉ là cá nhân mua, sử dụng hàng hóa, dịch vụ cho mục đích sinh hoạt.
- Quy định rõ trách nhiệm bồi thường thiệt hại do sản phẩm thực phẩm khuyết tật theo nguyên tắc trách nhiệm nghiêm ngặt (strict liability), chuyển nghĩa vụ chứng minh lỗi sang thương nhân sản xuất, kinh doanh.
- Hoàn thiện chế tài xử phạt hành chính trong lĩnh vực ATVSTP theo hướng tăng mức tiền phạt, áp dụng hình phạt bổ sung tước giấy phép vĩnh viễn với hành vi cố ý tái phạm; sửa đổi Bộ luật Hình sự để bổ sung "dịch vụ ăn uống không an toàn" vào cấu thành tội phạm liên quan đến quyền lợi NTD.
- Giải pháp nâng cao hiệu quả thực thi:
- Tái cơ cấu hệ thống cơ quan quản lý nhà nước: Luận án đề xuất xây dựng mô hình thống nhất đầu mối quản lý theo Sơ đồ Hình 4.1 (trang 136), tích hợp chức năng quản lý nhà nước về ATVSTP, Quản lý thị trường và BVQLNTD vào một cơ quan chuyên trách duy nhất để kiểm soát toàn bộ chuỗi cung ứng.
- Tăng cường trang thiết bị kỹ thuật kiểm nghiệm, bố trí ngân sách và nâng cao năng lực chuyên môn cho lực lượng thanh tra chuyên ngành.
- Nâng cao năng lực và vị thế pháp lý của các tổ chức xã hội tham gia BVQLNTD (như VINASTAS), cho phép đại diện khởi kiện tập thể vì lợi ích công cộng.
- Đẩy mạnh tuyên truyền pháp luật, vận động nhân dân xóa bỏ thói quen tiêu dùng thực phẩm thiếu an toàn, hình thành văn hóa tiêu dùng văn minh.
Kết quả và những đóng góp mới
Về mặt lý luận, luận án làm sáng tỏ khái niệm, đặc điểm, nội dung, nguyên tắc của pháp luật BVQLNTD trong lĩnh vực ATVSTP; xác lập vị trí trung tâm của quyền được an toàn tính mạng, sức khỏe trong hệ thống các quyền của NTD thực phẩm; phân tích và khẳng định sự cần thiết phải giới hạn chủ thể NTD là cá nhân theo thông lệ quốc tế.
Về mặt thực tiễn, luận án đánh giá toàn diện thực trạng pháp luật và tổ chức thực hiện tại Việt Nam giai đoạn 2014-2017 thông qua nguồn dữ liệu thực chứng (khảo sát thức ăn đường phố, thực trạng giải quyết tranh chấp tại VIAC, báo cáo điều tra cơ bản tại 5 tỉnh/thành phố); chỉ rõ các điểm nghẽn về gánh nặng chứng minh lỗi, sự bất cập của chế tài hình sự và sự phân tán trong cơ chế quản lý đa ngành.
Về mặt giải pháp, luận án đề xuất các sửa đổi cụ thể cho Luật BVQLNTD năm 2010, Luật An toàn thực phẩm và Bộ luật Hình sự; đặc biệt đưa ra sơ đồ mô hình hợp nhất cơ quan quản lý nhà nước về ATVSTP, Quản lý thị trường và BVQLNTD nhằm giải quyết tình trạng chồng chéo thẩm quyền.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Về mặt hạn chế, luận án giới hạn phạm vi nghiên cứu các vấn đề chung về cơ sở lý luận và thực trạng pháp luật BVQLNTD được soi chiếu trong lĩnh vực ATVSTP, không nghiên cứu sâu các quy chuẩn kỹ thuật chuyên ngành cho từng nhóm thực phẩm cụ thể hay quy trình kiểm nghiệm sinh hóa. Dữ liệu thực nghiệm bị khống chế trong mốc thời gian từ năm 2014 đến đầu năm 2017, và khảo sát cơ bản tập trung ở 5 tỉnh/thành phố cùng 11 địa phương điều tra mẫu bàn tay người chế biến.
Về hướng nghiên cứu tiếp, các nghiên cứu tương lai cần theo dõi quá trình sửa đổi Luật BVQLNTD năm 2010 và Luật An toàn thực phẩm giai đoạn sau năm 2017; nghiên cứu chuyên sâu cơ chế tố tụng tập thể (class action) của các hội bảo vệ NTD trong các vụ ngộ độc thực phẩm quy mô lớn; đồng thời đánh giá tác động kinh tế - xã hội khi triển khai mô hình cơ quan quản lý thực phẩm thống nhất trên thực tế.
Giá trị tham khảo
Luận án có giá trị tham khảo đối với các nhóm đối tượng và hoạt động sau:
- Cơ quan lập pháp và cơ quan tham mưu chính sách (Quốc hội, Bộ Tư pháp, Bộ Công Thương, Bộ Y tế): Sử dụng luận cứ và kiến nghị tại Chương 4 để sửa đổi, bổ sung Luật BVQLNTD, Luật An toàn thực phẩm, các nghị định xử phạt vi phạm hành chính và quy định pháp luật hình sự.
- Cơ quan quản lý nhà nước và thực thi pháp luật (Chi cục ATVSTP, Thanh tra chuyên ngành, lực lượng Quản lý thị trường): Tham khảo mô hình sơ đồ quản lý thống nhất (Hình 4.1) và các phát hiện thực tế về kiểm soát thức ăn đường phố, cơ sở chế biến nông sản tại Chương 3.
- Cơ quan tài phán (Tòa án, Trọng tài thương mại) và Tổ chức xã hội (VINASTAS): Sử dụng phân tích về cơ chế chuyển đổi nghĩa vụ chứng minh lỗi, kinh nghiệm giải quyết tranh chấp để hỗ trợ NTD bảo vệ quyền lợi.
- Giảng viên, nghiên cứu sinh, học viên cao học chuyên ngành Luật Kinh tế, Luật Dân sự, Quản lý công: Làm tài liệu học tập, giảng dạy chuyên đề về bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng và pháp luật an toàn thực phẩm.
Câu hỏi thường gặp
1. Theo luận án, khái niệm người tiêu dùng trong Luật BVQLNTD năm 2010 có điểm bất cập gì và tác giả đề xuất sửa đổi ra sao?
Khoản 1 Điều 3 Luật BVQLNTD năm 2010 quy định NTD bao gồm cả "cá nhân, gia đình, tổ chức". Tác giả chỉ ra quy định này không phù hợp với thông lệ quốc tế (như EU, Hoa Kỳ, Trung Quốc) và làm phân tán nguồn lực bảo vệ. Tổ chức vốn có vị thế đàm phán bình đẳng, đủ năng lực tự bảo vệ thông qua hợp đồng thương mại và luật chuyên ngành. Luận án đề xuất sửa đổi theo hướng thu hẹp khái niệm NTD chỉ bao gồm cá nhân mua, sử dụng hàng hóa, dịch vụ cho mục đích sinh hoạt không nhằm mục đích thương mại.
2. Quyền nào của người tiêu dùng thực phẩm được luận án xác định là quyền giữ vị trí trung tâm?
Quyền được bảo đảm an toàn tính mạng, sức khỏe được xác định là quyền quan trọng nhất và giữ vị trí trung tâm. Lý do là vì khi thực phẩm có khuyết tật hoặc mất an toàn, tác động trực tiếp và ngay lập tức hoặc tích tụ lâu dài tới thể chất, tính mạng con người. Các quyền khác như quyền được thông tin, quyền lựa chọn, quyền khiếu nại và bồi thường đều đóng vai trò bổ trợ để thực thi quyền an toàn này.
3. Những cơ sở lý thuyết nào được tác giả sử dụng làm nền tảng phân tích?
Tác giả sử dụng 4 cơ sở: Lý thuyết về vị trí, vai trò của NTD trong nền kinh tế thị trường (khởi nguồn từ thông điệp năm 1962 của Tổng thống Mỹ John F. Kennedy); Lý thuyết về kiểm soát thực phẩm an toàn nhằm bảo đảm quyền sống (Tuyên bố Rome 1992 của FAO/WHO và thông điệp Ngày Sức khỏe Thế giới 2015 của WHO); Lý thuyết thông tin bất cân xứng của Akerlof, Spence và Stiglitz (Nobel Kinh tế 2001); cùng hệ thống quan điểm, chủ trương của Đảng và chính sách pháp luật của Nhà nước Việt Nam (Hiến pháp 2013, Chỉ thị 08-CT/TW, Nghị quyết 46-NQ/TW).
4. Bất cập lớn nhất trong hệ thống tổ chức quản lý nhà nước về ATVSTP được luận án chỉ ra là gì?
Bất cập lớn nhất là mô hình phân tán quyền lực giữa 3 cơ quan: Bộ Y tế, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Bộ Công Thương (thể hiện qua Sơ đồ Hình 3.1). Sự phân chia theo nhóm mặt hàng và công đoạn dẫn đến tình trạng chồng chéo hoặc khoảng trống quản lý, cắt khúc chuỗi cung ứng thực phẩm từ sản xuất đến tiêu thụ, gây ra hiện tượng đùn đẩy trách nhiệm khi xảy ra ngộ độc thực phẩm.
5. Tại sao người tiêu dùng thực phẩm ở Việt Nam ít khởi kiện thương nhân ra Tòa án khi bị xâm phạm quyền lợi?
Theo kết quả khảo sát và phân tích tại Chương 3, nguyên nhân chủ yếu do giá trị giao dịch thực phẩm thường nhỏ; chi phí, thời gian theo đuổi vụ kiện tại Tòa án hoặc Trọng tài lớn; thủ tục tố tụng phức tạp. Đặc biệt, nghĩa vụ chứng minh mối quan hệ nhân quả giữa việc sử dụng thực phẩm với thiệt hại sức khỏe thuộc về NTD là rào cản kỹ thuật rất lớn đối với cá nhân đơn lẻ.
Kết luận
Luận án tiến sĩ của tác giả Phạm Văn Hảo là công trình khoa học pháp lý nghiên cứu chuyên sâu về cơ chế bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng trong lĩnh vực an toàn, vệ sinh thực phẩm tại Việt Nam. Bằng việc kết hợp lý luận quyền con người, lý thuyết thông tin bất cân xứng với khảo sát thực tiễn giai đoạn 2014-2017, tác giả đã làm rõ các điểm nghẽn lập pháp và tổ chức thi hành pháp luật. Đóng góp nổi bật của luận án là đề xuất mô hình thống nhất cơ quan quản lý ATVSTP và quản lý thị trường, cùng các giải pháp sửa đổi luật thực định nhằm giảm gánh nặng chứng minh cho người tiêu dùng. Kết quả nghiên cứu cung cấp cơ sở dữ liệu và luận cứ khoa học có giá trị cho công tác lập pháp, đào tạo luật học và thực thi chính sách an toàn thực phẩm.